| Khủng hoảng ở Myanmar và báo chí Việt Nam Tan Van Nguyên Hân – Tin tổng hợp Đảng đối lập với chế độ quân phiệt đang cầm quyền ở Myanmar lên tiếng: “Sẵn sàng đối thoại. Nhưng, miễn áp đặt điều kiện”. Đảng đối lập ở Myanmar hôm qua lên tiếng ủng hộ sự đối thoại giữa chính quyền quân phiệt và nhà lănh đạo đấu tranh đ̣i dân chủ của họ, bà Aung San Suu Kyi. Nhưng họ khẳng định là họ sẽ không chấp nhận những điều kiện nào được đặt ra trước của chế độ quân phiệt. Trong bản tuyên bố của Liên minh Quốc gia đ̣i Dân chủ (National League for Democracy, viết tắt NLD) có nói rằng: “T́m một giải pháp qua đối thoại là một phương cách tự nhiên để giúp con người và đất nước.” Cầm đầu chế độ quân phiệt Myanmar, tướng Than Shwe và lănh đạo Liên minh Quốc gia đ̣i Dân chủ, bà Aung San Suu Kyi. Nguồn: AFP Tuần rồi, cầm đầu chế độ quân phiệt tướng Than Shwe ngỏ lời muốn gặp bà Suu Kyi, người đang bị chính ông quản chế tại gia, nhưng ông nói rằng bà Suu Kyi phải chấp nhận một số điều kiện do ông đưa ra trước khi hai bên có thể nói chuyện với nhau. Chẳng hạn, cấm bà Suu Kyi không được kêu gọi hay ủng hộ sự cấm vận của quốc tế đối với Myanmar. Chế độ quân phiệt chỉ định tướng Aung Kyi, người được miêu tả tương đối ôn ḥa, ra đối thoại với bà Suu Kyi. Phát ngôn viên của Liên minh Quốc gia đ̣i Dân chủ (NLD) cho rằng đây là dấu hiệu tốt đẹp. Nhưng cũng qua bản tuyên bố của ḿnh, NLD khẳng định là họ sẽ không chấp nhận bất kỳ điều kiện nào đặt ra trước bởi chế độ quân phiệt. “Sự thành công của đối thoại đặt trên căn bản thành thật và tinh thần nhân nhượng lẫn nhau. Ư muốn đạt đến sự thành công là điều chủ yếu và v́ vậy, cuộc đối thoại phải vô điều kiện.” Bản tuyên bố nói như trên. Chế độ quân phiệt vốn lật lọng trong qúa khứ, nên mọi sự hứa hẹn của họ đều bị hoài nghi. Một giáo sư đă về hưu ở Yangon cho rằng “Đừng lạc quan qúa sớm. Sự nhượng bộ của chính quyền chỉ xảy ra khi áp lực của cộng đồng quốc tế ngày càng tăng dữ dội. Chúng ta cần phải chờ xem kết qủa.” Ông Win Min, một nhà phân tích thời cuộc Myanmar có văn pḥng ở Thái-Lan cho rằng ư định đối thoại với bà Suu Kyi của chính quyền quân phiệt "là một dấu hiệu rơ ràng chính phủ Myanmar đang bị áp lực quốc tế trầm trọng và cũng như áp lực từ trong nước để phải thay đổi chút đỉnh,” ông c̣n nói thêm: “Họ rất lo lắng t́nh h́nh có thể tồi tệ hơn mặc dầu họ có thể tạm thời kiểm soát sự biểu t́nh của quần chúng.” Tu sĩ Phật Giáo Myanmar và những người đấu tranh chống chế độ độc tài Myanamar tham dự buổi họp của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ở New York. Nguồn: AFP Cũng hôm qua ở Nữu Ước (New York), Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nhóm họp để bày tỏ thái độ với chính quyền Myanmar, Trung Quốc – là nước vốn có mối làm ăn lớn nhất với Myanmar trong những thành viên LHQ – cương quyết phản đối lệnh cấm vận Myanmar. Tuy không nói thẳng là Trung Quốc sẽ bỏ phiếu chống, phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Trung Quốc Liu Jianchao cho rằng: “Cấm vận hay áp lực sẽ không giúp giải quyết được vấn đề ở Myanmar. Trong lúc đó, ở châu Á, tuy các thành viên trong Hiệp hội các nước Đông Nam Á châu (ASEAN) trong bản tuyên bố chung đă lên tiếng phản đối sự đàn áp đầy bạo động của chế độ quân phiệt Myanmar, nhưng thái độ của các nhà lănh đạo và dân chúng trong những nước này cũng rất khác nhau. Tổng thống Nam Dương (Indonesia) Susilo Bambang Yudhoyono ngụ ư rằng ông muốn trực tiếp nói chuyện với chế độ quân phiệt ở Myanmar để giúp giải quyết sự khủng hoảng hiện nay. Cùng ngày, tờ báo đạo Hồi lớn nhất nh́ Nam Dương, tờ Koran Tempo bắt đầu dùng chữ "Burma" và "Rangoon" thay v́ "Myanmar" và "Yangon" là hai chữ do chế độ quân phiệt thay đổi vào năm 1989 như một sự đồng t́nh ủng hộ sự biểu t́nh chống chế độ quân phiệt độc tài của tu sĩ Phật Giáo và dân chúng Miến Điện. Thủ tướng Mă-Lai-Á (Malaysia) tán đồng hoàn toàn những lời lẽ cứng rắn trong bản tuyên bố chung của khối ASEAN. Những tổ chức phi chính phủ và các đảng phái chính trị ở Mă-Lai-Á đă liên tục biểu t́nh bên ngoài Ṭa Đại sứ Myanmar ở thủ đô Kuala Lumpur, trung b́nh hai lần một tuần. Thủ tướng Thái-Lan Surayud Chulanont tán đồng quan điểm của khối và chính thức phản đối Myanmar đă đàn áp dă man dân biểu t́nh. Phi-Luật-Tân (Philippines) tuy là nước Công Giáo nhưng lại rất đồng cảm với dân Myanmar đa phần là Phật Giáo, khi quyền lực nhân dân (people power) vẫn c̣n đậm nét trong ḷng họ qua việc quần chúng nổi dậy lật đổ chính quyền độc tài của cố Tổng thống Marcos năm 1986 và sau đó một lần nữa vào năm 2001. Không những chính phủ Manila mà ngay cả những nhà lănh đạo tôn giáo và người dân đă lên tiếng ủng hộ những người biểu t́nh chống chế độ quân phiệt ở Myanmar. Dân chúng ở Dili, vùng Timor Leste, đang biểu t́nh trước Ṭa Đại sứ Trung Quốc để bày tỏ sự ủng hộ dân chúng Myanmar hôm thứ Hai. Đấu tranh quyết liệt nhưng bất bạo động của bà Suu Kyi đă làm cho bà được tặng giải Nobel Ḥa b́nh năm 1991. Nguồn: Reuters.com Ở Nam Dương (Indonesia), tuy là một nước Hồi giáo, nhưng là một đất nước chuyển từ chính thể quân phiệt độc tài qua thể chế dân chủ tuy c̣n non trẻ, nên họ rất quan tâm và mong muốn cho Myanmar được thoát ra khỏi cảnh cai trị độc tài của chế độ quân phiệt. Rất nhiều nhân viên Bộ Ngoại giao Nam Dương ở Jakarta đă bày tỏ sự ủng hộ của ḿnh cho những người biểu t́nh đ̣i tự do ở Myanmar bằng cách mặc đồng phục đỏ (màu áo cà sa của các tu sĩ Phật giáo Myanmar) ngay sau ngày chế độ quân phiệt xả súng vào đoàn người biểu t́nh làm chết 13 người hai tuần trước đây. Chỉ có chính phủ Việt Nam là im như thóc. Hơn 600 tờ báo trong nước tuyệt không một lời b́nh luận hoặc đưa tin cho chính xác. Tin tức về tu sĩ Phật Giáo và dân chúng Miến Điện biểu t́nh chống chính phủ nếu được đưa như tờ Tuổi Trẻ th́ rất sơ sài và hoàn toàn bị bóp méo với sự thật. Theo nhận định của các kư gỉa viết bài “Disparate views in Asean on crisis in the family”, th́ “ở Việt Nam, sự loan tin về cuộc khủng hoảng hầu như không có”. (Nguyên văn: In Vietnam, media coverage of the crisis has been almost non-existent.) Chỉ thứ sáu tuần rồi, Bộ Ngoại giao Việt Nam nói rằng họ mong muốn các đảng phái ở Myanmar bày tỏ sự kiềm chế và giải quyết những khác biệt qua đối thoại. Nhưng vẫn chưa thấy báo nào đăng tải lại lời tuyên bố này. Độc gỉa DCV có thể kiểm nghiệm bằng cách vào trang báo điện tử của Thông Tấn Xă Việt Nam (vnanet.vn), thanhnien.com.vn hay vietnamnet.vn và đánh chữ "myanmar" vào ô “T́m kiếm”, sẽ không t́m thấy bài nào nói về Myanmar! Báo chí ở Việt Nam tiếp tục mặc đồng phục, sắp hàng một, và đi rất trật tự theo bờ lề bên phải dưới sự lănh đạo của đảng Cộng Sản, như Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông Lê Doăn Hợp đă răn đe trước đây. © DCVOnline |
| Khóc cho quê hương tôi. Tôi ḥ hét một chiều thu năm ấy Ngỡ ḿnh là Hưng Đạo diệt quân Nguyên Bằng dao băm bèo , bằng quần thủng đít, Xông pha , vùng vẫy khắp trận tiền. Thế rồi ! Tiếng ḥ hét lặng im ! Miệng khóa chặt bằng mầu cờ máu, Dân chưa vui đă chuốc ưu phiền. Tuổi thơ tôi chưa biết buồn mà gục khóc V́ chó hoang hung hăn cuồng điên ! Khóc người thân ngă gục , đầu lăn lóc , Khóc ḍng sông máu đỏ lấp phù sa. Đ́nh chùa , thánh đường cháy v́ tiêu thổ Làng xóm tan hoang , vang tiếng khóc , kêu la . Chém ! giết ! ṃ tôm ! chúng vui trên thống khổ Mặt kên kên , nhăng nhăng , nhố nhố ! Lập chiến công bằng thân xác dân lành. Thiếu khứu giác sao ngửi được hôi tanh, Không tṛng mắt sao biết đen và trắng, Màng nhĩ thủng sao nghe lời chửi mắng, Mất t́nh người , ác vượt lũ yêu ma . Người người tránh xa. Lớp lớp bỏ làng lánh nạn. Bỏ xứ Bắc dzô Nam . Nước mắt dường khô cạn. Giá tự do cùng cực cũng đành cam . Mang thân trai giữ nước ! Đạn lên ṇng ngăn tham tàn xâm lược. Lửa đốt phá đồng quê ! Ḿn , bom nổ tứ bề ! Nước mắt và máu chẩy thành biển mặn. Theo lệnh Tầu , Nga , Lũ vô tri lùa trẻ thơ làm bia đỡ đạn, Định mệnh khắc ghi Sinh Bắc tử Nam . Rồi tháng tư đen năm ấy ! Súng rời tay trong vô cùng uất hận Lớp lớp chen nhau trên đường lận đận. Thân ch́m biển mặn , xác lấp rừng sâu Suối nước mắt tuôn mau ! Bến tự do mênh mông , xa lạ . Tôi lại khóc ! Cho muôn vàn thống khổ . Khóc quê hương dưới loài quỷ đỏ , Khóc bạn bè trong kiếp sống cùm gông. Cụt đôi chân , mất đôi tay , vờ vật , bềnh bồng . Khóc trẻ thơ , màn trời chiếu đất. Lăn lóc vỉa hè , kiếm miếng cơm thiu. Khóc gái tơ , bán thân cam phận hẩm hiu . Nhục nhă Tổ tông !!!! Sống trong cơi chết ! Ngậm ngùi , thao thức ! Saigon đổi tên là thằng tướng cướp! Chúa , Phật mất ngôi . Đứa vô thần chễm chệ lên ngồi. Hàng cờ đỏ dương oai , Đuổi triệu hồn oan không đầu đ̣i mạng . Khóc mẹ mù ḷa nước mắt như khô cạn Đàn cháu ngoan vùi xác biển đông. Tang tóc chập chùng ! Khóc dân oan , hận thấu xương ,thấu tủy Ba mươi năm đă biến người thành khỉ . Khóc tổ tiên hương lạnh , khói tàn , Mồ mả ông cha mặc cỏ tràn lan . Nứớc mắt cạn rồi ,đâu c̣n sức khóc ? Ắt có một ngày ! Ta đếm từng ngày !! Đốt cớ máu !!! Như Thái B́nh xưa ,toàn dân nỗi dậy ! Đào mả Ba Đ́nh , xác bón ngô khoai . Kéo tượng cụt đầu , lấp đầy hố rác H́nh Cáo dê x̣m , chọc mắt , xé tai . Trói bầy cướp, bắt gục đầu chịu tội ! Lịch sử sang trang ! Ḥ hét vang vang !! Mừng ngày mở hội. Nước mắt thôi rơi Người người vui cười Nhà nhà no ấm. Hoa lá xanh tươi Đất nước sáng ngời !!!! Tổ Quốc yêu dấu !!!! Seattle ngày 24 tháng 9 năm 2007 Nguyễn Mạnh Hoằng |
