Posted: 12/2/2005 7:14:16 PM

“GÓP GIÓ THÀNH BĂO” MỘT ĐỀ NGHỊ ĐƯỜNG LỐI HÀNH ĐỘNG CHỐNG CỘNG TRONG HIỆN TẠI. Năm 1945, Thế giới Đại chiến II chấm dứt, các Đảng phái Chính trị Quốc gia Nhân bản Dân tộc và toàn Dân Việt Nam liên hiệp với phe nhóm Cộng sản Hồ Chí Minh giành lại được Độc lập cho Dân tộc. Nhưng chỉ được mấy tháng sau th́ Hồ Chí Minh phản bội. Ông ta nhân danh Chủ tịch Chính phủ cùng với Vũ Hồng Khanh trong Chính phủ Liên Hiệp, đại diện dân tộc Việt Nam kư với Saintenay đại diện Pháp tại Hà Nội, Hiệp Ước Sơ Bộ ngày 6 tháng 3 vào lúc 16 giờ 30, tại số 38 đường Lư Thái Tổ, để cho quân Pháp được tự do trở lại chiếm đóng nhiều nơi trên miền Bắc và miền Trung Việt Nam (Hải Pḥng, Hà nội, Nam Định, Hải Dương, Bắc Ninh, Phủ Lạng Thương, Điện Biên Phủ, Lai Châu, Ḥn Gay, Tiên Yên, Móng Cáy, Lộc B́nh, Lạng Sơn, Đồng Đăng, Thất Khê, Cao Bằng, Đà nẵng, Huế,…). Đặc biệt vào sáng sớm ngày 6 tháng 3, lúc đó Hiệp Ước chưa chính thức kư, thế mà quân Pháp đă được tầu chiến chuyên chở từ Vịnh Hạ Long tiến vào sông Bạch Đằng thương thuyết với quân Tầu để đổ bộ lên chiếm hải cảng Hải Pḥng. Đại ư nội dung Hiệp Ước Sơ bộ ngày 6 tháng 3, đă được chính phủ Pháp tái xác nhận và công bố chính thức sau Hội nghị Fontainebleau khai mạc vào đầu tháng 7-1946, quy định : 1.- Việt Nam chấp nhận cho Pháp đổ 15,000 quân lên một số tỉnh tại miền Bắc Vĩ Tuyến 16 trên đất nước Việt Nam để thay thế 180,000 quân Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch, do Tướng Lư Hán chỉ huy, đang đại diện Liên Hiệp Quốc thi hành việc giải giới quân Phiệt Nhật. 2.- Pháp nh́n nhận Việt Nam là một “Quốc gia tự do” (Etat libre) trong Liên Hiệp Pháp (Union francaise); và nhân dân Việt Nam sẽ tự quyết định sự thống nhất lănh thổ của ḿnh qua một cuộc trưng cầu dân ư. Pháp c̣n hứa là sẽ rút quân ra khỏi Việt Nam trong ṿng 5 năm. Nghiên cứu kỹ nội dung bản Hiệp Ước và những Phụ bản Quân sự, người ta thấy rơ ràng đây là Tờ Giao Kèo bán nước hại dân của Hồ Chí Minh và phe nhóm Cộng sản Việt Nam, là văn kiện chính thức chấp nhận sự có mặt hợp pháp của quân Pháp trên toàn cơi Việt Nam, sau khi quân Pháp đă đánh chiếm và thành lập xong chính quyền đô hộ toàn miền Nam Việt Nam và phân nửa miền Trung từ Vĩ Tuyến 16 trở xuống, từ ngày 31 tháng 1 năm 1946 khi quân Anh Cát Lợi, đại diện Liên Hiệp Quốc giải giới quân Nhật tại miền Nam Vĩ Tuyến 16, bắt đầu rút ra khỏi Việt Nam trao quyền quản trị cho quân Pháp. Các Đảng phái Chính trị Quốc gia không Cộng sản, bất măn, tổ chức biểu t́nh chống đối, bị Hồ Chí Minh dùng Công An xung phong vây bao các trụ sở của Đảng phái nói trên và bắt bớ giam cầm tiêu diệt tất cả thành viên, để chiếm độc quyền quản trị đất nước theo Chủ nghiă Tam Vô chuyên chính do Liên Xô Nga lănh đạo. Từ đó bắt đầu phát sinh trận chiến đấu tranh của các Đảng phái không Cộng sản chống lại phe nhóm Cộng sản của Hồ Chí Minh, dưới nhiều h́nh thức khác nhau cho đến tận bây giờ. Sau Thế giới Đại chiến II, các nước trên Địa cầu bị phân chia thành hai khối đối đầu nhau dưới h́nh thức “Chiến tranh Lạnh”. Một bên do Liên xô viết Cộng sản Nga lănh đạo gồm các nước Đông Âu, một nửa phiá Đông nước Đức bị Hồng quân Nga chiếm đóng, Trung Cộng, nửa phiá Bắc Việt Nam, nửa phiá Bắc nước Đại Hàn, và một bên do Hoa Kỳ lănh đạo gồm các nước Tư bản Tây phương và các nước nhược tiểu mới giành lại được độc lập (không theo Cộng sản). “Chiến tranh Lạnh” kéo dài cho đến những năm cuối thập niên 1980 qua đầu thập niên 1990 mới chấm dứt, khi đại khối Cộng sản Liên xô Nga và các nước Cộng sản Đông Âu bị xụp đổ hoàn toàn. Hiện nay chỉ c̣n Trung Cộng, Việt Nam, Bắc Hàn và Cuba, là đang tiếp tục theo chính sách Độc Đảng chuyên chính toàn trị độc tài xảo quyệt khát máu, theo cái tư tưởng lỗi thời mộng tưởng của Mác Lê-nin lạc hậu so với thời đại tin học tiên tiến, hoà đồng phát triển, và các quyền Tự do Dân chủ Nhân quyền B́nh đẳng của nhân loại được tôn trọng trên toàn Thế giới. Sở dĩ nhóm 4 quốc gia Cộng sản này c̣n tồn tại được đến ngày hôm nay, v́ tập đoàn lănh đạo áp dụng chính sách Vô sản chuyên chính, độc đảng tập quyền toàn trị bằng bạo lực Công An Quân phiệt áp bức dân chúng phải tuân theo, cùng với hệ thống tuyên truyền xảo trá lưu manh một chiều bưng bít vô liêm sỉ của chúng. Riêng đối với Việt Nam, từ sau ngày Quốc hận 30 tháng 4 năm 1975, Cộng sản Bắc Việt xâm lăng toàn miền Nam Việt Nam và áp đặt chế độ chuyên chính Xă hội Chủ nghiă lên toàn đất nước Việt nam, th́ “cuộc chiến bất bạo động” của toàn dân Việt Nam chống Cộng sản Việt Nam, ở trong nước cũng như đang lưu vong tỵ nạn nơi hải ngoại, bắt đầu bộc phát mạnh mẽ và liên tục suốt 30 năm nay, bằng nhiều phương thức hành động khác nhau. Chính v́ mọi người không muốn dùng bạo lực tiêu phí xương máu của đồng bào ḿnh nhiều hơn nữa, sau gần nửa Thế kỷ đất nước và Dân tộc bị đắm ch́m trong lửa đạn của cuộc “chiến ư thức hệ Quốc Cộng” “huynh đệ tương tàn” do chính bè lũ Cộng sản Việt Nam với sự hỗ trợ thúc đẩy của phe nhóm Cộng sản Quốc tế Nga đă mù quáng gây ra, nên chưa gặt hái được thành quả tối hậu là “giải trừ được bè lũ Mafia Cộng sản Việt Nam”, để cứu Dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách tôi đ̣i lao khổ như mong muốn. Và cũng v́ bản chất nhân hậu tôn trọng Dân chủ Tự do Nhân quyền của những con người Tự do không Cộng sản, nên các nhóm tranh đấu và đoàn thể Quốc gia Nhân bản chưa kết hợp được thành một khối vững chắc thuần nhất với kỷ luật sắt độc tài như Cộng sản, để chung lưng đấu cật thúc đẩy cuộc đấu tranh một cách mạnh mẽ đạt kết quả nhanh chóng như toàn Dân tộc Việt Nam trông đợi. Trong t́nh h́nh biến chuyển sôi động trên Thế giới và Việt Nam hiện nay, một số nhà khoa bảng, trước kia từng góp phần tích cực trong các Chính quyền tại miền Nam Việt Nam, hoặc thuộc thành phần thứ ba từng muốn Trung lập sống chung hoà b́nh với Cộng sản (nhưng sau 30 tháng 4 năm 1975 đă bị Cộng sản Việt Nam khinh rẻ bắt bớ đầy ải trong ngục tù tập trung, y như những ngựi chiến binh Việt Nam Cộng hoà kiên cường cầm súng và các nhân sĩ, nhà