| SƠ LƯỢC TIỂU SỬ CUỘC ĐẤU TRANH CHO TỰ DO TÔN GIÁO CỦA LINH MỤC TAĐEÔ NGUYỄN VĂN LƯ ( Luật Sư Hoàng Duy Hùng ) Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lư sinh trưởng trong một gia đ́nh nông dân nghèo ở phủ Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Ngài là con út trong gia đ́nh 5 người con. Theo nhiều người kể, mẹ ngài, lúc 48 tuổi, mới sinh ngài, nên cả gia đ́nh cho rằng ngài là một món quà đặc biệt mà Thượng Đế ban cho gia đ́nh. Danh sách gia đ́nh của linh mục Lư như sau: Thân phụ: Cụ ông Tađêô Nguyễn Văn Sản. Năm 1983, cụ Sản bị trúng gió, á khẩu, nằm liệt giường và mất khoảng năm 1984 trong lúc linh mục Lư c̣n ở tù, và linh mục Lư đă không có được gặp mặt ông thân sinh lần cuối. Thân mẫu: Cụ bà Maria Trần Thị Kính. Cụ bà mất ở Quảng Biên, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, vào ngày 18 tháng 5 năm 2001, 1 ngày sau khi linh mục bị 600 công an đem roi điện và vũ trang đến giáo xứ An Truyền bắt ngài. Trước khi bị bắt khoảng 2 tiếng, linh mục Lư có linh tính, điện thoại cho cụ bà, thăm hỏi, và chúc lành cho cụ bà. Cụ bà lúc đó đă nằm bệnh hơn 1 tuần, rất mong được gặp mặt linh mục Lư lần cuối, nhưng, CSVN ngăn cấm. Bốn (4) người anh và chị: 1. Ông Nguyễn San, cách linh mục Lư khoảng 20 tuổi, qua đời tại Quảng Biên, tỉnh Đồng Nai năm 1996. Ông San có đông con nhất, có nhiều người con đi tu nhất. Dịp này, linh mục Lư có về làm lễ an táng cho ông. 2. Bà Nguyễn Thị Qui, hiện đang ở Florida, Hoa Kỳ. 3. Ông Nguyễn Tri Hồng Ân, từng ở trong ngành Cảnh Sát của VNCH, hiện đang định cư ở Úc. 4. Bà Nguyễn Thị Hiểu. Bà Hiểu không lập gia đ́nh, bà hành nghề y tá, chuyên chăm sóc cho cha mẹ, và là người thăm nuôi cha Lư trong những lần ngài ở tù trước đây cũng như bây giờ. Bà Hiểu có nhận một đứa con trai tên là Nguyễn Duy Hồng Phúc làm con nuôi, và chính CSVN tung tin nói Nguyễn Duy Hồng Phúc là “con rơi” của linh mục Lư. Hai ông bà cố Tađêô Nguyễn Văn Sản và Maria Trần Thị Kính có nhận 2 người nghèo chuyên đi mót lúa làm con nuôi. Hai người này tên là Nguyễn Văn Chung và Nguyễn Văn Toàn, năm 1972, trong Mùa Hè Đỏ Lửa, đều hy sinh cho Chính Nghĩa Quốc Gia. 2 người con nuôi này đă có vợ, có con. Hiện nay, vợ của ông Nguyễn Văn Toàn, c̣n có căn nhà ở sau nhà bà cố tại Quảng Biên, Đồng Nai. ************ * Linh mục Lư sinh vào ngày 31/8/1947 tại Ba B́nh, giáo xứ Ba Ngoạt, phủ Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Sau này, v́ học giỏi, 2 lần nhảy lớp, nên ông bà cố Nguyễn Văn Sản khai lên tuổi lên cho linh mục Lư, do đó, trong giấy khai sinh, linh mục Lư sinh ngày 15/5/1946. Hồi c̣n nhỏ, linh mục Lư theo anh ruột là Nguyễn Tri Hồng Ân đi vào Sài G̣n để học. Sau khi học xong Trung Học Đệ Nhất Cấp ở Sài G̣n, vào ngày 27/6/1963, linh mục tiến sĩ Giuse Nguyễn Như Tự, giới thiệu “cậu Nguyễn Văn Lư” vào tu học tại Tiểu Chủng Viện Hoan Thiện. Năm 1966, “thày Lư” nhập học Đại Chủng Viện Xuân Bích, Phú Xuân, Kim Long, Huế. “Thày Lư” chịu các chức cắt tóc cho đến chức Phó Tế do hai Đức Giám Mục Phanxicô Xavier Nguyễn Văn Thuận và Phạm Ngọc Chi. Ngày 30 tháng 4 năm 1974, Đức Tổng Giám Mục Philipphê Nguyễn Kim Điền truyền chức linh mục cho cha Lư. Sau khi chịu chức linh mục, cha Lư xin gia nhập vào Hội Thừa Sai của Đức TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền. Cuộc đổi đời Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam năm 1975, Đức TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền triệu hồi linh mục Lư về làm thư kư cho Đức Tổng Giám Mục. Vào ngày 7 tháng 9 năm 1977, linh mục Lư bị công an bắt giam vào lao xá Thừa Phủ Huế v́ ngài đă phổ biến 2 bài tham luận của Đức Giám Mục Philipphê Nguyễn Kim Điền lên án chủ trương tiêu diệt tôn giáo một cách tinh vi của ĐCSVN. Linh mục Tađeô Nguyễn Văn Lư bị ṭa án CSVN kết án 20 năm tù, nhưng mấy tháng sau, v́ khi ấy CSVN đang nộp đơn xin gia nhập Liên Hiệp Quốc, nên, để xoa dịu và để đánh lừa Liên Hiệp Quốc, vào ngày 24 tháng 12, 1977, CSVN trả tự do cho linh mục Hồ Văn Quư và linh mục Nguyễn Văn Lư. Linh mục Lư bị đưa về quản thúc ở 37 Phan Đ́nh Phùng, Huế, không được thi hành chức vụ linh mục. Năm 1978, dưới áp lực của Đức Tổng Giám Mục Philipphê Nguyễn Kim Điền, CSVN chấp thuận để cho linh mục Lư về làm cha xứ Đốc Sơ, xă Hương Sơ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Cuối năm 1981, linh mục Lư yếu bệnh, được đưa về điều trị ở bệnh viện Huế một thời gian, sau đó, lại được trở về coi sóc giáo xứ Đốc Sơ. Theo lời kể của linh mục Phan Văn Lợi, vào ngày 15/8/1981, khoảng 3 giờ sáng, cùng với một số giáo dân thanh niên của giáo xứ Đốc Sơ, linh mục Lư âm thầm đạp xe đạp đi hành hương La Vang. Tới ngang trạm kiểm soát Mỹ Chánh, cách Huế khoảng 40 cây số và cách Quảng Trị khoảng 20 cây số, đoàn hành hương bị công an chận lại. Công an lấy cớ đoàn hành hương “vi phạm luật giới nghiêm” (lệnh bịa đặt đột xuất) di chuyển trước khi trời sáng! Công an lục soát giấy tờ, một số thanh niên không mang theo giấy Chứng Minh Nhân Dân, thế là công an lại càng làm khó dễ cha Lư và đoàn hành hương. Cha Lư nói: “Chúng tôi đi về trong ngày, cần ǵ phải đem theo giấy tờ.” Khoảng 6-7 giờ sáng, một chiếc xe Lambretta (một loại xe chở hàng của Ư chở khoảng 8 người mà ở Thái hiện nay vẫn sử dụng để chở khách du lịch tà tà thăm quan thành phố) chở khá đông người bị công an chận lại. Trong xe Lambretta này có một vài nữ tu. Công an phạt hai lư do: Xe chở quá tải và xe đi sai tuyến đường v́ xe này lúc đó chỉ được phép chở khách đi tuyến đường chợ Đông Ba – Ga Xe Lửa Huế mà thôi, trong khi đó, các nữ tu lại thuê xe này đi hành hương La Vang. Thấy công an làm khó dễ, cha Lư nói: “Nếu người ta không cho chúng ta ra thăm Mẹ La Vang v́ buộc chúng ta lỗi luật giao thông, th́ bây giờ chúng ta cùng quỳ xuống bên đường đây đọc kinh vậy. Nếu đọc cho tới trưa mà vẫn chưa được phép đi th́ chúng ta đọc cho tới chiều. Chiều mà chưa được phép đi th́ chúng ta đọc cho tới tối.” Thế là mọi người cùng quỳ bên đường đọc kinh Mân Côi. Dân chúng chợ Mỹ Chánh ùa ra xem, công an thấy vậy e ngại, sợ có biến ứng, nên cho cha Lư và phái đoàn hành hương đi. Linh mục Phan Văn Lợi kể tiếp: Một tháng sau, vào ngày 21 tháng 9 năm 1981, lễ thánh Tôma Trần Văn Thiện là thánh bổn mạng của nhóm chủng sinh ngoại trú giáo xứ chính ṭa Phủ Cam, cha quản xứ Phaolô Nguyễn Kim Bính tổ chức một cuộc họp phụ huynh, trao đổi ư kiến, có người nảy ra ư kiến đóng kịch lại sự kiện “Cha Lư Đi Hành Hương La Vang” với nhan đề “Dâng Con Cho Mẹ” để góp vui cho mọi người. Linh Mục Phan Văn Lợi, lúc ấy c̣n là chủng sinh, cùng với một vài chủng sinh khác, diễn tuồng này. Tuồng được diễn khoảng 10 phút, ai nấy cười vui. Ai dè, sau này, ngày 21 tháng 10 năm 1982, những người “đóng tuồng” đều bị công an CSVN truy ra ṭa v́ tội “tuyên truyền phản cách mạng” và “cả gan phổ biến bài học đấu tranh với chính quyền.” Công an kêu linh mục Lư ra làm nhân chứng. Linh mục Lư hết sức bênh vực cho các chủng sinh đă “diễn tuồng” và tuyên bố sẵn sàng một ḿnh chịu trách nhiệm, yêu cầu nhà cầm quyền không trừng phạt những người diễn tuồng, nhưng, CSVN vẫn phạt những người diễn tuồng, người th́ 4 năm tù ở, người th́ 3 năm rưỡi, và 3 thày khác bị 2 năm tù giam. Năm 1983, tại Quảng Biên, tỉnh Đồng Nai, sau một thánh lễ sớm, một giáo dân thấy một cái bọc có trẻ sơ sinh để trước cửa nhà thờ. Giáo dân thấy đứa bé bị cha mẹ bỏ rơi, xúc động, liền đi báo cho cha xứ biết để t́m cách giải quyết. Cha xứ và Hội Đồng Giáo Xứ họp, thấy cô Hiểu, chị của linh mục Lư đă lớn tuổi mà chưa lập gia đ́nh, nên họ bàn thảo và trao cho cô Hiểu nhận em bé làm con nuôi. Cô Hiểu chấp thuận đề nghị này. Đứa bé về sau mang tên là Nguyễn Duy Hồng Phúc. Để trả thù việc linh mục Lư đấu tranh, CSVN và tay sai tung tin nói rằng Nguyễn Duy Hồng Phúc là “con rơi” của linh mục Lư, và linh mục Lư đấu tranh là để “rửa” cái “quá khứ xấu xa” này. Ví dầu Nguyễn Duy Hồng Phúc là con rơi của linh mục Lư, th́ đây cũng chỉ là chuyện cá nhân, không dính dáng ǵ đến nội dung tranh đấu của linh mục Lư. Hơn nữa, khi Cộng Sản mà nắm được “tẩy” của ai rồi, đó chính là “sinh tử phủ” và họ dùng sinh tử phủ này làm eo làm sách, khó dễ đủ điều, không ai dám can đảm tranh đấu chống đối lại họ. Chỉ có những người trong sạch không bị Cộng Sản nắm tẩy mới có những hành vi can đảm chỉ thẳng vào mặt Cộng Sản vạch rơ bộ mặt phi nhân của chúng. Do đó, khi cha Lư dám công khai can đảm tranh đấu chống lại bạo quyền Cộng Sản ngay khi ngài c̣n ở trong sự kiểm soát của họ, tức là cha Lư không có bị Cộng Sản nắm tẩy, tức là cha Lư không có làm chuyện mờ ám có con rơi con rớt, mà, tất cả chỉ là chiêu bài dơ bẩn chụp mũ của bạo quyền mà thôi. Bạo quyền càng la lối th́ càng chứng minh bạo quyền tung hỏa mù, ăn gian nói dối bấy nhiêu, càng làm cho sự trong sạch của linh mục Lư sáng tỏ hơn. Ngày 17 tháng 1 năm 1983, Cộng Sản trục xuất linh mục Lư ra khỏi nhà thờ giáo xứ Đốc Sơ v́ ngài đă ngang nhiên cưỡng lại mệnh lệnh của công an là không được dạy giáo lư cho giáo dân. Linh mục Lư bị công an buộc phải về ở nhà cha mẹ tại xứ Quảng Biên, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Cha Lư không chịu tuân theo lệnh này. Công an kéo tới làm áp lực, lập tức rất đông giáo dân tràn ra bao bọc lấy nhà xứ bảo vệ linh mục Lư. Chuyện này làm rầm beng lên, nhiều người ở Huế nghe tiếng. Chính Đức TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền phải đích thân điều đ́nh cho linh mục về chuyện này. Công an khôn khéo, giả vờ thuận theo ư Đức TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền, lập kế hoăn binh để đợi một thời cơ thuận lợi hơn. Vài tháng sau, vào 6 giờ sáng ngày 18 tháng 5 năm 1983, công an kéo một đội ngũ hùng hậu tới Đốc Sơ bắt cha Lư đi biệt giam. Ngày 13 tháng 12 năm 1983, CSVN mở một phiên ṭa. Nhiều người đến xem, âm thầm hỗ trợ cho cha Lư. Cộng Sản tuyên án linh mục Lư 10 năm tù giam và 4 năm quản chế. Trước đó không lâu, cụ cố thân sinh Tađeô Nguyễn Văn Sản bị trúng gió cấm khẩu, bất toại liệt giường 8 tháng rồi qua đời. Khi bị giam trong tù, linh mục Lư mới biết thân phụ của ḿnh qua đời, không được gặp mặt thân phụ lần cuối, linh mục Lư rất đau xót, chỉ biết âm thầm dâng thánh lễ và cầu nguyện cho linh hồn cụ cố sớm hưởng nhan thánh Chúa. Cộng Sản Việt Nam giam linh mục Lư ở nhiều trại giam như ở Thanh Cẩm (Thanh Hóa, và Ba Sao (Nam Hà). Nhiều người ở tù với linh mục Lư trong thời gian này cho biết linh mục Lư rất hiên ngang, bất khuất, sống rất đạo đức, khiêm nhường, chia xẻ miếng cơm manh áo với các bạn tù khác. Ngày 6/6/1988, CSVN đầu độc chết Đức TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền, Tổng Giáo Phận Huế có sự sắp xếp thay đổi vị lănh đạo, và sau này, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cắt cử Đức Tổng Giám Mục Stephanô Nguyễn Như Thể lên thay thế nhiệm vụ của Đức cố TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền. Nghe tin Đức TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền qua đời, ở trong tù, linh mục Lư rất đau xót, nhưng lại rất ngờ vực cái chết bí ẩn đó, quyết tâm sau này được tự do, sẽ t́m hiểu đến nơi đến chốn về cái chết của vị Đức Tổng Giám Mục rất thánh thiện này. Về sau, t́m hiểu nội vụ sự kiện này xong, chính linh mục Lư đă gọi cái chết của Đức cố TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền là một “cuộc tử đạo.” Ngày 31 tháng 7 năm 1992, linh mục Lư được phóng thích, được cho về ở Nhà Chung mà không được thi hành chức vụ linh mục. 2 năm sau, ngày 24 tháng 11 năm 1994, linh mục Lư ra “Tuyên Ngôn Về Thực Trạng Công Giáo Tại Giáo Phận Huế,” lập tức bị công an kêu lên hỏi cung và “làm việc” 2 tháng liên tục, nhưng, ngài vẫn kiên vững lập trường, dứt khoát đ̣i tự do tôn giáo cho Việt Nam. Năm 1995, Cộng Sản thỏa thuận với Đức Tổng Giám Mục Stephanô Nguyễn Như Thể đưa linh mục Lư về trông coi giáo xứ Nguyệt Biều với tính cách “an trí” v́ nơi đây là một giáo xứ nhỏ bé, chỉ có vài chục gia đ́nh Công Giáo, hẻo lánh, mà lại rất nghèo. Họ nghĩ rằng giam “con ngựa chứng” linh mục Lư ở một nơi xa xôi đó, chắc sẽ không c̣n có chuyện ǵ bất trắc xảy ra. Năm 1997, Đức Tổng Giám Mục Stephanô Nguyễn Như Thể xin nhà cầm quyền CSVN cho linh mục Lư về trông coi giáo xứ An Truyền, CSVN không chấp thuận. Tháng 7 năm 1999, trận lụt kinh hoàng của thế kỷ xảy ra ở Huế, mấy làng bị trôi giạt, hàng ngàn người bị chết, bị mất tích. Giáo xứ Nguyệt Biều ở ngay khúc ngoặc của gịng sông Hương, nên bị nước dâng cao, làm thiệt hại nặng nề. Linh mục Lư và các thanh niên phải trèo lên ngồi trên nóc nhà ba bốn ngày, chịu đói, chịu rét. Sau khi mưa tạm ngưng, nước vừa mới rút xuống đôi chút, chính linh mục Lư đă quên ḿnh, lội xuống đi vớt các xác chết, có những xác đă chết 3 hoặc 4 ngày, hôi thối không thể tả nổi, mà linh mục vẫn không ngại ngùng, lo lắng tẩm liệm đàng hoàng cho họ, không phân biệt họ thuộc thành phần tôn giáo nào. Chính gương bác ái hy sinh này của linh mục Lư, nên sau trận lụt, xă Thủy Biều có 1% Công Giáo, vậy mà, dân chúng cả xă đều thương mến ngài. Trong thời gian đó, linh mục Lư có một người bạn xưa ở nước ngoài, gởi về tặng cho ngài 3000 Mỹ Kim như một món quà cá nhân để giúp cho ngài “bồi dưỡng” và tu bổ giáo xứ. Linh mục Lư đă dùng số tiền này đổ bê tông xây đường cho xă, xây hố xí hai ngăn. Táo bạo hơn, linh mục Lư c̣n đi mua chịu để có cơm gạo cho dân chúng. Người bạn sau này về thăm linh mục Lư, thấy ngài vẫn lái chiếc xe Honda cũ kỹ đời 1968, vẫn ăn uống đạm bạc, nên về nói cho các bạn bè khác biết. Nhiều người ở nước ngoài cảm động, gom góp tiền gởi giúp cho cha Lư thanh toán các món nợ. C̣n dư chút tiền, linh mục Lư cấp học bổng cho học sinh nghèo, mở lớp dạy Anh văn, vi tính, nhạc, thiên văn, v.v. (Cha Lư rất mê thiên văn). Đầu năm 2001, trước khi viết bài ủng hộ linh mục Lư, cho chắc ăn, tôi có nhờ một người quen ở trong nước và một người quen ở hải ngoại về Việt Nam, ra tới tận Nguyệt Biều hỏi thăm, và cả hai người báo lại đó là những ǵ tôi nghe về cha Lư là xác thực. Ngày 24/11/2000, nhân dịp kỷ niệm 6 năm ra “Tuyên Ngôn Thực Trạng Công Giáo Tại Giáo Phận Huế,” linh mục Lư cho phổ biến Lời Kêu Gọi Số 1 đ̣i tự do tôn giáo cho Việt Nam với khẩu hiệu “Tự Do Tôn Giáo Hay là Chết” cắm ngay trên miếng đất của giáo xứ Nguyệt Biều mà ĐCSVN đă ngang nhiên cướp lấy từ năm 1976. Thời đại có thay đổi, mạng lưới toàn cầu được phổ thông, nên, Lời Kêu Gọi Số 1 của linh mục Lư nhanh chóng được phổ biến trên các báo chí và đài phát thanh Việt ngữ ở hải ngoại, sau đó, các cơ quan truyền thông quốc tế cũng nhảy vào cuộc, loan tin rộng răi về chuyện này. Ngày 8/12/200, linh mục Lư phổ biến Lời Kêu Gọi số 2 khẩn xin Hội Đồng Giám Mục Việt Nam lên tiếng đ̣i Tự Do Tôn Giáo, không chấp nhận những quy định phi lư của CSVN, quyền đạo phải tách rời khỏi quyền trần thế, các giám mục cứ truyền chức linh mục cho các chủng sinh có đủ đạo hạnh và khả năng mà không phải xin phép nhà cầm quyền CSVN. Có người xuyên tạc nói cha Lư chỉ trích HĐGMVN. Liên tiếp sau đó, ngài đưa ra các lời kêu gọi, và lời kêu gọi sau cùng, Lời Kêu Gọi Số 9 là vào ngày 26 tháng 2 năm 2001. Ngoài 9 Lời Kêu Gọi ra, vào ngày 30/1/2001, linh mục Lư công bố lời chứng về cái chết của Đức Tổng Giám Mục Philipphê Nguyễn Kim Điền (1921-1988) trong đó linh mục Lư xác quyết CSVN đăụ ra lệnh cho một cô y tá ở bệnh viện Chợ Rẫy, Sài G̣n, sáng ngày 6/6/1988, bỏ thuốc độc thủ tiêu Đức Giám Mục Nguyễn Kim Điền. Bài viết của linh mục Lư gây xúc động trong ḷng nhiều người. Thêm vào đó, linh mục Lư c̣n viết 2 Lời Chứng: 1/ Lời Chứng Thứ Nhất để tường tŕnh thực trạng vi phạm tôn giáo một cách trầm trọng ở Việt Nam, đọc trước Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế của Chính Phủ Hoa Kỳ tại Washington D.C vào ngày 13 tháng 2 năm 2001; 2/ Lời Chứng Thứ Hai, do mục sư Kiều Tuấn Nam đọc thay cho linh mục Lư, đọc trước Hạ Viện Hoa Kỳ vào ngày 16 tháng 5 năm 2001, lên án hành động chà đạp nhân quyền và những đàn áp dă man của ĐCSVN đối với các tôn giáo. Ngoài 1 Tuyên Ngôn, 9 Lời Kêu Gọi, 2 Lời Chứng trước các cơ quan quốc tế, Chứng Thư Cái Chết của Đức Tổng Giám Mục Philipphê Nguyễn Kim Điền, từ ngày 27-2-2001 tới ngày 9/5/2001, mỗi lần công an đến chất vấn, lập biên bản, th́ linh mục Lư lại lập biên bản lại với công an và ĐCSVN với tiêu đề “Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam: Thiếu Độc Lập, Mất Tự Do, Không Hạnh Phúc” lên án ĐCSVN tội phản quốc, vi phạm nhân quyền, chà đạp tín ngưỡng, ức hiếp các Giáo Hội. Có lẽ đây là một trường hợp có một không hai xảy tra trong một chế độ tàn bạo phi nhân như CSVN mà CSVN chưa dám “bóp cổ” cho linh mục Lư chết ngay tại v́ c̣n e ngại những con mắt quan sát của quốc tế và của cộng đồng người Việt hải ngoại. Ngày 1 tháng 1 năm 2001, linh mục Lư được ông Elliot Abrams, Chủ Tịch Ủy Hội Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế của Hoa Kỳ mời điều trần về vi phạm tự do tôn giáo tại Việt Nam vào ngày 13 tháng 2 năm 2001. CSVN không cho linh mục Lư đi dự. Tuy nhiên, ở thời đại mạng lưới, kỹ thuật đă quá tinh vi, nên bản điều trần của ngài đă gởi ra từ trước, dịch sang tiếng Anh, đọc trước Ủy Hội Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế của Hoa Kỳ theo đúng kỳ hẹn và sau đó đă phổ biến cho cả thế giới. Tết Tân Tỵ, 24/1/2001, Đức Tổng Giám Mục Stephanô Nguyễn Như Thể đồng ư với Bộ Nội Vụ CSVN chuyển linh mục Lư ra khỏi Nguyệt Biều với điều kiện là để linh mục Lư về trông coi giáo xứ An Truyền, nơi mà 3 năm về trước ngài đă đề nghị với nhà cầm quyền. Bộ Nội Vụ CSVN dùng kế hoăn binh, đồng ư với Đức Tổng Giám Mục Stephanô Nguyễn Như Thế, mua thời gian để t́m kế hăm hại linh mục Lư, cho nên, họ đồng ư để linh mục Lư về trông coi giáo xứ An Truyền vào ngay chính ngày mồng một Tết. Giáo dân ở An Truyền đông hơn giáo dân Nguyệt Biều gấp 7 lần, nên, đây cũng là dịp để cho linh mục Lư gây ảnh hưởng tạo thế đấu tranh, mà đây cũng là cớ để cho CSVN “đâm bị thóc, thọc bị gạo,” gây sự ghen tuông, hiềm khích giữa các linh mục khác với linh mục Lư để rồi t́m lấy một cơ hội thuận tiện, nhất là khi thấy Giáo Hội Công Giáo