văn, nhà báo cầm bút trực diện chống Cộng sản xâm lăng miền Nam Việt Nam), đang tỏ ra nóng ḷng lên tiếng góp phần đề nghị giải pháp cho vấn đề Việt Nam theo chiều hướng “quên đi quá khứ, hoà hợp hoà giải đại đoàn kết dân tộc” mà Cộng sản Việt Nam đang rêu rao kêu gọi. Quư Vị ấy nhận định rằng, hiện nay trong hàng ngũ của Cộng sản VN cũng như trong hàng ngũ Quốc gia Nhân bản chống Cộng, đang phân hoá ra thành 2 nhóm : “Cực đoan bảo thủ” và “Đổi mới muốn hoà hợp hoà giải”. Quư Vị ấy cũng suy đoán rằng v́ xu thế biến chuyển của thời đại tin học đồng tiến toàn cầu hiện nay, các nhóm cực đoan của cả 2 bên sẽ bị đào thải, và tất nhiên 2 nhóm đổi mới của cả 2 bên cần t́m cách ngồi lại hợp tác hỗ trợ nhau “nội công ngoại kích” th́ chắc chắn việc “đại đoàn kết dân tộc” sẽ sớm đạt thành quả tốt đẹp, và nhóm mới thành h́nh này sẽ là nhóm lănh đạo ṇng cốt chuyển tiếp cho thời hậu Cộng sản, để xây dựng thể chế Đa nguyên Tự do Dân chủ Pháp trị và Nhân quyền sẽ được bảo vệ tôn trọng tại Việt Nam. Theo thiển kiến, đây là những suy tư rất có giá trị đáng trân trọng. Tuy nhiên, bài học kinh nghiệm không chỉ riêng của dân tộc Việt Nam mà có thể nói là của cả các dân tộc khác trên toàn Thế giới, về hậu quả liên hiệp hoà hợp hoà giải sống chung với Cộng sản Việt Nam suốt hơn nửa Thế kỷ qua, dưới nhiều hoàn cảnh và h́nh thức khác nhau, đă đem lại t́nh cảnh khốn đốn cho dân tộc Việt Nam ngày hôm nay. Bằng chứng cụ thể là, quảng đại quần chúng Việt Nam vẫn nghèo đói lao khổ triền miên, chỉ có nhóm cán bộ đảng viên Cộng sản “giai cấp Tư bản Phong kiến Đỏ mới” và bầu đàn thê tử tôn của chúng, mới được độc quyền hưởng thụ “vinh thân ph́ da” xuất ngoại như đi chợ, hiển nhiên rành rành ra đó ai cũng thấy được rơ ràng. Do đó, chúng ta không thể v́ “cuộc chiến bất bạo động” diễn tiến từ 30 năm nay chưa đem lại thành quả mong muốn, mà nôn nóng “nhẹ dạ cả tin” vào những “c̣ mồi” do bè lũ Cộng sản Việt Nam tung ra dụ dỗ mê hoặc, như chúng vẫn từng làm trong quá khứ, để giúp cho chúng có cơ hội mua thời gian củng cố lại nội bộ “lùi một bước để tiến lên hai bước” theo chiến thuật cũ rích của chúng nữa. Có người cho rằng chúng ta đang thiếu một lănh tụ, một chủ thuyết căn bản vững mạnh có thể đánh đổ tận gốc rễ chủ thuyết Cộng sản Mác Lê. Điều đó theo thiển ư, hiện nay không c̣n là điều kiện căn bản cần thiết nữa. V́ sau hơn 70 năm thực thi chủ thuyết Cộng sản Mác Lê, thực tế cuộc sống của quảng đại quần chúng trong các nước xă hội chủ nghiă tồi tệ nghèo đói chậm phát triển, thua xa cuộc sống của quần chúng trong các xă hội theo Tư bản chủ nghiă, và hậu quả hiển nhiên đă xẩy ra là Quốc tế Cộng sản do Liên Xô Nga lănh đạo xụp đổ hoàn toàn, ngay tại cái nôi đă phát sinh ra nó. Đặc biệt sự xụp đổ đó, lại do chính quảng đại quần chúng trong các nước xă hội chủ nghiă, với sự hợp tác của các lănh tụ đảng viên nóng cốt trung kiên của đảng Cộng sản vùng lên đạp đổ phế bỏ, để giành lại các quyền căn bản của con người đă bị các chính quyền chuyên chính Cộng sản tước đoạt suốt mấy chục năm trời. Hiện nay, t́nh trạng nội bộ bè lũ Mafia Cộng sản Việt Nam đang phân hoá lủng củng tột cùng, cũng như bị toàn dân khinh bỉ không c̣n nể sợ như trước kia nữa, chính là nhờ vào hiệu quả “cuộc chiến bất bạo động” do những người Việt Nam chống Cộng đang lưu vong tỵ nạn trên toàn thế giới, cùng những người từng là đảng viên Cộng sản nay đă phản tỉnh, nhiệt t́nh thường xuyên tiếp tay cùng toàn dân, vận động thúc đẩy cuộc đấu tranh dưới mọi h́nh thức trong mọi lănh vực gọi là “diễn biến hoà b́nh” từ mấy chục năm nay mà có được, chớ đâu cần phải tôn vinh một minh chủ nào để hướng dẫn? Nếu ta ví cuộc đấu tranh giải thể bè lũ Mafia Cộng sản Việt Nam hiện nay, như một cuộc đấu vơ triệt hạ bọn cướp to con, ù ĺ tàn bạo, có sức mạnh súng đạn và thủ thuật vơ công MA GIÁO, nhưng đang rơi vào trạng thái tinh thần sa sút v́ “tứ bề thọ địch”, c̣n những nhóm người đánh bọn cướp là các nhóm nhân sĩ và đoàn thể tranh đấu cho Tự do Dân chủ Nhân quyền cho dân tộcViệt Nam, cả ở trong lẫn ngoài nước, dù chỉ là các nhóm vơ sĩ CHÍNH GIÁO nhỏ thó không có một tấc sắt trong tay, nhưng mưu lược thông minh nhân hậu, th́ đâu cần phải chờ bầu ra một minh chủ mới tiếp tục cuộc đấu đến thắng lợi cuối cùng. Mục đích chung là triệt hạ bọn cướp, vậy mỗi nhóm vơ sĩ hăy tùy theo khả năng kỹ thuật vơ công của ḿnh, hiệp lực cùng mọi giới đồng bào đang bị bọn cướp trấn áp bóc lột cùng tiến lên một lượt, đồng loạt tung ra các ngón đ̣n chí tử liên tiếp từ khắp mọi hướng đánh vào các yếu huyệt của bọn cướp, th́ chúng sẽ luống cuống chống đỡ không kịp, và chắc chắn phải ngă quỵ không c̣n cơ may ngóc đầu lên nổi nữa. Sau khi hạ xong quân cướp rồi, th́ toàn dân sẽ cùng các nhóm nhân sĩ và đoàn thể đấu tranh cho Dân chủ Nhân quyền của dân tộc Việt Nam, hiệp lực dựng lên một Chính quyền Liên hiệp chuyển tiếp để xây dựng nền móng cho một chế độ chính trị Đa nguyên Dân chủ Pháp trị B́nh quyền Công bằng Nhân ái, như mọi người từng mơ ước từ những năm đầu Hậu bán Thế kỷ 20 đến nay. Đây là chiến thuật “GÓP GIÓ THÀNH BĂO”, cũng có thể gọi là “chiến thuật biển người” do chính Cộng sản từng dùng xưa nay để cướp chính quyền, mà người viết mạo muội đề bạt để Quư Vị nhân sĩ đang c̣n quan tâm lo lắng cho tương lai trường tồn của Dân tộc đất nước Việt Nam, xét định tiếp tay hỗ trợ cho các nhóm nhân sĩ và đoàn thể đấu tranh cho Dân chủ và Nhân quyền cho Việt Nam ở trong nước cũng như nơi hải ngoại, có đủ phương tiện và hoàn cảnh thuận lợi tiếp tục ra sức đấu tranh mạnh mẽ hơn nữa, ḥng sớm cứu Dân tộc Việt Nam thoát ra khỏi ách cai trị độc đảng độc tài chuyên chính toàn trị bạo tàn của bè lũ Mafia Cộng sản Việt nam, để quảng đại quần chúng Dân tộc Việt Nam ở trong nước có được một cuộc sống đầy đủ ấm no hạnh phúc, Nhân quyền được tôn trọng bảo vệ một cách b́nh đẳng, quốc gia Việt nam trường tồn hưng thịnh kịp thời đại mà các dân tộc khác trên toàn Thế giới đang được hưởng. Cầu xin Thượng Đế, Hồn thiêng sông núi ḍng giống Tiên Rồng và Anh linh các Thánh Hiền Tử sĩ Việt Nam, phù trợ cho tất cả chúng ta có đủ can đảm sáng suốt, tiếp tục đoàn kết chặt chẽ cùng toàn dân Việt Nam dấn thân tranh đấu sớm loại trừ được bè lũ Mafia bạo tàn vô nhân đạo Cộng sản Việt Nam, để rồi cùng nhau phục hưng Quốc gia Dân tộc Việt Nam trường tồn thịnh vượng trong thanh b́nh hạnh phúc muôn đời trên quả địa cầu này. NGUYỄN-HUY HÙNG cựu quân nhân Quân lực Việt Nam Cộng hoà, cựu Tù nhân chính trị HO.10.

Posted: 12/2/2005 7:16:19 PM

BÀN VỀ "NGHỊ QUYẾT SỐ 36/NQ-TW NGÀY 26/3/2004 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VIỆT CỘNG VỀ CÔNG TÁC ĐỐI VỚI NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI Trần Nghi Hoàng Cứ tưởng tượng thôi về một đất nước được cai trị bởi những "Nghị Quyết", những "Pháp Lệnh" và những "Chương Tŕnh Hành Động"..., tôi đă có cảm giác ghê người! Ngày 26 tháng 3 năm 2004, Bộ Chính Trị Nhà Nước Việt Cộng tung ra Nghị Quyết 36/NQ-TW (xin gọi tắt là Nghị Quyết 36), chuyên về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Nhưng để rơ ràng hơn, tôi cho rằng cần phải chú thích là Nghị Quyết này đặc biệt để "đối phó" với những người Việt lưu vong tị nạn cộng sản. Những văn bản mang các tên gọi như "Nghị Quyết", "Pháp Lệnh", "Chương Tŕnh Hành Động"..., thường khiến cho người ta liên tưởng đến các nhóm chữ "nhất thời", "tạm thời", "trong giai đoạn ngắn"... Có nghĩa là nó chỉ để giải quyết một hiện t́nh hiện trạng đang tức th́ xảy ra. Những "Nghị Quyết", "Pháp Lệnh" hay "Chương Tŕnh Hành Động" chẳng thể nào hàm ẩn một kế hoạch lâu dài hay thể hiện tính "lịch sử" cần thiết! Bởi đó, theo đúng "bài bản" và "truyền thống" của Đảng và Nhà Nước Việt Cộng, sau khi "Nghị Quyết 36" được công bố không bao lâu, khoảng một tháng rưởi sau, vào sáng ngày 21 tháng 7 năm 2004, Đảng và Nhà Nước Việt Cộng phải triệu tập một buổi "Hội Nghị Phổ Biến Và Quán Triệt Nghị Quyết 36 Của Bộ Chính Trị Về Công Tác Đối Với Người Việt Nam Ở Nước Ngoài". Mục đích rốt ráo của "Hội Nghị" này là để h́nh thành một văn bản mang tên "Chương Tŕnh Hành Động Của Chính Phủ Thực Hiện Nghị Quyết 36 Của Bộ Chính Trị Về Công Tác Đối Với Người Việt Nam Ở Nước Ngoài". Những bài viết về các nhân vật được phỏng vấn trong Nếu Đi Hết Biển (NĐHB) của Trần Văn Thủy (TVT), tôi đă hoàn tất, và sẵn sàng để xuất bản. Tuy nhiên, tôi muốn thêm mấy bài ở phần "phụ lục" cho cuốn "Trần Văn Thủy: Chuyện KHÔNG Tử Tế", là tên cuốn sách gồm những bài viết đăng trên báo Văn Nghệ (Virginia) và các trang Web với tựa cũ là "Những Nhịp Cầu Tre - Không Nối Được Hai Bờ Của Một Đại Dương" - Phần "Ohụ Lục" sẽ gồm những bài tôi viết về "Nghị Quyết 36" (NQ 36), về "Hội Nghị Phổ Biến Và Quán Triệt Nghị Quyết 36" (HNPBVQTNQ 36) và "Chương Tŕnh Hành Động Của Chính Phủ (Việt Cộng) Thực Hiện Nghị Quyết 36..." (CTHĐ... NQ 36).v.v.. Tôi tin rằng sau "HNPBVQTNQ 36", Đảng và Nhà Nước Việt Cộng sẽ c̣n rất nhiều những "Nghị Quyết Bổ Túc", "Hội Nghị Phổ Biến Và Quán Triệt Nghị Quyết 36 Bổ Túc" để rồi sẽ đẻ ra thêm những "Chương Tŕnh Hành Động... về Nghị Quyết 36 Bổ Túc" nữa. Đó là sách lược chuyển biến từng giờ từng ngày của Đảng và Nhà Nước Việt Cộng, với mục đích tối hậu là "nối lại khúc ruột ngàn dặm" mà từ 28 năm qua (và cho đến bây giờ vẫn c̣n) được Đảng và Nhà Nước e dè và căm hờn nhắc nhở đến trong các phương tiện thông tin tuyên truyền văn hóa lẫn trong kinh điển của Đảng và Nhà Nước Việt Cộng là một "bọn Ngụy"! Xin mời quư vị, chúng ta sẽ cùng đọc một số đoạn "cần thiết" trong "Nghị Quyết 36" để dễ bề cho tôi hầu chuyện. Mở đầu "Nghị Quyết 36", tiểu đề (I) là: "T́nh H́nh Và Công Tác Đối Với Người Việt Nam Ở Nước Ngoài Thời Gian Qua", có vài điểm quan trọng sau: 1- Hiện nay có khoảng 2,7 triệu người Việt Nam đang sinh sống ở gần 90 nước và vùng lănh thổ, trong đó hơn 80% ở các nước công nghiệp phát triển, phần đông bà con ngày càng ổn định cuộc sống và ḥa nhập vào xă hội nơi cư trú, có tác động ở mức độ khác nhau tới mối quan hệ giữa các nước đó với Việt Nam. Bên cạnh đó, trong những năm qua hàng trăm ngh́n người Việt Nam đă ra nước ngoài lao động, học tập, tu nghiệp, đoàn tụ gia đ́nh, h́nh thành các cộng đồng người Việt tại một số địa bàn mới. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có tiềm lực kinh tế nhất định, có mối quan hệ với nhiều doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nước ngoài và quốc tế, có khả năng t́m kiếm đối tác và làm cầu nối với các doanh nghiệp, tổ chức trong nước. Nhiều trí thức có tŕnh độ học vấn và chuyên môn cao; một số người giữ vị trí quan trọng trong các cơ quan, cơ sở nghiên cứu, đào tạo, các công ty và tổ chức quốc tế, có khả năng tạo doing quan hệ với các cơ sở kinh tế, khoa học ở nước sở tại." (Trích Nghị Quyết 36, phần 1) Con số 2.7 triệu người Việt Nam đang sống ở hải ngoại tôi tin là chính xác. Khi Đảng và Nhà Nước Việt Cộng đă nh́n thấy tầm quan trọng của người Việt hải ngoại, và muốn chuyển biến "bọn Ngụy" thành "khúc ruột ngàn dặm, một bộ phận không thể tách rời khỏi khối dân tộc", chắc chắn họ, Đảng và Nhà Nước Việt Cộng có đủ nhân lực và tài lực để làm cái thống kê này. Tuy nhiên, trong 2.7 triệu người Việt hải ngoại, đă có tính luôn "hàng trăm ngh́n người Việt Nam đă ra nước ngoài lao động, học tập, tu nghiệp v.v...". Hàng trăm ngh́n người mà Đảng và Nhà Nước Việt Cộng cho ra nước ngoài lao động, học tập, tu nghiệp chỉ là một cánh tay vươn dài nhiều khi trở cờ tát ngược vào mặt Đảng và Nhà Nước. Hàng trăm ngh́n người này hầu hết có sự hiểu biết, kinh nghiệm thấu đáo về Đảng và Nhà Nước một cách tường tận hơn những người Việt Nam lưu vong tị nạn. Họ dễ bị "ngoại hóa". Họ "sống khổ" lâu rồi dưới sự cai trị của Đảng và Nhà Nước Việt Cộng. Cho nên, có cơ hội tách rời khỏi cái "khối dân tộc" của Đảng và Nhà Nước Việt Cộng, là họ sẽ nhanh chân không chút ngại ngần! Mấu chốt quan trọng nhất vẫn là thành phần số đông những người Việt từ Miền Nam tị nạn Cộng Sản. Con số hơn 1 triệu người tị nạn ra nước ngoài từ thập niên đầu sau 1975 nay đă ổn định và thành tựu. Đảng và Nhà Nước Việt Cộng tha thiết với những con