Việt Nam ở trong cũng như ở hải ngoại, không c̣n đoàn kết cách chặt chẽ để ủng hộ cuộc đấu tranh của linh mục Lư, chúng liền thẳng tay trừng trị linh mục Lư mà không sợ sự nổi dậy của quần chúng như đă từng xảy ra ở Đông Âu vào năm 1989. Về giáo xứ An Truyền được một tháng, vào ngày 26/2/2001, Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Thừa Thiên Nguyễn Văn Xuân kư quyết định 401/QĐUB, ra lệnh quản chế linh mục Lư 2 năm, hiệu lực từ ngày 27/2/2001, linh mục Lư nhất quyết không tuân thủ theo lệnh quản chế này. Trong khi đó, ở hải ngoại, bắt đầu có những bài viết bôi nhọ cuộc đấu tranh của linh mục Lư. Cộng Đồng Công Giáo ở hải ngoại bị một cơn sóng gió dữ dội, phe bênh, phe chống linh mục Lư. Thấy sự phân hóa của Giáo Hội Công Giáo khá trầm trọng, và, có lẽ nắm bắt được “tẩy” của các vị chủ chăn Giáo Hội Công Giáo Việt Nam là sẽ không phản ứng mạnh mẽ, nên, bắt đầu tháng 3, 2001, báo chí và đài phát thanh của Cộng Sản ở trong nước ra rả tuyên truyền, xuyên tạc, chụp mũ và bôi nhọ linh mục Lư. Một điều lạ lùng là những ǵ Cộng Sản ra rả trong nước th́ một số báo chí Việt ngữ ở hải ngoại lại đăng tin y hệt như vậy, cho thấy rất rơ thế lực đen tối ở đàng trong đă móc ngoặc với nhau trước một cách rất chặt chẽ để triệt hạ một linh mục can đảm như linh mục Lư. Ngày 9/4/2001, dân biêu Lars Rice, thành viên Quốc Hội Na Uy và Quốc Hội Âu Châu, đến thăm cha Lư tại An Truyền, đến thăm các thượng tọa Thích Quảng Độ và các vị lănh đạo tinh thần khác, lập tức bị công an CSVN bắt giữ 2 ngày và trục xuất ông ra khỏi Việt Nam. Nghe danh đấu tranh kiên cường của linh mục Lư, nữ Dân Biểu Zoe Lofgren, Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Quyền Hạ Viện Hoa Kỳ chính thức gởi thư mời linh mục Lư ra trước Hạ Viện Hoa Kỳ để tŕnh bày việc đàn áp tôn giáo của CSVN. Đương nhiên linh mục Lư không thể ra đi được v́ CSVN bao vây linh mục Lư một cách rất chặt chẽ. Mục sư Kiều Tuấn Nam thay linh mục Lư đọc Lời Chứng Thứ 2 của linh mục Lư trước Hạ Viện Hoa Kỳ vào ngày 16/5/2001. Vào khoảng 11 giờ đêm ngày 16/5/2001, linh mục Lư nghe tiếng rùng rùng kỳ lạ ở trong ống nước nhà xứ, ngài linh cảm có chuyện không lành, sáng sớm 3 giờ ngày 17/5, ngài gọi điện thoại về Quảng Biên, Đồng Nai, thăm hỏi bà cố thân mẫu Maria Trần Thị Kính, chúc lành cho bà cố. Đây là lần cuối cùng ngài được tiếp chuyện với bà cố, v́ 24 giờ sau, bà cố qua đời. Sau khi nói chuyện với bà cố trên điện thoại khoảng 2 tiếng đồng hồ sau, lúc 5 giờ sáng, trước giờ dâng thánh lễ, CSVN đưa 600 công an có vũ khí, roi điện, đến giáo xứ An Truyền bắt linh mục Lư, đánh đập tàn nhẫn các giáo dân can đảm đứng ra can thiệp và ngăn cản cuộc ruồng bắt này. Một người 2 bàn tay nhỏ bé, không có một tấc sắt trong tay, mà nhà cầm quyền phải dùng tới một đội ngũ công an vũ trang hơn 600 người để bắt th́ đủ để nói lên sự bạo tàn của chế độ này. Công an đem linh mục Lư nhốt ở nhà lao, lập tức, linh mục Lư tuyệt thực cho đến ngất đi, CSVN âm thầm đưa ngài ra bệnh viện Nguyễn Tri Phương, Mang Cá, thành nội Huế, điều trị. Thấy linh mục hơi có một chút sức khỏe, để tránh những bất trắc, vào ngày 19/10/2001, CSVN vội vàng đưa Linh Mục Lư ra xử bí mật, không có luật sư bào chữa, chỉ trong ṿng có khoảng 2 tiếng họ kết án linh mục Lư 15 năm tù giam, và 5 năm quản chế. Sau đó, họ nhanh chóng chuyển ngài ra thụ án ở trại Ba Sao, Nam Hà. 19/10/2001, CSVN kết án Linh Mục Lư 15 năm tù giam và 5 năm quản chế. Từ lúc linh mục Lư bị đưa ra thụ án ở trại Ba Sao, Nam Hà, 3 người cháu ruột của ngài cũng bị đi tù v́ liên quan đến việc thăm nuôi ngài. Riêng cậu út Việt, cháu linh mục Lư, con của người anh đầu là ông Nguyễn San, đậu cử nhân Anh Văn, ba lần thi đậu vào Đại Chủng Viện, một lần thi đậu thủ khoa, nhưng v́ có liên hệ huyết thống với linh mục Lư, bị CSVN âm thầm làm áp lực, khó dễ, nên có tin đồn nói rằng Đức Cha Trần Đ́nh Tứ của giáo phận Phú Cường không nhận anh Việt vào chủng viện. Linh mục Tađeô Nguyễn Văn Lư là một người có nhiều ưu điểm như thông minh, can đảm, xả thân cho tha nhân, thánh thiện, uyên bác, v.v. Nhưng, qua cuộc đấu tranh của ngài, ngài cũng tỏ ra một vài khuyết điểm, và chính v́ một vài khuyết điểm đó, nên kẻ thù CSVN và những người ganh ghét đă khai thác làm chậm đi bước tiến đấu tranh của ngài. Người ta nói “nhân vô thập toàn,” tuy nhiên, nếu rút ra những khuyết điểm để làm một bài học và tránh né không vấp phạm, th́ trong tương lai, cuộc đấu tranh sẽ kết quả hơn. Chính v́ nhận định này, tôi mạo muội nêu lên một vài nhận xét, có thể không đúng, nhưng hy vọng giúp chúng ta rút ra một vài bài học: Thứ nhất, một số người quen cho rằng linh mục Lư một người rất thẳng và tính, dễ tin người, nói khá nhiều v́ sợ rằng “tư tưởng” không chuyển đạt “hết” cho kẻ khác th́ sẽ bị “phí phạm” cho nên, có người nói cha Lư “nói dai và nói dài.” Thứ hai, trong đấu tranh, người đầu tầu không nên “trả lời dông dài” nhiều trên các cơ quan truyền thông công chúng, dễ bị đối phương “canh me” sơ hở để trả đủa. Linh mục Lư trả lời phỏng vấn các phóng viên báo chí và đài phát thanh quá nhiều, trả lời nhiều đề tài không cần thiết, nhiều đề tài không thuộc phạm vi chuyên môn là phạm vi mục vụ của ngài, và nhiều khi hứng quá, ngài nói những từ ngữ “kém giao tế” như khi ngài tự xưng là “ngôn sứ của Chúa Thánh Thần.” Điều này, kẻ thù đă lợi dụng và xuyên tạc cho ngài là kẻ kiêu căng, một tiên tri giả! Hy vọng trong tương lai, nếu có linh mục nào phất cờ đấu tranh cho tự do tín ngưỡng, sẽ tránh được vết xe này để tăng hiệu năng đấu tranh cho công cuộc chung./. Houston ngày 18/5/2002. Luật Sư Hoàng Duy Hùng 1. Kỷ niệm sinh nhật thứ 82 của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, vị Cha Chung đă can đảm đặt quyền lợi Tổ Quốc Ba Lan trên hết sẵn sàng từ bỏ ngai Giáo Hoàng về nước đấu tranh nếu Hồng Quân Sô Viết dám đem quân vào xâm lăng nước Ba Lan của ngài vào năm 1979. Hơn nữa, chính vị Giáo Hoàng này tỏ ra rất quan tâm các vấn đề Việt Nam, và trong buổi hội kiến Ad liminia 22/1/2002 với 26 giám mục và 2 linh mục Việt Nam ở Vatican, ngài đă lên tiếng đ̣i tự do tôn giáo cho Việt Nam. 2. Kỷ niệm 1 năm 1 ngày (17/5/2001) CSVN đem 600 công an có vũ trang và roi điện đến giáo xứ An Truyền bắt giam linh mục Tađeô Nguyễn Văn Lư với hai bàn tay trắng, không có một tấc sắt trong tay, chỉ v́ linh mục Lư noi gương Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II dám đ̣i hỏi tự do tôn giáo cho Việt Nam. |
| Bản tin nhanh khẩn cấp của Nhóm Phóng Viên Đấu Tranh V́ Công Lư đánh đi từ Sài G̣n đêm 12/10/2007: Gần một chục công an, mật vụ CSVN mật phục, quây bắt cô Vũ Thanh Phương trong một tiệm Internet trên đường Huỳnh Văn Bánh tại quận Phú Nhuận Sài G̣n vào trưa nay. Nội dung sự việc tóm lược như sau: Trưa nay hồi 13 giờ 15 phút ngày 12/10/2007, sau khi làm công việc tại tiệm Thẩm Mỹ Viện Phụ Nữ chuyên sửa sang sắc đẹp và uốn tóc cho khách hàng xong, cô Vũ Thanh Phương đă rời tiệm mà mấy chị em cô làm chủ cửa hàng này và cũng là người trực tiếp làm việc, điều hành. Tiệm Mỹ Viện Phụ Nữ được đặt trên đường Huỳnh Văn Bánh, quận Phú Nhuận, TP Sài G̣n, cô nghỉ trưa đi tới tiệm Cafe Internet tại số 278 đường Huỳnh Văn Bánh gần tiệm Mỹ Viện của nhà để tranh thủ xem thư từ bạn bè gửi chọ Trong lúc cô đang xem thư th́ bất ngờ có mấy tên mật vụ an ninh CSVN từ đằng sau ập vào khoá giữ chặt 2 tay cô, đồng thời chúng hô lớn : " Cô Vũ Thanh Phương ngồi yên tại đây, chúng tôi là cán bộ an ninh bảo vệ chính trị đă bắt quả tang cô đang gửi tài liệu và nhận chỉ thị của bọn phản động lưu vong hải ngoại và bọn phản cách mạng trong nước !!! ". Ngay ít phút sau tốp mật vụ này chúng gọi điện về công an thành phố xin chỉ đạo và tiếp viện thêm lực lượng, tiếp sau đó lập tức có thêm rất nhiều mật vụ, an ninh và công an CSVN thuộc các đơn vị như PA - 38 của sở công an thành phố Hồ Chí Minh, đội an ninh nhân dân quận Phú Nhuận và công an phường 11 quận Phú Nhuận, Sài G̣n kéo đến rất đông... Người ta đếm được tổng cộng có từ 9 -10 tên các loại công an, mật vụ chính trị của các đơn vị trên. Cụ thể có 2 tên công an phường 11 mặc sắc phục ngành tên là Hoàng Ngô Hoài Phương, Ngô Văn Huông và một tên sĩ quan an ninh thuộc bộ công an CSVN - trung ương bộ phận phía Nam tên là Hoà, số c̣n lại đều là sĩ quan an ninh chánh trị của thành phố và bộ công an mặc thường phục. Tiếp đó chúng bắt cô ngồi im một chỗ trước máy tính cô đă dùng trong tiệm để chứng kiến chúng mang máy in từ sở công an thành phố xuống và bắt đầu in tất cả các thư từ trong hộp thư cá nhân ra mà chúng sẽ dùng để vu cáo và ghán ghép gọi là những hồ sơ tài liệu phạm pháp vi phạm đến cái gọi là an ninh quốc gia !!! Trong lúc khám xét hộp thư cá nhân của cô Thanh Phương trong máy tại tiệm, chúng đă dùng máy quay camera ghi h́nh toàn bộ cảnh để là tư liệu và bằng chứng gọi là phạm pháp quả tang?! Đến hơn 16 giờ chiều tốp mật vụ và công an trên, chúng dẫn giải cô về trụ sở là đồn công an phường 11 quận Phú Nhuận đặt tại số 238 đường Nguyễn Đ́nh Chính cùng quận để tiếp tục thẩm vấn. Nội dung thẩm vấn xung quanh mối quan hệ của cô với các cá nhân trong và ngoài nước cùng tham gia tranh đấu đ̣i dân