người này. Bởi v́, như trong Nghị Quyết 36 đă ghi rơ: Họ có tiềm lực kinh tế nhất định, có mối quan hệ với nhiều doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nước ngoài và quốc tế.v.v... Tức là, những người Việt Nam tị nạn, "bọn Ngụy phản bội dân tộc" cách nay 15, 30 năm trước giờ đă thành những con mồi béo bổ ngon lành. Những người này vừa có tiền và đă ổn định đời sống, con cháu hầu hết đă nên danh phận. Và v́ xa Việt Nam lâu nên ḷng hoài hương càng thấm thía. V́ bỏ đi sớm nên chưa kinh nghiệm nhiều với Việt Cộng... Con chấu những người này, thành phần ra ngoại quốc lúc 5, 6 tuổi; hay 15, 16 tuổi là những thế hệ rất dễ được các bậc cha mẹ "lôi" cho "về nguồn". Đảng và Nhà Nước Việt Cộng tin rằng lung lạc giai tầng này dễ dàng hơn và lại có lợi lớn hơn. Do đó, Nghị Quyết 36 đă công bố những lời nồng nàn: "Mặc dù sống xa Tổ quốc, đồng bào luôn nuôi dưỡng, phát huy tinh thần yêu nước, giữ truyền thống văn hóa và hướng về cội nguồn, ḍng tộc, gắn bó với gia đ́nh, quê hương..." Điều rất rơ, Đảng và Nhà Nước Việt Cộng luôn mập mờ đồng hóa ư nghĩa của những chữ Tổ Quốc, Đất Nước, Tự Tôn Dân Tộc, Truyền Thống Văn Hóa, Cội Nguồn, Quê Hương với Đảng và Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam. Do đó, khi hô hào công cuộc "đổi mới và phương án đại đoàn kết toàn dân tộc" được nhấn mạnh là quốc sách "Của Đảng Và Nhà Nước Việt Cộng", tức là kêu gọi những người Việt tị nạn lưu vong hải ngoại cùng góp tay "đại đoàn kết với Đảng và Nhà Nước" đấy thôi! Sau gần 30 năm lưu lạc tha hương, từng giờ bị chính quyền trong nước ra rả phỉ báng là "bọn Ngụy" ác ôn bỏ nước chạy theo liếm gót giày đế quốc và bọn quân phiệt này nọ đủ thou! Bây giờ, Đảng và Nhà Nước Việt Cộng ưu ái lo cho Việt Kiều hải ngoại... từng miếng ăn giấc ngủ. Xin đọc: "Tuy nhiên, người Việt Nam ở một số nước c̣n khó khăn trong việc ổn định cuộc sống, chưa được hưởng quy chế rơ ràng, thậm chí ở một số nơi c̣n bị kỳ thị. Một bộ phận đồng bào do chưa có dịp về thăm đất nước để tận mắt thấy được những thành tựu của công cuộc đổi mới hoặc do thành kiến, mace cảm, nên chưa hiểu đúng về t́nh h́nh đất nước. Một số ít người đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc, ra sức chống phá đất nước, phá hoại mối quan hệ hợp tác giữa nước sở tại với Việt Nam. " (Trích Nghị Quyết 36, phần 1) Những đau thương, tủi nhục... trên đường vượt thoát; những khó khăn, bất hạnh bất lực trên xứ lạ quê người của những con dân Việt Nam tị nạn Cộng Sản, lưu xứ khắp cùng thế giới cùng cực diễn ra là vào 10 năm đầu tiên sau tháng Tư 1975. Bây giờ, người tị nạn Việt Nam đa số đă ổn định, và tôi đă từng nh́n thấy, từng biết rất rơ trong các cộng đồng tị nạn Việt Nam ở khắp nơi mà tôi đă đi qua, đă sống, tỷ lệ người Việt tha hương giúp đỡ nhau nhiều hơn là mũ ni che tai ngó lơ nhau. Người đến trước, thành tựu trước, ổn định trước hướng dẫn người qua sau. Đường đi nước bước, giới thiệu việc làm, cách mướn nhà mướn apartment, nhà thương bác sĩ.v.v... Và một sự thực cần nói rơ là, tuy người Việt tị nạn thỉnh thoảng cũng có gặp một vài trường hợp phải chịu đựng sự kỳ thị, phân biệt đối xử của một vài người bản xứ, nhưng rất là hiếm hoi không đáng kể. Nếu so với sự kỳ thị của Đảng và Nhà Nước Việt Cộng bằng những Nghị Quyết và Pháp Lệnh như cấm các trẻ em, con cháu "bọn Ngụy" không được thi vào đại học; kiểm soát hộ khẩu, truy xét lư lịch mấy đời v.v.. của Đảng và Nhà Nước Việt Cộng đă đối xử với người dân Việt Nam, đặc biệt là những gia đ́nh Miền Nam sau khi Việt Cộng đă thống nhất lănh thổ, th́ xem ra sự kỳ thị của người bản xứ với dân Việt tị nạn chẳng thấm thía vào đâu!!! Những khó khăn trong cuộc sống của người Việt tị nạn, xét cho cùng chỉ là những khó khăn thường nhật trong đời sống con người. Nhất là những con người đă "bật gốc" ra khỏi quê hương ḿnh để đến một vùng trời xa lạ. Ngôn ngữ khác biệt. Tập quán khác biệt. Xă hội khác biệt.... Tuy nhiên, những "quy chế" của hầu hết những xứ sở mà dân tị nạn Việt Nam đang sinh sống, nhất là những đất nước giàu mạnh như Hoa Kỳ, Úc, Anh, Pháp... đều rất rơ ràng. Họ đă đưa ra những "quy chế" bằng luật pháp có sự nghiên cứu hẳn hoi, có sự đồng thuận của số đông dân biểu nghị sĩ trong quốc hội tức là những nhân vật "thực sự" đại biểu cho người dân bản xứ. Và hơn hết, nếu c̣n đa số những người Việt tị nạn nơi hải ngoại phản đối, đương đầu lại với Chính Quyền và Đảng Việt Cộng, không thể gọi họ là "đi ngược lại lợi ích chung dân tộc, ra sức chống phá đất nước, phá hoại mối quan hệ hợp tác giữa các nước sở tại và Việt Nam." Bởi v́, sau gần 30 năm thống nhất lănh thổ, người Việt tị nạn lưu xứ vẫn từng ngày từng giờ nghe biết được bao nhiêu là sự tŕ trệ, chậm tiến, băng hoại trong tất cả các lănh vực dưới sự cai trị của Đảng và Nhà Nước Việt Cộng.Từ chính trị kinh tế cho tới xă hội. Đàn áp tôn giáo, không cho tự do tư tưởng và ngôn luận, cấm đóan chèn ép những cởi mở văn hóa và kiểm soát những lư luận chính trị cần có để đưa dân tộc đất nước theo kịp trào lưu của thế giới. Nếu sau gần 30 năm cai trị Việt Nam, Đảng và Nhà Nước Việt Cộng đem lại được cơm no, áo ấm, yên b́nh tự do và quang vinh dân chủ cho dân tộc đất nước Việt Nam, th́ những ai c̣n phản đối, c̣n chống pháĐảng và Nhà Nước Việt Cộng - tôi sẽ đồng ư đó là nhửng kẻ "chống phá đất nước, phản bội quê hương dân tộc". Nghị Quyết 36 c̣n đưa ra những điều vơ đoán thật buồn cười: "Tính liên kết cộng đồng, sự gắn bó giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng chưa cao. C̣n thiếu các biện pháp duy tŕ, phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc; việc giữ ǵn tiếng Việt và bản sắc dân tộc trong thế hệ trẻ c̣n khó khăn. Nhu cầu giao lưu văn hóa giữa cộng đồng với đất nước, giữ ǵn và phát triển tiếng Việt trong cộng đồng là rất lớn và trở nên bức thiết song chưa được đáp ứng. Sự đóng góp của bà con vào công cuộc xây doing đất nước, nhất là về trí thức, chưa tương xứng với tiềm năng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài." (Trích Nghị Quyết 36) Sau biến cố phân hóa