chủ tự do cho đất nước. Đặc biệt chúng đặt vấn đề nghi ngờ cô là một trong những thành viên chủ chốt của Nhóm Phóng Viên Đấu Tranh V́ Công Lư, một Nhóm công dân quốc nội mà đồng thời họ là những dân oan đi khiếu kiện đang gia tăng các hoạt động giúp đỡ đồng bào dân oan Việt Nam tại Sài g̣n khá tích cực và hiệu quả. Tốp an ninh chánh trị CSVN rất căm tức những hoạt động của Nhóm này v́ họ đă đưa những bản tin, h́nh ảnh biểu t́nh khiếu kiện và cả cảnh tuần hành trên các đường phố Sài G̣n trong mấy đợt xuống đường của đông đảo bà con các tỉnh Nam Bộ vừa quạ V́ thế các cơ quan an ninh mật vụ CSVN t́m mọi cách để đàn áp và bắt bớ Nhóm tranh đấu này nhằm dập tắt mọi hoạt động của Nhóm Phóng Viên nghiệp dự Chúng cho rằng những tin tức và h́nh ảnh của cuộc đấu tranh sôi động mà hàng trăm dân oan các tỉnh được phổ biến trên mạng internet là vô cùng nguy hiểm cho chế độ độc tài đảng trị CSVN. V́ qua đó dư luận thế giới bên ngoài và trong nước biết được khá chính xác mọi diễn biến và sự thật về các cuộc biểu t́nh ôn hoà nhưng khá quyết liệt của đồng bào dân oan trong nước hiện naỵ Điều đó không phải ai cũng có thể thực hiện được trong bối cảnh chế độ độc tài toàn trị vẫn xiết chặt các quyền tự do thông tin, tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do biểu t́nh... Các nhà báo quốc tế hay kể cả các nhà báo trong nước lại càng khó khăn tiếp cận với loại thực tế và tác nghiệp với những loại nội dung thuộc đề tài nhạy cảm rất nguy hiểm này, mặc dù không có điều luật nào của luật pháp, hiến pháp cấm đoán hoạt động mang tính chất thuần tuư báo chí của họ... Đến hơn 19 giờ tối nay các cô Vũ Thiên Nga, Lư Thị Thu Trang và Lư thị Thu Duyên bất chấp chốt canh gác bao vây trước nhà đă đến đồn công an phường 11 đ̣i vào thăm gặp trực tiếp và tiếp tế đồ ăn, nước uống cho cô Thanh Phương, nhưng công an không cho họ gặp mặt. Sức khỏe cô Thanh phương lúc này rất kém v́ cô đă lên cơn đau bao tử, ngất xỉu do đói mệt và bệnh huyết áp thấp do máu thiếu can xị Bất chấp sức khoẻ của cô yếu kém như vậy, nhưng nhiều công an, mật vụ CS vẫn bắt cô ngồi để thẩm vấn rất căng thẳng như một tội phạm nghiêm trọng và nguy hiểm ... Khi nhóm chúng tôi thực hiện tường tŕnh bản tin này th́ được biết đến 22 giờ 30 cô Vũ Thanh Phương đă gọi điện từ buồng tạm giam giữ của công an phường 11 cho em ruột là Vũ Thiên Nga và cô Lư Thị thu Duyên cho biết : Thiếu tá - phó công an phường 11 tên là Phan Trọng Cường theo chỉ đạo của cấp trên đă kư lệnh tạm giữ hành chánh trong 24 giờ đồng hồ đối với cô với lư do họ vu cáo là cô đă vi phạm luật về an ninh quốc gia, đă có hành vi phát tán các tài liệu chống phá đảng và nhà nước Việt Nam XHCN!!! Trước các hành vi xâm phạm quyền Con người, quyền tự do dân chủ, quyền bí mật thư tín và điện thoại ...của công dân của tốp an ninh mật vụ CS nói trên, cô Thanh Phương đă cương quyết không kư vào các biên bản, hồ sơ mà chúng đă tự lập ra và tuyên bố sẽ tuyệt thực dài ngày để phản đối công an CSVN đă trắng trợn vi phạm Nhân quyền của công dân. Dư luận cũng từng biết cách đây gần 06 tháng chị Hồ Thị Bích Khương một công dân Việt Nam quê tỉnh Nghệ An, thành viên của Phong trào đấu tranh đ̣i dân chủ tự do Việt Nam và cũng là thành viên Khối tranh đấu 8406 đă bị an ninh CS tỉnh Nghệ An phục kích bắt giữ cũng tại tiệm internet tại thị trấn Nam Đàn tỉnh Nghệ An và sau đó chúng đă ra lệnh giam chị suốt từ đó đến nay chưa cho gia đ́nh tiếp tế và thăm gặp... Mới đây công an CSVN lại bắt giữ công dân Lê Thanh Tùng quê ở thị trấn Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn thuộc ngoại vi Hà Nội chỉ v́ anh ủng hộ công cuộc vận động cho tự do dân chủ và nhân quyền ở Việt nam và đến nay không biết công an Hà Nội đă giam cầm anh Thanh Tùng ở đâu.... Thêm sự kiện mới nhất nữa là cựu giám đốc trường đảng CSVN, kiêm trưởng ban tuyên giáo huyện, ông Vi Đức Hồi người dân tộc Tày, quê ở huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đang bị bao vây, cô lập và khủng bố rất nặng nề có thể sẽ bị công an bắt giam hoặc đấu tố sắp tới... Qua các sự kiện tiêu biểu và mới nhất trên đây, chứng tỏ ĐCSVN không ngừng gia tăng đàn áp nhân dân trong nước và ra sức ngăn chặn mọi ước vọng Tự do, Dân chủ của mọi người dân cho đất nước chúng tạ Rơ ràng, là đảng và nhà nước CSVN, thực chất họ chỉ là một băng đảng độc tài mafia nhà nước chuyên nghiệp khủng bố và đè nén cả dân tộc ta bằng bạo quyền phi pháp và hết sức thô bạo. Vậy nên đừng ai hăo huyền mơ tưởng rằng trong nội bộ đảng CSVN hiện nay sẽ tự chuyển hoá tiến bộ và văn minh lên, rằng tự họ sẽ nhận thức ra và thức tỉnh rồi sẽ cải cách sâu rộng, mạnh mẽ hơn nữa để hội nhập sâu vào cộng đồng quốc tế, rằng thể chế lạc hậu và lỗi thời này của họ vốn đầy bệnh hoạn sẽ tự vỡ, tự tan ră mà không cần tranh đấu tích cực...v v.. và ... v v... Trên thực tế đ̣i hỏi là tất cả những tấm ḷng yêu nước cần đẩy mạnh tranh đấu kiên tŕ, bền bỉ hơn nữa và chỉ có cách đó mới tạo áp lực mạnh buộc đ̣i tầng lớp thống trị của đảng CSVN phải lui bước và cởi mở hơn nữa mà thôi... Chúng tôi sẽ thông tin tiếp tục đến dư luận trong, ngoài nước và quốc tế xung quanh vụ bắt giữ cô Vũ Thanh Phương khi có thêm những tư liệu và thông tin mới. Nhóm Phóng Viên Đấu Tranh V́ Công Lư tường tŕnh và phổ biến bản tin này từ đường Huỳnh Văn Bánh, quận Phú Nhuận, T P - Sài G̣n Hồi 23 giờ 35 phút ngày 12/10/2007 |
| Giới Thiệu Tác Phẩm: "VIẾT TỪ HANG ĐÁ - Nhỏ Lệ Cùng Dân Cũa TKTT (Bài phát biểu trong buổi ra mắt sách do cơ sở Thi Văn Cội Nguồn và tạp chí Nguồn tổ chức tại San Jose chiều 6 tháng 10 2007) Diên Nghị Cách đây một năm, từ Hà Nội, nhà văn nữ Trần Khải Thanh Thủy e-mail cho một bạn văn trong Thi Văn Cội Nguồn và tạp chí Nguồn, có đoạn: "Trong số bài em gửi, có bài nào lọt được vào mắt xanh của anh không? Cuốn Hồ Chí Minh, nhân vật trăm mặt ngh́n tên có gợi ấn tượng ǵ cho anh không? Có ǵ thông tin cho em biết với. Em rất muốn được anh in cho em một cuốn để đời. Tất nhiên em phải gửi thêm để anh có điều kiện chọn lọc. Có điều thay v́ khó chịu, anh chịu khó đấy nhé". (tr. 389) Đọc những ḍng chữ người bên kia và bên này đại dương tựa hồ tâm t́nh gần gũi. Không phụ ḷng tin cậy và sự ủy thác, Cội Nguồn đă đọc, nhận định, phân tích, chọn lựa khối lượng bài viết của tác giả, dù khó khăn tài chánh, chúng tôi cũng đă cố gắng biến ước mơ thành hiện thực. Và hôm nay, tuyển tập TKTT đă được quư vị, quư bạn mở rộng ṿng tay đón nhận, sẻ chia. Tuyển tập chỉ dày 400 trang trong số ngh́n trang Cội Nguồn đă có, phản ảnh tư duy, cuộc sống của một cây bút nữ, sinh ra lớn lên giữa ḷng cái gọi là XHCN Việt Nam. Được Ban Tổ chức phân công giới thiệu tác phẩm trước quư vị, tôi cảm thấy phần vụ gay go, bởi tuyển tập TKTT khá phong phú nội dung, và đa dạng thể loại, ắt hẳn không thể tŕnh bày đẩy đủ, chi tiết với khoảng thời gian hạn định. Hơn thế, tôi nghĩ để quư vị tiếp cận, thưởng thức tác phẩm sẽ có nhận xét trung thực, hứng thú hơn là được nghe giới thiệu trước. Tôi chỉ xin được nêu lên suy nghĩ riêng, khi đọc Viết Từ Hang Đá - Nhỏ lệ cùng dân, trước hết với ḷng quư trọng và cảm phục tác giả. Bà quả là nhà văn nổi loạn, táo bạo, đối đầu qua ng̣i bút. Bà viết đủ chủ đề, đời sống, sự kiện và con người hiện thực của xă hội và thời đại. Vốn Cá tính bộc trực, ngay thẳng, bà không nhắm cáo buộc bông lông mà tố cáo rạch ṛi từng tên một, trưng dẫn từng t́nh huống, nguyên do. Bà lột bộ mặt giả dối, lừa mị của tập đoàn cầm quyền từ cao xuống thấp. Nhân vật được chiếu cố tận mạng là ông Hồ Chí Minh, người nhập cảng chủ nghĩa chuyên chính vô sản, đứng đầu đảng tay sai Nga Tàu. Ông Tố Hữu, cai tù văn nghệ, rộng quyền mà hẹp dạ, giành vinh quang trên bất hạnh đau khổ của bao nhiêu đồng nghiệp văn thơ và văn nghệ sĩ. Bà cho rằng, đất nước, dân tộc, bi lụy, khốn đọa đến ngày nay hoàn toàn do bàn tay HCM và đảng Cộng Sản. Nếu phải xét công tội nghiêm minh trước lịch sử th́ tội ác họ Hồ chất ngất, trời không dung, đất không tha. Sau Hồ, tập đoàn thừa kế càng tha hóa, hung bạo, tội lỗi, nên cứ phải huyền thoại hóa Hồ, suy tôn Hồ ḥng che lấp sự thật phỉnh lừa đa số quần chúng vốn nhẹ dạ, chịu đựng và cam phận. Thách thức, cọ xát với chế độ cường quyền khắc nghiệt, bà nhận diện rơ nét, mặt thật man rợ, từ đó bà vươn vai Phù Đổng, không hăi sợ, không đắn đo hơn thiệt, bà quyết dấn thân, như một thư kư trung thành thời đại, sử dụng ng̣i bút, ghi chép những ǵ cần lưu lại cho mai sau, đồng thời, trước mắt, bà mong muốn gửi đến ba triệu đồng bào tự do nơi hải ngoại, nỗi trăn trở thao thức của bà đối với tiền đồ đất nước và dân tộc. Bà nhập cuộc, đối kháng, đấu tranh từ khát vọng tự do, và t́nh yêu đồng loại. Bà hiểu rằng khao khát tự do phải tự thân đứng dậy, tự do không đợi chờ mà có, tự do cũng không ân huệ nào ban phát, cũng không phép lạ nào từ cầu xin. Phải chiến đấu để được tự do. Hôm nay chúng ta đang vọng tưởng tự do tại đây, th́ bên Ngưỡng Quang, thủ đô nước Myanmar, châu Á, trong đám biểu t́nh đông đảo chống độc tài quân phiệt, người dân vô tội đă ngă xuống trước họng súng kẻ ác. Có người xấu số đă gắng gượng chút hơi thở sắp tàn, kịp gào lên trước ống kính của truyền thông quốc tế rằng: "Chúng tôi muốn tự do..." Tự do đắt giá dường nào!! TKTT cảm thương, nhỏ lệ bởi đồng bào khốn khó từ núi rừng, đồng ruộng xa xôi kéo về Hà Nội, Sài G̣n, các tỉnh lỵ tiếp tục khiếu kiện trường kỳ, đ̣i lại đất đai bị cướp đoạt, hoa màu tốt tươi bị lũ côn đồ Đảng đốt phá, rượt đuổi người để chiếm đoạt đất, vườn. Bà đă sát cánh với dân oan, ngày đêm bất chấp hiểm nguy, đe dọa, cản trở. Bà giúp dân oan viết đơn từ, chỉ dẫn dân oan gơ đúng cửa quyền lực, nhưng rơ ràng bọn quan quyền, đúng nghĩa với tục ngữ dân gian: "Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan". Đọc Viết Từ Hang Đá - Nhỏ Lệ Cùng Dân người đọc không ngăn cầm được nước mắt, từ nỗi lầm than nghiệt ngă, bị ức hiếp, đối xử bất công. Đọc TKTT, đôi đoạn cũng phải bật tiếng cười thích thú qua những lần đối cung với công an. Bà lư sự vững chắc, c̣n tỏ ra khinh khi, nhạo báng, trêu chọc và khiêu khích. Nếu Công an đă đánh tráo khái niệm buộc tội bà, bà cũng đă linh động dùng gậy ông đập lưng ông... Đọc TKTT, thấm thía buồn đau thế sự, hoặc phấn chấn ḥa đồng niềm vui khi tác giả đánh trúng tim đen bè lũ tham nhũng, háo danh vô đạo. Qua tác phẩm, hiển lộ bút tích xúc tích, rành rọt, khơi gợi và lôi cuốn. Đọc chưa hết bài đă nôn nao muốn thấy kết cuộc, và rơ ràng những kết cuộc thật bất ngờ, thuyết phục. Với kỹ thuật dẫn truyện, diễn luận và tường thuật, TKTT đă cùng với người đọc ḥa chung tâm trạng buồn vui, căm giận, ghét, thương... Một tác phẩm lấp lánh nhiều điểm son, xin thưa là một tác phẩm đạt mong đợi của quần chúng. Đôi khi quá phẫn nộ, uất ức, phải sử dụng từ ngữ dung tục cho hả dạ, nhưng không v́ thế mà mờ nhạt giá trị văn chương trong tác phẩm. Ḍng văn học tỵ nạn và văn học đối kháng vốn cùng màu, cùng vị. Hai ḍng văn học tương tác, qua lại, kết hợp sức mạnh tư tưởng đẩy lùi văn học cực đoan, ám thị chủ nghĩa Mác Lê. Suốt chiều dài lịch sử cộng sản Nga đă sản sinh ra một nhà văn Boris Pastenak, một Solzinetsyn đối kháng quyết liệt đă sống măi với văn học thế giới tự do. Ngày nào quê hương chúng ta c̣n CS, chắc chắn c̣n sản sinh ra nhiều TKTT khác. TKTT đă khiêm tốn gửi đến cho những ai yêu chuộng tự do, quyền làm người một thông điệp thông qua tuyển tập này. Bản thông điệp viết bằng nước mắt cho số phận của dân tộc oan cừu để mong được cứu rỗi mà bà tin rằng ba triệu đồng bào hải ngoại là cứ điểm niềm tin, trí tuệ, của hy vọng cho hơn 80 triệu đồng bào thân yêu trong nước đang khát vọng tự do. TKTT cũng đă phát biểu: "Cho dù CS có phủ sơn, quét phấn lên địa ngục XHCN bằng cách này hay cách khác th́ cái hố ngăn cách giữa dân tộc và bọn chúng vẫn không thể lấp đầy". Hôm nay, quư vị và các bạn nhận đứa con tinh thần đầu tay của TKTT tại đây, giữa không khí chan ḥa tự do, nồng ấm, trong lúc tác giả đang chịu đọa đày giữa lao tù Hà Nội. Ước mong rằng, một tín hiệu nào đó sẽ bất ngờ lọt qua khe cửa pḥng giam bà, nói nhỏ với bà rằng: "Một cuốn sách để đời mà bà hoài băo trông đợi, tin cậy, ủy thác cho Thi Văn Cội Nguồn đă h́nh thành và đă được đông đảo đồng bào hải ngoại khắp nơi đón nhận và thông cảm sâu đầy. Cũng có nghĩa, cuộc đấu tranh v́ lư tưởng tự do, v́ quyền sống và phúc lợi cho đồng bào quốc nội của bà không lẻ loi, đơn độc. Xung quanh bà có hàng triệu tấm ḷng hưởng ứng; hàng triệu người cùng nh́n về một hướng, cùng đi chung đường đến thắng lợi cuối cùng. Khi tuyển tập TKTT phổ biến trên Net và ra mắt độc giả, vào tháng 7, 8 và sau đó trong tháng 9 vừa qua, Hà Nội đă tung tin lên Net rằng TKTT đă xin khoan hồng, đă đầu hàng và đă được thả về với gia đ́nh để đánh lừa dư luận, nhằm làm giảm ảnh hưởng của tác phẩm. Họ chẳng bịp được ai; và có thể họ c̣n sử dụng những thủ đoạn, luận điệu khác, kể cả bọn nằm vùng để vô hiệu hóa tác phẩm và uy tín của tác giả TKTT. Cộng đồng tỵ nạn CS ngày nay lớn mạnh, đoàn kết, đầy kinh nghiệm đấu tranh, với lập trường khẳng quyết và sẽ đánh bại mọi mưu toan xấu xa của họ. Diên Nghị |
| Mục Sư Lũy đă trở về b́nh an vào ngày hôm qua 13/10/2007. Theo như tin được thông báo trên các diễn đàn Paltalk th́ Mục Sư Lũy đă trở về b́nh an vào ngày hôm qua 13/10/2007. Hôm nay 14/10/2007, từ Cambodia, ông Nguyễn Phùng Phong đă gởi ra hải ngoại một lá thư tŕnh bày những chi tiết chung quanh sự mất tích của Mục Sư Lũy trong suốt gần 1 tuần qua. Chúng tôi xin gởi đến quư vị để tường tận. Kính gởi các thân hữu và các báo đài Việt ngữ tại hải ngoại, Mục sư Ngô Đắc Luỹ Về t́nh trạng của Mục sư Lũy th́ trong thời gian gần đây ngoài việc ông liên tiếp bị mật vụ CSVN đe dọa, hoặc là gặp gỡ trực tiếp, hoặc là ngăn cản các tín hữu không được đến hội trường của Mục sư Lũy để thờ phượng, như trường hợp một trong những mật vụ của Việt cộng đă đe dọa một tín hữu của chúng tôi là chị LÊ THỊ THU SANG (Tel: 855-16 608 611), và cảnh báo chị Thu Sang đừng đi nhà thờ của Mục sư Lũy nữa mà mang họa, v́ chúng sẽ bắt Mục sư Lũy, chặt ra nhiều khúc rồi ném xuống sông cho cá sấu ăn thịt trong vài ngày tới đây. Cho nên khi Mục sư Lũy sắp xếp chuyển đến ở với một giáo sĩ người Mỹ có tên là ông Darrel th́ có nhiều “cái đuôi” bám theo. Biết là Việt Cộng sẽ chuẩn bị hành động mưu sát ông khi đến đoạn đường vắng, nên Mục sư đă cố gắng len lỏi vào các ngơ phố đông người, luồn lách qua nhiều ngơ hẹp, để xe mô tô của Việt cộng không thể tiếp cận được, cuối cùng Mục sư Lũy cũng đă cắt được “cái đuôi” và lẩn trốn lên rừng Phnum Ku Len, cách thành phố Phnom Penh khoảng 360kms, lẩn trốn trong các hang đá cho đến hết ngày 14 tháng 10, là ngày kết thúc Tết Chum Beng ở Cambodia, phố phường đông đúc trở lại th́ Mục sư Lũy mới trở lại Phnom Penh được. Tuy nhiên mật vụ của Việt cộng vẫn chưa buông tha, mà vẫn tiếp tục đeo bám Hội Thánh và theo dơi từng đường đi nước bước của Mục sư Lũy để t́m cách bức hại. Hiện giờ, mặc dù hiện đă về đến Phnom Penh, nhưng Mục sư Lũy vẫn phải tiếp tục thay đổi chỗ ở thường xuyên để tránh mọi rủi ro bất trắc. Để nắm biết thêm chi tiết về những sự đe dọa này, xin quư thân hữu vui ḷng liên lạc với chị Lê Thị Thu Sang, nguyên là một tù nhân chính trị tại Việt Nam, và hiện nay là một người tỵ nạn, một tín hữu của Hội Thánh của chúng tôi. Kính nhờ các báo đài Việt ngữ tại hải ngoại cho đăng tải thông tin về sự lẩn trốn và trở về b́nh an của Mục sư Lũy. Đồng thời thông qua quư vị, cho phép nhóm tỵ nạn cộng sản tại Cambodia chúng tôi bày tỏ ḷng tri ân đối với tất cả bà con người Việt ở hải ngoại đă luôn quan tâm để chúng tôi, đặc biệt là đến vị chủ chăn tinh thần của chúng tôi. Trân trọng, Ngày 14/10/2007 Đại diện nhóm người Viêt tỵ nạn cộng sản tại Cambodia Nguyễn Phùng Phong |
| Về vụ bắt giữ cô Vũ Thanh Phương (tiếp theo) timeicon 14.10.2007 | Đề mục: Khiếu Kiện | Email This Post | Print This Post Phóng Viên Đấu Tranh V́ Công Lư. Bản tin tiếp theo của Nhóm Phóng Viên Đấu Tranh V́ Công Lư đánh đi từ Sài G̣n đêm 14/10/2007 xung quanh vụ bắt giữ cô Vũ Thanh Phương tại tiệm internet trên đường Huỳnh Văn Bánh, quận Phú Nhuận Như bản tin trước Nhóm Phóng Viên chúng tôi đă loan về trường hợp tốp công an CSVN gần 10 tên an ninh mật vụ và công an bắt giữ phi pháp hồi 13 giờ 15 phút ngày 13/10/2007 tại tiệm internet cô Vũ Thanh Phương - một chiến sĩ của Phong trào đấu tranh đ̣i Dân chủ, Tự do, Nhân quyền. Cần nhắc lại là cô Thanh Phương là một dân oan rất can đảm đă kiên tŕ đi khiếu kiện tranh đấu nhiều năm đ̣i chánh quyền CSVN trả lại tài sản của gia đ́nh ḿnh đă bị cướp đoạt từ sau ngày gọi là ” Giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam, thống nhứt đất nước thu giang sơn về một mối !!! “. Cô cũng là một người theo Thiên Chúa Giáo quê gốc ở vùng Bùi Chu Phát Diệm tỉnh Ninh B́nh Bắc Việt Nam. Cô đă tham gia phong trào đấu tranh từ năm ngoái và đă gặp gỡ các nhà tranh đấu nổi bật như Cụ Hoàng Minh Chính, ông Lê Hồng Hà, nhà văn Hoàng Tiến, cựu đại tá quân đội CSVN Phạm Quế Dương, các linh mục yêu nước trong Huế như : Tađêô Nguyễn Văn Lư, Phêrô Phan Văn Lợi, nhà báo đối lập Nguyễn Khắc Toàn, bác sĩ Phạm Hồng Sơn, các luật sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, các kỹ sư Bạch Ngọc Dương, Nguyễn Trung Lĩnh, cựu nhà giáo Dương Thị Xuân và nhiều anh chị em tham gia đấu tranh dân chủ khác trong khối 8406 như Hồ Thị Bích Khương, Vũ Thị B́nh, Nguyễn Thị Kỷ, ông Nguyễn Hữu Châu, anh Hoàng Trung Kiên… Sau khi chúng bắt giữ và sau hơn 2 giờ khám xét hộp thư điện tử cá nhân của cô tại tiệm dịch vụ internet, chúng đă đưa cô về đồn công an phường 11, quận Phú Nhuận để hỏi cung như một kẻ tội phạm h́nh sự. Tại đồn công an phường chúng đă thay nhau thẩm vấn cô về các thư từ tài liệu mà cô đă trao đổi với một số nhân vật tranh đấu trong phong trào đ̣i Dân chủ, Nhân quyền ở cả trong và ngoài nước. Chúng xoay quanh nội dung các thư cô viết trao đổi để bàn thảo việc hỗ trợ cho đồng bào dân oan đang biểu tinh tại Sài G̣n hồi tháng 7/2007 với Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi ở Huế và một số anh chị em, đồng bào ở Hải ngoại cùng đấu tranh như anh Trần Hồng Quân thuộc khối 1906 ở Úc Châu, anh Ngô Kỷ ở Hoa Kỳ, ông Sĩ Hoàng ở Ca Na Đa… Chúng đă không ngớt vu cáo, xuyên tạc cho cô đă nhận tiền bạc để hỗ trợ và giúp đỡ cho dân oan khiếu kiện trong