cùng cực tháng Tư 1975, những người Việt tị nạn bủa ra khắp cùng thế giới, th́ ưu tư đầu tiên của mỗi người là tự t́m cách sinh tồn. Nhưng trong tiềm thức bản năng của sự tự t́m cách sinh tồn đó, những người Việt lưu xứ đă từng khối quần tụ lại với nhau, chọn những vùng đất thích hợp rồi sinh hoạt rồi sống rồi phát triển cùng nhau. Orange county, San Jose, Virginia Washing D.C., Texas, Montreal, Toronto, Paris.v.v... Từng ấy nơi là từng khối người Việt với những sinh hoạt rơ nét. Tất nhiên, v́ phải bỏ một thời gian đầu để củng cố đời sống nơi xứ lạ, những người Việt tị nạn tránh không khỏi sự lơ là trong vấn đề giữ ǵn tiếng Việt cho con em. Nhưng tôi đă nh́n thấy được sự quan tâm của rất nhiều cộng đồng khắp nơi về khiếm khuyết này. Những lớp Việt ngữ đă được h́nh thành. Khó khăn chắc chắn là có. Tuy nhiên, gần nay tôi đă tiếp xúc với nhiều nhóm trẻ nhiệt tâm nhiệt t́nh. Các em các cháu này thành lập những trang Web tiếng Việt. Có nhóm chuyên cứu về văn hóa văn chương chính trị. Có nhóm chuyên cưứ về loch sử Việt Nam. Đặc biệt một nhóm những em trẻ, người lớn tuổi nhất chỉ trên ba mươi. Họ thành lập một trang Web chỉ chuyên nghiên cứu, sưu tầm tất cả những tài liệu về việc những phần đất Việt Nam đă bị mất, bị "bán", bị "đổi chác"... như thế nào. Họ hầu như có đầy đủ những tài liệu về việc Đảng và Nước Việt Cộng đă cắt đất, bán dâng cho Trung Quốc bao nhiêu lần. Diễn tiến mỗi lần ra sao. Ai là thủ phạm của từng lần cắt đất dâng bán cho ngoại bang như thế. Đóng góp của từng nhóm trẻ này cho sự duy tŕ, phát huy văn hóa, bảo tồn lịch và "bản sắc" dân tộc Việt Nam, theo tôi, không phải là nhỏ! Họ khước từ thứ ngôn ngữ Việt Nam của Đảng và Nhà nước Việt Cộng đề ra, chỉ với mục đích làm ngu dân. Họ không chấp nhận phong cách "bản sắc dân tộc" lũy tre đ́nh làng theo kiểu Mặt Trận Tổ Quốc khuyến khích người dân Việt Nam chỉ biết làm ruộng và tiếp tục thất học u mê. Cho nên, mặc dù: "Đảng và Nhà Nước (Việt Cộng) ta luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, đă đề ra nhiều chủ trương, chính sách rộng mở và biện pháp cụ thể nhằm tạo điều kiện ngày càng thuận lợi hơn cho đồng bào về thăm nước, người thân, đầu tư, kinh doanh, hợp tác v.v..." (Trích Nghị Quyết 36) thiết nghĩ cũng sẽ chẳng đi đến đâu! Đảng và Nhà Nước Việt Cộng dù có hay không "coi" cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, th́ họ vẫn ngang nhiên là những đồng bào Việt Nam của đất nước Việt Nam. Họ biết bổn phận và trách nhiệm của họ đối với quê hương dân tộc! Và hẳn nhiên, trách nhiệm của và bổn phận này của từng người là đối diện với dân tộc quê hương Việt Nam, chứ không phải đối với Đảng và Nhà Nước Việt Cộng! Vấn đề là Đảng và Nhà Nước Việt Cộng phải làm ǵ, làm như thế nào với đất nước Việt Nam và người dân Viêt Nam. Không phải cứ đưa ra những Nghị Quyết, Pháp Lệnh... Triệu tập những Hội Nghị này nọ năm này qua tháng khác để rồi sửa sai, làm lại măi! Xin đọc: "Tuy nhiên, các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người Việt Nam ở nước ngoài chưa được quán triệt sâu sắc, thực hiện nay đủ. Công tác nghiên cứu, tham mưu về chính sách chưa theo kịp những chuyển biến mới. Công tác bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài chưa được quan tâm đúng mức. Chính sách đă ban hành chưa đồng bộ và chưa thể hiện nay đủ tinh thần đại đoàn kết dân tộc; chưa khuyến khích mạnh mẽ người Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương, đóng góp cho công cuộc phát triển đất nước..." (Trích Nghị Quyết 36) Chuyện ông nói gà, bà nghe ra là vịt vốn là phương án hành chánh của Đảng và Nhà nước Việt Cộng. Trách sao được những "chưa quán triệt sâu sắc", "chưa theo kịp những chuyển biến mới. Cái cũ c̣n đó, c̣n y nguyên. Những cốt lơi của vấn nạn phân hóa vẫn tồn tại và dường như c̣n có cơ phát triển nữa. Tù cải tạo chưa thả hết, đă có tù chính trị bất đồng chính kiến thêm vào. Đàn áp tôn giáo chưa giải quyết xong, đă ra tay đàn áp đồng bào sắc tộc. v.v... Đảng và Nhà Nước Việt Cộng chưa ổn định được t́nh h́nh chính trị, kinh tế, tôn giáo... trong nước, th́ sự việc với tay ra níu kéo làm ra vẻ lo lắng cho an nguy của những người Việt tị nạn lưu vong ở hải ngoại, chỉ là một tṛ hề "nhà ḿnh cháy không chịu chữa, lại lo di đóng cửa nhà hàng xóm sợ trộm vào"!!! Những "lo lắng" của Đảng và Nhà Nước dành cho người Việt tị nạn hải ngoại lắm lúc rất ngô nghê nhưng lại chẳng kém phần đểu cáng vô duyên như cảnh mèo lo âu cho chuột. Xin đọc Phần II, Chủ Trương Và Phương Hướng Công Tác Với Người Việt Nam Ở Nước Ngoài Trong Thời Gian Tới: "Nhà Nước có trách nhiệm thỏa thuận với các nước hữu quan về khuôn khổ pháp lư để đồng bào ổn định cuộc sống và bảo vệ quyền lợi chính đáng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài theo luật pháp, công ước và thông lệ quốc tế. Đảng và Nhà Nước mong muốn, khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài hội nhập và thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp nước sở tại, chăm lo xây doing cuộc sống, làm ăn thành đạt, nêu cao tinh thần tự trọng và tự hào dân tộc, giữ ǵn tiếng Việt, bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc Việt Nam, đoàn kết đùm bọc, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, giữ mối quan hệ gắn bó với gia đ́nh và quê hương, góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước bà con sinh sống với nước nhà, tùy theo khả năng và điều kiện của mỗi người góp phần xây dựng quê hương đất nước, chủ động đấu tranh với các biểu hiện cố t́nh đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc. Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài can mang tính đồng bộ, kết hợp việc xây dựng cơ chế, chính sách với công tác vận động, kết hợp các hoạt động trong nước với các hoạt động ở nước ngoài và phải được tiến hành thông qua nhiều loại h́nh hoạt động và biện pháp phù hợp với các đối tượng và địa bàn khác nhau, trên cơ sở tự nguyện và không trái với pháp luật, phong tục tập quán của nước sở tại". (Trích Nghị Quyết 36) Chẳng biết gần 30 năm qua, Đảng và Nhà Nước Việt Cộng đâu chẳng thấy xuất hiện để có sự "thỏa thuận" với các nước "hữu quan" về khuôn khổ pháp lư ḥng "bảo vệ quyền lợi chính đáng" của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài? Đến nay, khi những người Việt tị nạn lưu xứ đă gửi về được cho thân nhân ở Việt Nam mỗi năm hàng hai ba tỉ đô la, hốt nhiên Đảng và Nhà Nước bỗng xáp vào đ̣i "ổn định cuộc sống" và "bảo vệ quyền lợi chính đáng" cho cộng đồng người Việt hải ngoại!!! Những người Việt tị nạn sau gần ba mươi năm lưu xứ, hầu hết họ đă biết cách "ổn định cuộc sống" và "bảo vệ quyền lợi chính đáng" của họ, nhất là ở những xứ sở văn minh thực sự có luật pháp chứ không phải chỉ cai trị và đối ngoại bằng những Nghị Quyết, Pháp Lệnh và Hội Nghị. Lần này, chiến thuật chiến lược để đối phó, chiêu dụ Việt kiều lưu vong với Đảng và Nhà Nước Việt Cộng đă thực sự là một "Quốc Sách"! Trong Nghị Quyết 36, không ngớt lập đi lập lại ba chữ Tính Đồng Bộ, để nhắc nhở cho các Đảng viên và cán bộ thừa hành rằng, công tác đem "khúc ruột ngàn dặm" Việt Kiều Hải Ngoại hàn gắn lại với Đảng và Nhà Nước là công tác tối khẩn, tối cần thiết phải được từ trên xuống dưới tuân thủ thi hành nghiêm túc! Qua phần III với tiêu đề "Nhiệm Vụ Chính Yếu", Nghị Quyết 36 lại tiếp tục ân cần âu lo cho người Việt lưu vong: "1.Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi và hỗ trợ đồng bào ổn định cuộc sống, yên tâm làm ăn sinh sống, yên tâm làm ăn sinh sống, hội nhập vào đời sống xă hội nước sở tại, đồng thời duy tŕ quan hệ gắn bó với quê hương, đất nước. Thông qua các hoạt động ngoại giao tích cực vận động chính quyền sở tại tạo thuận lợi cho kiều bào có điều kiện làm ăn sinh sống b́nh thườg; chủ động tiến hành đàm phán và kư kết các thỏa thuận can thiết với các nước, trong đó có các hiệp định lănh sự, hiệp định tư pháp, bảo vệ lợi ích chính đáng của bà con, chống các biểu hiện kỳ thị, các hành động chống lại người Việt Nam ở nước ngoài. Giải quyết nhanh chóng, thỏa đáng yêu cầu của người Việt Nam ở nước ngoài liên quan đến vấn đề quốc tịch. ...... " (Nghi Quyết 36) Tôi chẳng thể không nói một vài điều về cái mức độ càng lúc càng trơ trẽn, vô liêm sỉ của ngôn ngữ trong Nghị Quyết 36!!! Chẳng hiểu Đảng và Nhà nước Việt Cộng sẽ làm cách nào để "tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ người Việt tị nạn ổn định cuộc sống, hội nhập vào đời sống nước sở tại"??? Thực ra, cốt lơi của đoạn Nghị Quyết trên nằm trong câu cuối: "đồng thời duy tŕ quan hệ gắn bó với quê hương, đất nước". Tôi muốn thưa với Đảng và Nhà Nước Việt Cộng rằng, sau gần ba mươi năm lần lượt chạy trốn quư Đảng và Nhà Nước, những người Việt lưu vong đă ngày càng ổn định đời sống nơi xứ người. Tôi thấy những người Việt tị nạn rất "yên tâm làm ăn sinh sống nơi đất khách", và đa số họ "hội nhập vào xă hội nước sở tại" khá nhanh và hiện đang trong đà tiến bộ khả dĩ theo kịp tầng lớp trung lưu của người bản xứ. Những người Việt tị nạn được bảo vệ và giúp đỡ làm ăn như những người bản xứ, thậm chí c̣n được những đặc quyền riêng dành cho "người thiểu số" trong các vấn đề xin việc làm, hay mở những thương vụ nhỏ. Trái hẳn với những đồng bào lương thiện Việt Nam trong nước đang sống dưới sự cai trị của Đảng và Nhà Nước Việt Cộng, qua những lần về thăm quê hương, tôi chưa thấy họ có được sự "yên tâm làm ăn sinh sống", mặc dù đa số người dân đặc biệt là miền Nam đă cật lực cố gắng để "hội nhập vào xă hội chủ nghĩa" của quư Đảng và Nhà Nước! C̣n vấn đề "duy tŕ quan hệ gắn bó với quê hương, đất nước" của những người Việt lưu vong th́ thiết nghĩ, quư Đảng và Nhà Nước Việt Cộng chẳng cần phải bận tâm. Con số từ hai tới ba tỉ đô la được gửi về hàng năm đă chứng minh điều này một cách rất hùng hồn! Họ tự nguyện tự ư làm bổn phận của con người Việt Nam với thân nhân gia tộc, đồng bào Việt Nam. Đảng và Nhà Nước Việt Cộng có ráo riết vận động, lôi kéo hay khuyến dụ th́ cũng chỉ từng ấy khả năng mà người Việt lưu xứ có thể làm được và họ đă làm rồi! Rất nhiều những người Việt tị nạn lưu vong đă lập nên những cơ sở từ thiện, xă hội nhằm vào bao người dân Việt Nam trong nước đang thiếu thốn trăm bề! Trẻ em đường phố. Trẻ em mồ côi, Trẻ em thất học. Những thương phế binh. Những người cùi người tật bệnh. Những nạn nhân của cuộc chiến.v.v... Đă có không ít các cơ sở tư nhân từ người Việt hải ngoại lập nên để thi hành những công tác này. Người Việt tị nạn lưu xứ đă thực hiện các công tác này cho đồng bào Việt Nam của họ đang bị tang thương tụt hậu nơi quê nhà. Điều tất yếu là họ tuy đă không làm công tác từ thiện xây dựng này cho Đảng và Nhà Nước Việt Cộng, nhưng nó đă góp phần gỡ rối cho Đảng và Nhà Nước Việt Cộng rất nhiều trong những vấn nạn về xă hội và kinh tế! Do đó, Đảng và Nhà Nước Việt Cộng nên quay về lo cho những người dân Việt Nam đang lầm than, khó khăn trong nước. Hăy lo cho sinh viên đại học sau khi tốt nghiệp có việc làm, không c̣n phải thất thểu làm những nghề tay trái, thậm chí đi đạp xích lô! Hăy giúp cho nông dân Việt Nam biết được những tiến bộ trong ngành nông nghiệp trên thế giới, cho nhà nộng Việt Nam bớt nhọc nhằn.v.v.. Công việc vận động ngoại giao "tích cực" với các nước sở tại, để tạo thuận lợi cho kiều bào, tức là những người Việt tị nạn có điều kiện làm ăn sinh sống b́nh thường, tôi thấy không cần thiết và không hợp lư! Bởi v́, từ bao nhiêu năm qua, các cộng đồng Việt lưu vong hải ngoại có lớn mạnh thực sự về kinh tế, giáo dục một cách rất rơ ràng như mọi người đă biết. Bàn tay của Đảng và Nhà Nước Việt Cộng mà nhúng vào để vận động ǵ đó, lắm khi lại làm rối beng đi đời sống đang b́nh yên, phát triển của những người Việt hải ngoại! Tôi không tin là những người Việt lưu xứ cần bất cứ sự "bảo vệ" quyền lợi nào của họ từ Đảng và Nhà Nước Việt Cộng đối với các chính quyền sở tại. Gần ba mươi năm qua, các cộng đồng người Việt lưu xứ đă tồn tại và trưởng thành rất đáng kể. Như chính trong văn bản của Nghị Quyết 36 đă có ghi, là trong cộng đồng người Việt lưu vong giờ đă có những người từ thế hệ thứ hai hiện diện trong các chính quyền bản xứ. Cộng Việt lưu vong giờ đă có con em trong tất cả mọi ngành nghề chuyên môn. Từ kỹ sư bác sĩ, giáo sư học giả cho tới chuyên viên các pḥng lab., các ngành khoa học kể cả lănh vực nhân văn. Các hành động kỳ thị, "chống lại người Việt Nam ở nước ngoài" từ những người bản xứ nếu có, cũng rất hiếm hoi không đáng kể. Nếu so với những "kế hoạch, chủ trương" kỳ thị người Miền Nam sau tháng tư 1975, và đối xử phân biệt với người Việt hải ngoại về thăm gia đ́nh của Đảng và Nhà Nước Việt Cộng, th́ chẳng khác ǵ mang một con sông mà so b́ với cả một đại dương! Tuy nhiên, những điều sau đây trong tiết (1) phần III của Nghị Quyết 36, tôi thấy rất đáng ca ngợi và ghi nhớ: "Tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài về thăm quê hương, thân nhân, thờ cúng tổ tiên. Cụ thể hóa và hoàn thiện hơn nữa các quy định về xuất nhập cảnh, cư trú, đi lại trong nước của người Việt Nam ở nước ngoài theo hướng thông thoáng, thuận tiện và đơn giản thủ tục. Giải quyết thuận lợi, nhanh chóng thủ tục cho người Việt Nam ở nước ngoài hồi hương hoặc về làm ăn sinh sống có thời hạn trong nước; tiếp tục giải quyết những vấn đề tồn tại về mua nhà trong nước, thừa kế, hôn nhân gia đ́nh, nhận con nuôi... liên quan đến người Việt Nam ở nước ngoài. Dành cho người Việt Nam ở nước ngoài giá dịch vụ như công dân trong nước. Có h́nh thức thích hợp tổ chức thu thập ư kiến của đồng bào ở nước ngoài trước khi ban hành các văn bản pháp quy, chính sách có liên quan nhiều tới người Việt Nam ở nước ngoài" (Nghị Quyết 36) Đoạn Nghị Quyết vừa trích là những ǵ thiết thực, cần thiết nên làm. Và nhất là, những điều này nầm trong "tầm tay" quyền lực của Đảng và Nhà Nước Việt Cộng. Những quan tâm xa vời về đời sống, về sự thành công hay thất bại của người Việt hải ngoại trên thực tế, Đảng và Nhà Nước Việt Cộng chẳng có chút khả năng nào "can thiệp" tới. Việc thu thập ư kiến của người Việt tị nạn lưu vong, tại sao lại chỉ giới hạn trong các vấn đề "có liên quan nhiều đến người Việt Nam ở nước ngoài"??? Nêu đă công nhận sự "cần thiết" của cộng đồng Việt hải ngoại, tất nhiên phải công nhận cả quyền công dân đóng góp quyết định cho đất nước của họ. Tôi không tin Đảng và Nhà Nước Việt Cộng thực tâm muốn thi hành đường lối này! Vả lại, những văn bản mang tên "Nghị Quyết", "Pháp Lệnh" và "Chương Tŕnh Hành Động" theo tôi thấy, nó chẳng có giá trị ǵ hết về mặt công pháp. Những văn bản loại này chỉ là những "quyết định" nhất thời, như tôi đă viết ở phần vào đầu bài. Nhửng văn bản mang tính "Đảng trị", chỉ nên có ở những tổ chức, những "hội kín" c̣n trong thời kỳ làm cách mạng hay đối kháng kiểu du kích. Đảng và Nhà Nước Việt Cộng hiện nay đang nắm quyền hành xử trên cả một lănh thổ Việt Nam. Đang có trong tay chủ quyền cả một đất nước, th́ nên cai trị đất nước và người dân đang sống trên đất nước ấy bằng những luật pháp rơ ràng, đă được toàn dân dự khán và góp ư qua hai nhà quốc hội. Những "Nghị Quyết", "Pháp Lệnh" hay "Chương Tŕnh Hành Động" không biểu tỏ được tính chất nghiêm túc của một chính quyền, một đất nước đang đứng trong cộng đồng thế giới. Nếu Đảng và Nhà Nước Việt Cộng thực thi được những điều tôi vừa nêu trên, th́ sẽ không cần phải: "2.Hoàn chỉnh và xây dựng mới hệ thống chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, phát huy sự đóng góp của trí thức kiều bào vào công cuộc phát triển đất nước.Xây dựng chế độ đăi ngộ thỏa đáng đối với những chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài có tŕnh độ chuyên môn cao, có khả năng tư vấn về quản lư, điều hành, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật cao cho đất nước, góp phần phát triển văn hóa, nghệ thuật của nước nhà. Tranh thủ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tiến haàh hoạt động vận động, tư vấn pháp lư trong quan hệ với nước bà con làm ăn sinh sống."" (Nghị Quyết 36) Để tiến hành được công việc "hoạt động vận động" (???), rồi tư vấn về pháp lư trong quan hệ với nước bà con đang sinh sống", trước hết, Đảng và Nhà Nước Việt Cộng nên học để biết "pháp lư" là ǵ? Người dân Việt Nam hiện đang sống trong tay Đảng và Nhà Nước Việt Cộng hiện đă có "pháp lư" bảo vệ chưa? Ở tiết 4 và 5 của phần III Nhiệm Vụ Chủ Yếu trong Nghị Quyết 36, Bộ Chính Trị Đảng Việt Cộng nêu rơ mục đích tối hậu của "Quốc Sách" về Việt kiều tị nạn: "4.Đổi mới và đa dạng hóa các phương thức vận động, các h́nh thức tập hợp với mục đích đoàn kết người Việt Nam ở nước ngoài quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, khuyến khích những hoạt động hướng về Tổ quốc của bà con, nhất là của thế hệ trẻ trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với pháp luật và phong tục tập quán nước sở tại. Hỗ trợ các dự án của người Việt Nam ở nước ngoài, kể cả với những người c̣n có định kiến, mặc cảm với Nhà Nước ta. 5.Tích cực đầu tư cho chương tŕnh dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là cho thế hệ trẻ. Xây dựng và hoàn chỉnh sách giáo khoa tiếng Việt cho kiều bào, cải tiến các chương tŕnh dạy tiếng Việt trên vô tuyến truyền h́nh, đài phát thanh và qua mạng Internet. Cử giáo viên dạy tiếng Việt tới những nơi có thể để giúp bà con học tiếng Việt. Tổ chức trại hè nói tiếng Việt cho thanh, thiếu niên người Việt Nam ở nước ngoài. Tổ chức cho các đoàn nghệ thuật, nhất là các đoàn nghệ thuật dân tộc ra nước ngoài biểu diễn phục vụ cộng đồng. Tạo điều kiện cho các nghệ sĩ, vận động viên là người Việt Nam ở nước ngoài về nước biểu diễn, thi đấu, tham gia các đoàn Việt Nam đi biểu diễn và thi đấu quốc tế. Thường xuyên tổ chức các chương tŕnh giao lưu văn hóa, văn học, nghệ thuật, triển lăm, hội thảo, du lịch về cội nguồn." (Nghị Quyết 36) Phương cách hành động của Đảng và Nhà Nước Việt Cộng ở tiết (4) đối với người Việt hải ngoại, xem ra, chẳng khác chi mấy phương cách hành động của Đảng và Bắc Việt trước đây đối với nhân dân miền Nam! "Chủ động mở rộng tiếp xúc, kể cả với những người c̣n định kiến." Biết được nhu cầu của người Việt lưu vong tị nạn sau gần 30 năm dồn hết tâm ư vào việc