các đợt đông đảo bà con Nam Bộ tập trung về Sài G̣n biểu t́nh tranh đâu đ̣i quyền lợi của ḿnh bị chánh quyền CSVN các địa phương cướp đoạt. Tại cuộc thẩm vấn cô đă tuyên bố công khai nhận những bài viết, các phát biểu là lập trường chánh trị tranh đấu và bất đồng chánh kiến của cá nhân ḿnh với đảng, nhà nước CSVN là hoàn toàn phù hợp với quy định của Híên Pháp và Công ước quốc tế Nhân quyền mà chánh phủ, nhà nước CSVN đă xin tham gia và cam kết thực hiện trước cộng đồng quốc tế… Cô cho rằng việc phối hợp cùng đồng bào hải ngoại tranh đấu với đảng và nhà nước CSVN một cách ôn hoà trong hoà b́nh, trong đấu tranh mang tính văn hoá là sự phản kháng trong tư thế của Con người văn minh, tiến bộ rất cần thiết và không có ǵ là sai trái hay vi phạm pháp luật hiện hành trong nước và kể cả của Quốc tế… Sau khi kết thúc lệnh tạm giữ người 24 giờ đồng hồ, đến gần 16 giờ chiều qua ngày 13/10/2007 được lệnh của tổng cục an ninh - bộ công an trung ương, chúng đă dẫn giải cô bằng xe chuyên dùng cảnh sát về trại giam công an tỉnh Đồng Nai là trại tạm giam thành phố Biên Hoà để tiếp tục thẩm vấn và làm các thủ tục theo chúng nói là sẽ bắt giam chính thức cô để tiến hành truy tố. Từ Sài G̣n cùng đi áp giải với cô Thanh Phương về trại tạm giam Biên Hoà có nhiều an ninh mật vụ và người ta c̣n thấy có đại diện viện kiểm sát. Sau khi đưa cô vào trại tạm giam này các cán bộ ” viện kiểm sát nhân dân” - thực chất phải gọi là “viện tàn sát và đàn áp nhân dân” đă thay nhau hỏi cung và ép buộc cô kư vào các biên bản, hồ sơ do chúng tự viết ra. Chúng đe doạ nếu cô không kư tên vào các văn bản đó th́ sẽ có lệnh bắt giam ngay, nhưng cô kiên quyết không kư dưới áp lực khủng bố như vậy của chúng và sẵn sàng ngồi tù tại trại giam này. Trước thái độ kiên cường tranh đấu như vậy của cô, đến 21 giờ 20 phút, chúng tuyên bố tạm thời thả cô ra khỏi trại giam Biên Hoà và kư ngay giấy triệu tập buộc cô phải đến làm việc tại trại tạm giam Biên Hoà vào sáng thứ 2 tuần tới và liên tục các ngày sau đó. Trong thời gian cô bị bắt giữ gần 30 giờ tại Sài G̣n, ngay trong đồn cảnh sát cô đă trả lời trực tiếp một số đài phát thanh Hải ngoại như với chị Bảo Khánh của Việt Nam Sydney ở Úc Châu, với các anh Ngô Kỷ của Radio Quê Hương, anh Hoàng Hà Radio Tiếng Nước Tôi, anh Nguyên Vũ của đài Chân Trời Mới và Diễn đàn Paltakl tiếng nói Tự do Hà Nội - Huế - Sài G̣n ở Hoa Kỳ về t́nh h́nh của ḿnh bị bắt giữ và giam cầm trái phép… Cũng trong suốt thời gian bị bắt giam như trên các cô Lư Thị Thu Duyên và em ruột là Vũ Thiên Nga đă bám sát cô rất chặt chẽ để nắm t́nh h́nh và tiếp tế thăm nuôi. Các cô này luôn luôn túc trực thường xuyên từ bên bên ngoài đồn công an phường 11 và ngoài cổng trại tạm giam Biên Hoà, mặc cho cô Thu Duyên vẫn bị tới 4 mật vụ CS theo bám cả đêm hôm qua. Ngay sau khi cô Vũ Thanh Phương bước ra khỏi cổng nhà tù của chế độ CSVN nói trên đă gặp lại các cô Thu Duyên, Thiên Nga và họ đă trở về Sài G̣n hồi 23 giờ 45 phút đêm ngày 13/10/2007. Cũng trong giây phút đầu tiên bước ra cổng trại giam Biên Hoà vào hồi 21 giờ 25 phút cô đă trả lời điện thoại thông báo t́nh h́nh và thực hiện cuộc phỏng vấn đầu tiên với anh Ngô Kỷ ở Hoa Kỳ về những diễn biến mói nhất… Nhóm Phóng Viên đấu Tranh V́ Công Lư tường tŕnh và phổ biến bản tin này từ phường 11 quận Phú Nhuận TP Sài G̣n và trại tạm giam Biên Hoà Hồi 02 giờ sáng ngày 14/10/2007 |
| Sập Cả Niềm Tin Xă luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 37, ngày 15-10-2007 1- Biến cố làm chấn động dư luận trong và ngoài nước suốt cả tháng nay là vụ cầu Cần Thơ bị sập hai nhịp cầu dẫn đang thi công, dài 90m phía bờ Vĩnh Long, vào lúc 8g ngày 26-9-2007. Đây là chiếc cầu được xây với số tiền trên 2 tỉ mỹ kim do Nhật viện trợ theo chương tŕnh ODA (Viện trợ Phát triển). Thiệt hại về người trong vụ này, tính đến chiều 06-10-2007, là 134 nạn nhân, trong đó có 3 kỹ sư (2 chết, 1 bị thương), 10 kỹ thuật viên trung cấp (4 chết, 6 bị thương), 53 người tử nạn: Vĩnh Long 41, Cần Thơ 2, Hà Nam 2, Quảng Nam, Quảng Ngăi, An Giang, Ninh B́nh, Thái B́nh, Hải Dương, Thanh Hóa, Nam Định mỗi địa phương 1 người. Một người từ Vĩnh Long hiện vẫn đang mất tích. Những tai nạn chết người trong xây dựng là điều thường thấy. Nhưng vụ cầu Cần Thơ bị sập với 134 nạn nhân khi chưa hoàn tất phải chăng là một “tai nạn” (từ của Bộ trưởng Giao thông Vận tải Hồ Nghĩa Dũng trong cuộc họp báo ngày 29-9), nghĩa là một cái ǵ bất ngờ, vượt quá dự liệu của con người, chủ yếu do thiên nhiên gây nên cách mănh liệt (động đất, núi lửa, sóng thần chẳng hạn)? Theo thông tin ban đầu, nguyên nhân sập hai nhịp cầu này là hệ thống giàn giáo yếu. C̣n theo một kỹ sư giấu tên, th́ có thể là v́ những ngày ấy mưa nhiều quá nên đất bị lún, khiến cho giàn giáo không c̣n đỡ nổi. Đây là lối biện minh mà các chuyên gia đều bật cười. Thế rồi báo chí dần dần phanh phui ra nhiều chuyện. Đó là 3 tháng trước khi xảy ra tai nạn lớn nhứt lịch sử cầu đường VN này, một cán bộ lâu năm trong ngành, kỹ sư người Nhật tên Hiroshi Kudo, đă có bài viết cảnh báo về những “rủi ro chết người” có thể xảy ra khi sử dụng giàn giáo cố định. Ông cho biết hệ số an toàn của hạng mục này chỉ đạt 15% và đă cảnh báo: “Điều kiện làm việc này rất nguy hiểm. Nhà thầu cần thiết phải thiết kế lại”. Lời khuyên đă bị bỏ ngoài tai! Rồi người ta lại nhớ tới bản tin với tiêu đề “Bằng mọi giải pháp phải hoàn thành cầu Cần Thơ và đường dẫn cùng lúc” trên báo Cần Thơ Điện Tử số ra ngày 25-09, tường tŕnh buổi làm việc của Thứ trưởng thường trực bộ GTVT Ngô Thịnh Đức ngày 24-09 với ban quản lư dự án về tiến độ xây dựng cầu. Hai thời điểm này đều xảy ra trước thảm họa. Rơ ràng là có một áp lực “hoàn thành chỉ tiêu” để “lập thành tích chào mừng” vốn chẳng lạ ǵ trong chế độ CS. Ngay sau khi xảy ra sự cố bi thảm, người ta lại ngỡ ngàng nghe ông Nguyễn Văn Công, Chánh văn pḥng kiêm phát ngôn nhân của Bộ tuyên bố với báo chí trưa ngày 26-09: “Chưa đến lúc nói đến trách nhiệm của ai mà nên khẩn trương khắc phục hậu quả…”. Sau đó th́ chính ông Bộ trưởng Hồ Nghĩa Dũng tại buổi họp báo tối 06-10 tuyên bố: “Ngay từ đầu, tôi đă nhận trách nhiệm về mặt quản lư Nhà nước với dự án, của Bộ và của chủ đầu tư, nhưng trách nhiệm đến đâu, trách nhiệm thế nào th́ để UB Điều tra Nhà nước xác định nguyên nhân và từ đó xác định trách nhiệm của Bộ, của chủ đầu tư và của cá nhân tôi đến đâu. Tôi sẵn sàng chịu trách nhiệm đến cùng… Nếu cơ quan điều tra xác định tôi đă làm sai trong vụ sập cầu, lúc đó tôi sẽ xem xét đến khả năng có từ chức hay không”. Tại các nước dân chủ văn minh, “chịu trách nhiệm đến cùng” thể hiện bằng việc từ chức ngay khi vừa xảy ra thảm họa. Trớ trêu hơn nữa, vị Bộ trưởng “hứa sẽ có thể từ chức” này đă cho thành lập Ban chỉ đạo điều tra vụ sập cầu Cần Thơ mà đứng đầu là ông Thứ trưởng “chuyên gia áp lực” nói trên. Chưa hết, trong lễ truy điệu các nạn nhân vụ sập cầu, ông chủ tịch NNCS Nguyễn Minh Triết đă gây phẫn nộ công luận khi tuyên bố rằng mặc dù tai nạn mới xảy ra, ông cũng quyết tâm buộc xây xong cây cầu đúng kỳ hẹn, nhất định không được trễ. Nói những lời như thế trước khi có kết quả điều tra t́m hiểu nguyên nhân tai nạn là hấp tấp, vội vàng. Thúc giục xây cầu gấp gáp trong cảnh tang tóc, khi những người lao động không may vừa mới ngă xuống, nhiều nạn nhân vẫn chưa t́m thấy thi hài, là thiếu t́nh thương cảm, chỉ nghĩ đến công việc chứ không nghĩ tới con người. Các nước văn minh nhân bản không bao giờ làm vậy! Rồi lại ḷi ra nhiều chứng cớ rất rơ ràng về việc bán thầu, việc tuyển công nhân bừa băi, thậm chí người này làm việc nhưng lại lấy tên người khác. Chẳng hạn trường hợp em Lưu Thanh Điền 16t ấp Mỹ Hưng 2, xă Mỹ Hoà, huyện B́nh Minh, tỉnh Vĩnh Long. Ngày thường khi đến công tŕnh, em phải mang bảng tên của người anh kế là Lưu Tấn Măi (19 tuổi, có 2 thẻ tên). Đau đớn thay, cả hai anh em nghèo khổ này cùng tử nạn trong thảm kịch. Những chi tiết nói trên chứng tỏ cung cách làm việc của những người có trách nhiệm quả là vô trách nhiệm không thể tưởng tượng nổi. Cung cách đó biểu lộ qua các việc: tuyển nhân công giá rẻ nhằm tăng lợi nhuận; thuê nhà thầu phụ không có năng lực, kinh nghiệm quản lư lao động để kiếm được tiền càng nhiều càng tốt; thi công ẩu tả, vội vàng, nhằm thoát khó khăn và giảm chi phí ḥng sớm ních đầy hầu bao; giám sát chẳng đến nơi đến chốn: chỉ lo tiến độ, lơ độ an toàn, bất chấp lời cảnh báo, cốt để “vượt kế hoạch, lập thành tích”, hầu được tuyên dương khen thưởng và mở rộng hoạn lộ cho ḿnh, c̣n ai chết mặc ai ! 