sinh tồn, tạo dựng đời sống kinh tế ở nước người, và bây giờ là lúc cấp thiết để lo nghĩ đến vấn đề "tiếng Mẹ", "văn hóa phong tục" Việt Nam cho con em nơi xứ người. Đảng và Nhà Nước Việt Cộng nới tay ḥng mong lấn chiếm qua vấn đề giáo dục tiếng Việt cho con em người Việt hải ngoại! Nhưng sách lược này xem chừng khó thành công! V́ hiện nay, trong cộng đồng Việt tị nạn khắp nơi, hầu như người ta đă đang cố gắng h́nh thành những lớp tiếng Việt cho con em ḿnh. Qua những tổ chức tự nguyện như Hướng Đạo Việt Nam, Hướng Đạo Phật Giáo, các Cộng Đồng Thiên Chúa Giáo v.v... Ngoài ra, các em sinh viên tại các đại học cũng đă quần tụ vào nhau, cùng làm những sinh hoạt có tính cách giữ ǵn tiếng Việt, phong hóa lịch sử Việt như tôi đă có nhắc tới ở phần đầu. Vả lại, thứ tiếng Việt Nam mà xă hội con người dưới chế độ Việt Cộng đang sử dụng, theo tôi là một nguy cơ của ngôn ngữ Việt! Đó là một loại tiếng Việt làm ngu dân, làm ṃn khựng sự tiến bộ của con em Việt Nam. Những danh từ, những cụm chữ đóng khung ngô nghê cố t́nh ra vẻ mộc mạc để dễ thâm nhập vào tầng lớp b́nh dân thời Nam Bộ kháng chiến, cộng thêm những ước lệ nửa Tàu nửa Nga nửa người nửa ngợm làm tiếng Việt trong nước hiện nay vô h́nh trung biến thành những thou để chọc cười! Con đường "giao lưu văn hóa, văn học, nghệ thuật v.v... c̣n quá cùn mằn giới hạn trong chủ đích tuyên truyền cho chế độ Việt Cộng. Không thấy nói tới việc cho các tác phẩm từ hải ngoại được phổ biến rộng răi tự do vào trong nước! Việc quan trọng ngay tức th́ là làm sao cho người dân trong nước, cho các Đảng viên cán bộ trong nước... hấp thụ được những văn minh, thành tựu của thế giới. Tôi nghĩ, người Việt hải ngoại hầu như đă thấu hiểu t́nh h́nh trong nước ở vào mức độ cần thiết rồi! Ngay cả những ai có "cảm t́nh" với Đảng và Nhà Nước Việt Cộng, cũng khó bào chữa cho những tŕ trệ, chậm tiến và bất công của đất nước Việt Nam hiện tại. Do đó, thay v́ quá chú trọng vào tiết (6) trong phần III, là: "Hỗ trợ kinh phí vận chuyển và đơn giản hóa thủ tục đối với việc gửi sách báo, văn hóa phẩm ra ngoài phục vụ cộng đồng". (Nghị Quyết 36) Đảng và Nhà Nước Việt Cộng lại cũng nên quay về chăm lo cho sự cởi mở, tiến bộ một cách "thông thoáng" (chữ của Việt Cộng!) của đất nước và nhân dân Việt Nam, bằng cách cho người Việt hải ngoại được gửi sách báo, văn hóa phẩm vào trong nước một cách tự do dễ dàng. Tiết (7) trong phần III lại là một cú tŕnh diễn, dụ khị tầm phơ nữa: "7.Hoàn chỉnh chính sách khen thưởng đối với người Việt Nam ở nước ngoài, đưa vào nền neap việc khen thưởng các tổ chức và cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài có thành tích torng vận động xây dựng cộng đồng, đóng góp xây dựng đất nước, tổ chức và cá nhân trong nước có thành tích trong công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài. Giải quyết có t́nh, có lư và trên cơ sở đạo lư Việt Nam các vấn đề nhân đạo do lịch sử để lại nhằm thực hiện chủ trương đại đoàn kết oàn dân tộc, đồng thời có biện pháp phù hợp đấu tranh với những biểu hiện cố t́nh đi ngược lại lợi ích dân tộc, phá hoại quan hệ giữa các nước có đông người Việt Nam sinh sống với Việt Nam hoặc gay chia rẽ trong cộng đồng người Việt Nam ở nước sở tại." (Nghị Quyết 36) Những biện pháp "đấu tranh" và "khen thưởng" của Đảng và Nhà nước Việt Cộng đưa ra bên trên, xem chừng chẳng dựa trên "cơ sở đạo lư" nào của Việt Nam cả. Dĩ nhiên, đạo lư của Việt Cộng không phải là đạo lư Việt Nam! Và như tôi đă khẳng quyết nhiều lần, những "cố t́nh di ngược lại chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Cộng", tất nhiên không đồng nghĩa với "đi ngược lại lợi ích dân tộc". Đùng "đồng hóa" dân tộc Việt Nam với Đảng và Nhà Nước Việt Cộng! Ở tiết (9) phần III của Nghị Quyết, chúng ta nhận thấy được tầm quan trọng hàng đầu của "Quốc Sách" về người Việt tị nạn hải ngoại: "9.Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài cần được kiện toàn với cơ cấu tổ chức, biên chế và phương tiện hoạt động đáp ứng đ̣i hỏi của t́nh h́nh mới. Tăng cường cán bộ chuyên trách về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài tại cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở những nơi có đông người Việt Nam sinh sống. Một số bộ, ngành và một số tỉnh, thành phố có quan hệ nhiều với người Việt Nam ở nước ngoài can có bộ phận giúp cơ quan lănh đạo trong công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Bổ sung kinh phí cho công tác này." (Nghị Quyết 36) Xem ra, lần này Đảng và Nhà Nước Việt Cộng đă dồn nhiều tâm trí, kể cả "kinh phí' cho công tác "kiều vận". Hơn hai triệu người Việt tị nạn lưu vong đang trên đà có giá và lên giá! Những "bọn Ngụy" liếm giày thực dân ác ôn, "chạy trốn tổ quốc" (chữ của Hoàng Khởi Phong); giờ đă thành "khúc ruột ngàn dặm" thắm t́nh đồng bào dân tộc. Công cuộc "đại đoàn kết toàn dân tộc" của Đảng và Nhà Nước Việt Cộng chỉ mới bắt đầu. Nghị Quyết 36 kết thúc ở phần IV với tiểu đề "Tổ Chức Thực Hiện". Tất nhiên là thực hiện những điều, những tiết trong nghị quyết đă đề ra. Tiết (4) của phần IV nghị quyết khẩn thiết kêu gọi: "4.Các tỉnh ủy, thành ủy, các ban cán sự Đảng, Đảng đoàn, Đảng ủy trực thuộc Trung ương, các ban Trung ương Đảng có kế hoạch thực hiện Nghị quyết. Ban cán sự đảng Bộ ngoại giao chủ tŕ cùng Ban cán sự Đảng ngoài nước giúp Ban Bí Thư và Bộ Chính Trị theo dơi việc thực hiện Nghị Quyết. Ban Bí Thư tổ chức kiểm tra, định kỳ nghe báo cáo về t́nh h́nh và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài." (Nghị Quyết 36) Từ Ban Bí Thư, Bộ Chính Trị, Bộ Ngoại Giao cho đến toàn Đảng đă được huy động để thi hành Nghị Quyết 36. Xem đó đủ thấy được tầm quan trọng của Nghị Quyết này. Như vậy, những người Việt Tị Nạn Cộng Sản, những người Việt lưu vong chúng ta nghĩ ǵ về Nghị Quyết 36? Và thái độ cần thiết nào chúng ta nên có để đối phó với "toàn Đảng và Nhà Nước Việt Cộng", trong "Quốc Sách" vận động, lôi kéo khúc ruột ngàn dặm Việt Kiều hải ngoại... "về nguồn" với Đảng và Nhà nước của Chính Quyền Cộng Sản Việt Nam? Virginia Aug 3 - 2004 TNH