2- Một vụ sụp đổ thứ hai cùng thời nhưng ít gây xúc động hơn, dù hậu quả cũng hết sức tai hại cho đất nước, đó là vụ sụp đổ “Chương tŕnh tin học hóa quản lư hành chánh” mang tên “Đề án 112”. Đề án này, được Thủ tướng CSVN Phan Văn Khải chấp thuận theo Quyết định 112 ngày 25-07-2001, đă coi như hoàn toàn thất bại sau 7 năm thực hiện. Theo tin tức báo chí, nhóm trí thức xă hội chủ nghĩa điều hành Đề án đă biến ngân khoản hơn 3.7 ngàn tỉ đồng (tính đến tháng 9-03) thành một mớ sản phẩm kỹ thuật cao hổ lốn, vô giá trị. Báo Lao Động 15-09-07 c̣n ước lượng tổng số tiền thực hiện Đề án 112 từ trung ương cho tới địa phương có thể lên tới 50.000 tỉ. Báo cáo giám sát của Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường thuộc Quốc hội CS tháng 3-2007 viết: “Đề án 112 đă thất bại cả trên 5 mục tiêu ban đầu, gồm có xây dựng các hệ thống tin học hóa quản lư hành chính nhà nước; xây dựng và tích hợp các cơ sở dữ liệu quốc gia; tin học hoá các dịch vụ công; đào tạo tin học và thúc đẩy cải cách hành chính". Tất cả đă khiến Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng phải ra lệnh chấm dứt từ ngày 19-04-2007 và cho tiến hành điều tra. Báo cáo thực hiện “Chỉ thị 58-CT/TƯ của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa” đă phải chua chát viết: “Chưa đạt mục tiêu! Tŕnh độ ứng dụng Công nghệ thông tin của Việt Nam vẫn tụt hậu quá xa so với một số nước ASEAN và mức trung b́nh thế giới!” Và một lần nữa, Bộ Chính trị đảng CS lại đem những kẻ cầm đầu “Đề án tin học hóa quản lư hành chính nhà nước” xôm tụ và ngon ăn này làm vật tế thần trong giai đoạn hiện tại hầu che đậy sự bất lực của đảng và nhà nước CS trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tiến sĩ Vũ Đ́nh Thuần, nguyên Phó chủ nhiệm Văn pḥng Chính phủ kiêm Trưởng ban Điều hành Đề án (mà có dư luận cho hay chẳng biết ǵ về tin học) đă bị Cơ quan điều tra bắt giam hôm 13-09-07 cùng với 8 nghi can khác. Thành tích đục khoét của họ rất đáng nể, chỉ xin đan cử một chi tiết nhỏ: Vũ Đ́nh Thuần đă kư hơn 30 hợp đồng với Tổng Công ty Phát hành sách và Nhà xuất bản Tư Pháp (nhằm in tài liệu tin học cho cán bộ) theo kiểu ḷng ṿng để nâng giá, gây thất thoát cho nhà nước khoảng 3,4 tỷ đồng, trong đó 1,3 tỷ chia chác cho nhau (vị Phó chủ nhiệm nhà ta được lại quả 500 triệu). Tổng Cty và Nhà xuất bản lại "bán thầu" cho tư nhân để hưởng giá chênh lệch trái pháp luật. C̣n chuyện các thiết bị được mua từ đâu, xuất xứ sản phẩm thế nào, phần mềm tin học ứng dụng ra sao đă khiến hàng tỷ đồng chạy ngon ơ vào túi tham của các bậc trí thức xă hội chủ nghĩa này. Và cũng như trong vụ sập cầu Cần Thơ, Giáo sư Tiến sĩ (ngoài đảng) Phan Đ́nh Diệu đă phát hiện sự sai lầm của cái "dự án thổ tả 112" ngay từ trong trứng nước nên có "sớ trảm" đệ tŕnh lên thủ tướng Phan Văn Khải ngay từ năm 2001. Thế nhưng "đỉnh cao trí tuệ" cùng "quốc hội gia nô" đă không một ai có ư kiến và chẳng một ai thèm nghe lời !!! (Báo Thanh Niên số 260 ngày 17-9-2007). 3- Hai vụ sụp đổ tiêu biểu trên nguyên nhân là từ đâu? Có người cho rằng đó là do pháp luật chưa nghiêm, kiểm tra chưa chặt, quản lư c̣n lỏng lẻo. Điều này cũng có phần đúng, v́ nơi này nơi khác trên thế giới cũng có sự rút ruột công tŕnh hay thi công ẩu tả, đôi khi đưa đến thảm họa, như vụ sập cầu ở Québec bên Canada năm 1907. Thế nhưng, với hàng ngàn hàng vạn vụ việc tương tự, kể từ vụ Thủy điện Ḥa B́nh năm 1986 với mấy chục công nhân tử nạn lao động (nhưng tin tức đă bị ém nhẹm, theo tác giả Bùi Tín), đến vụ vô số chung cư không ai dám ở tại Hà Nội và Sài g̣n, vụ hầm chui Văn Thánh sửa măi chẳng xong, vụ đục khoét công quỹ PMU 18 đem đi đánh bạc, vụ cướp trắng đất đai của hàng triệu nông dân, vụ bóc lột hàng vạn vạn công nhân đến tận xương tủy…, tất cả đă cho người ta thấy rằng đó là cơn bệnh măn tính, là con đẻ đương nhiên của chế độ toàn trị độc tài cộng sản. Chế độ này trước hết nhồi vào tim óc con người, nhất là các đảng viên, thứ chủ nghĩa vô thần duy vật, coi khinh nhân phẩm và mọi giá trị tinh thần khác, chỉ biết thủ đắc của cải, thành công và lợi nhuận bằng mọi phương cách, chẳng hề sợ một quyền lực linh thiêng nào đó nhắc bảo trong lương tâm hay xét xử trong mai hậu. Chế độ này lại nhốt con người trong một guồng máy cai trị độc tài độc đảng, đưa ra mọi đường lối và thực hiện mọi chương tŕnh cách cưỡng bức, duy ư chí, coi rẻ mạng sống con người, bất chấp các quy luật đạo đức, chỉ cốt đạt những thành tựu không phải cho toàn xă hội nhưng để phục vụ quyền lợi và củng cố quyền lực của đảng. Tuy nhiên, chính v́ không dựa trên ư thức, tự do và niềm tôn trọng nhân phẩm, nên mọi công tŕnh hoặc là thất bại, hoặc thành công nhưng phải trả giá bằng máu và nước mắt nhân dân. Rốt cục vẫn là sự tụt hậu, đói nghèo, khủng hoảng triền miên với bao vấn đề không giải quyết nổi, trong sự sụp đổ niềm tin hoàn toàn của mọi công dân đất nước. T́nh thế bế tắc này chỉ giải gỡ bằng sự biến mất của chế độ độc tài toàn trị cộng sản mà thôi. Ban Biên Tập |
| GƯƠNG ANH DŨNG !! Đại Tá Hồ Ngoc Cẩn SVSQ Khóa 2 Hiện Dịch Đồng Đế Nha Trang Người dân Cần Thơ lén đưa thi thể có Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn về ... và phủ lên một lá cờ Việt Nam Cộng Ḥa ... mà cố Đại Tá đă suốt đời phục vụ cho lư tưởng của Việt Nam Cộng Hoà. NGUYEN HUY HUNG Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn Hồ Ngọc Cẩn (24 tháng 3 năm 1938 - 14 tháng 8 năm 1975) là một sĩ quan trong Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa. Ông giữ nhiều chức vụ tác chiến trong binh chủng biệt động quân trong giai đoạn đầu đường binh nghiệp, rồi được biệt phái sang các Sư đoàn 21 và Sư đoàn 9 bộ binh. Chức vụ cuối cùng lúc bị phía cộng sản bắt là đại tá tỉnh trưởng tỉnh Chương Thiện (tỉnh lị là Vị Thanh nay là tỉnh lị tỉnh Hậu Giang). Sau khi lệnh từ Sài G̣n kêu gọi buông súng ông vẫn c̣n chiến đấu để cuối cùng đối phương vây bắt và mang ra xử bắn tại sân vận động Cần Thơ ngày 14 tháng 8 năm 1975. Thiếu thời Ông sinh ngày 24 tháng 3 năm 1938, tại miền tây. Thân phụ là một hạ sĩ quan trong quân đội Quốc gia Việt Nam. Thuở nhỏ ông rất khỏe mạnh, không hề bị bệnh tật ǵ. Năm 10 tuổi ông bị bệnh quai bị, cả hai bên. Tính t́nh hiền hậu, giản dị, trầm tư, ít nói. Khi ông bắt đầu đi học năm (1945) th́ Chiến tranh Pháp-Việt bùng nổ, nên sự học bị gián đoạn. Măi đến năm 1947 ông mới được đi học lại. Ông học chỉ đứng trung b́nh trong lớp. Năm 1951, phụ thân nộp đơn xin cho ông nhập học trường thiếu sinh quân. Thời điểm này, trên toàn lănh thổ Việt Nam có 7 trường thiếu sinh quân như sau: Trường thiếu sinh quân đệ nhất quân khu, ở Gia Định Trường thiếu sinh quân đệ nhị quân khu ở Huế Trường thiếu sinh quân đệ tam quân khu ở Hà Nội Trường thiếu sinh quân Móng Cái dành cho sắc dân Nùng Trường thiếu sinh quân đệ tứ quân khu ở Ban Mê Thuột Trường thiếu sinh quân Đà Lạt của quân đội Pháp Trường thiếu sinh quân Đông Dương của quân đội Pháp, ở Vũng Tàu Ông được thu nhận vào lớp nh́ trường thiếu sinh quân đệ nhất quân khu niên khóa 1951-1952. Trường này dạy theo chương tŕnh Pháp. Ông đỗ tiểu học năm 1952. Cuối năm 1952, trường thiếu sinh quân đệ nhất quân khu di chuyển từ Gia Định về Mỹ Tho. Khi Hiệp định Genève kư ngày 20 tháng 7 năm 1954, th́ ngày 19 tháng 8 năm 1954, trường thiếu sinh quân đệ tam quân khu di chuyển từ Hà Nội vào, sát nhập với trường đệ nhất quân khu ở Mỹ Tho. Niên học 1954-1955, trường bắt đầu dạy chương tŕnh Việt, và chỉ mở tới lớp đệ ngũ. Ông học lớp đệ lục A, giáo sư dạy Việt văn là ông Nguyễn Hữu Hùng, từ Bắc di cư vào. Thực là một điều lạ là giữa một số bạn học chương tŕnh Việt từ Bắc vào mà ông lại tỏ ra xuất sắc về môn Việt văn. Trong năm học, có chín kỳ luận văn, th́ bài của ông được tuyển chọn là bài xuất sắc, đọc cho cả lớp nghe bảy kỳ. Nhưng bài của ông chỉ đứng thứ nh́ trong lớp mà thôi. Binh nghiệp Năm 17 tuổi ông được gửi lên học tại Liên trường vơ khoa Thủ Đức, về vũ khí, niên khóa 1955-1956. Sau ba tháng, ông đậu chứng chỉ chuyên môn về vũ khí bậc nhất với hạng ưu. Sáu tháng sau đó, ông lại đậu chứng chỉ bậc nh́, và bắt đầu kư đăng vào quân đội với cấp bậc binh nh́. Theo quy chế dành cho các thiếu sinh quân thời đó, một học sinh ra trường, th́ ba tháng đầu với cấp bậc binh nh́, ba tháng sau với cấp bậc hạ sĩ, ba tháng sau thăng hạ sĩ nhất, và ba tháng sau nữa thăng trung sĩ. Chín tháng sau ông là trung sĩ huấn luyện viên về vũ khí. Chiến tranh tại miền Nam tái phát vào năm 1960 tại một vài vùng. Sang năm 1961 th́ lan rộng. Để giải quyết nhu cầu thiếu sĩ quan, bộ quốc pḥng cho mở các khóa sĩ quan đặc biệt. Ông được gia nhập học Khóa 2 Sỉ Quan Hiện Dịch tại Quân Trường Đồng Đế Nha Trang và tốt nghiệp với cấp bậc chuẩn úy. Sau khi ra trường, ông theo học một khóa huấn luyện biệt động quân, rồi thuyên chuyển về phục vụ tại khu 42 chiến thuật, với chức vụ khiêm tốn là trung đội trưởng thuộc tiểu đoàn 42 biệt động quân "Cọp ba đầu rằn". Lănh thổ khu này gồm các tỉnh Cần Thơ (Phong Dinh), Chương Thiện, Sóc Trăng (Ba Xuyên), Bạc Liêu, Cà Mau (An Xuyên). Nhờ tài chỉ huy thiên bẩm và chiến đấu gan dạ nên ông được thăng cấp đặc cách nhiều lần tại mặt trận lên đến trung úy và được bổ nhiệm làm tiểu đoàn phó tiểu đoàn 42. Cuối năm 1966, ông từ biệt tiểu đoàn 42 biệt động quân đi làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 trung đoàn 33 thuộc sư đoàn 21 bộ binh. Suốt năm 1967, ông với tiểu đoàn 1 tung hoành trên khắp lănh thổ năm tỉnh vùng sông Hậu. Sau trận tổng công kích Mậu Thân, ông được thăng thiếu tá. Năm 1968, ông là người có nhiều huy chương nhất quân đội. Năm 1970, ông được thăng trung tá và rời tiểu đoàn 1 trung đoàn 33 đi làm trung đoàn trưởng trung đoàn 15 thuộc sư đoàn 9 bộ binh. Năm 1972, ông được lệnh mang trung đoàn 15 từ miền Tây lên giải phóng An Lộc. Cuố |