| Mất nước Frederick UniformsPhạm Văn Bản Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, trại tù hàng binh của Việt Nam Cộng Hoà ở U Minh ăn được chén cháo là ra sân tập họp theo lệnh quản giáo, vệ binh với súng AK, để vào rừng lấy móp. Móp là loại rễ trông giống ngà voi, c̣n gọi là cây bấc, hay lậu dùng làm nón cối cho công an bộ đội. Ngà voi cắm sâu trong rừng tràm śnh lầy hoang dại, quấn chằng chịt bởi giây choại hoặc mây rừng. Muốn khai thác người ta phải cắt cây móp và dọn dẹp xung quanh gốc, rồi đào sâu tận rễ khoảng 4 đến 5 thước và lặn xuống thủy phủ mà bẻ rễ. Vô phúc cho ai đang bơi mà bị ngà voi đă cắt chân, với sức tống lên, mạnh đến nỗi đâm bể bụng! T́nh đồng đội giờ thư 25 (Sài G̣n 28/4/1975) Nguồn: UPI/CorbisBettmann Xung quanh lao trường th́ bộ đội nón cối dép râu và canh gác nghiêm mật. Mặt người nào người nấy th́ lạnh như tiền, bạc t́nh quê hương, bội nghĩa đồng bào… và trông tựa như ôm nỏ thần trên tay và nhả đạn giết sạch người tù. Muỗi ṃng như trấu, đỉa lền bánh canh, trời lạnh như cắt, tôi rét run lập cập và nói chuyện cùng bạn: Nếu giặc ngày xưa bắt dân ta lên rừng lấy ngà voi, th́ giặc ngày nay cũng bắt dân ta vào rừng lấy móp. Ôi, chuyện Mất Nước, th́ ngàn đời trước sau vẫn thế! Xét dưới khía cạnh làm người, th́ xă hội hôm nay con người đang đánh mất chính tâm hồn ḿnh, chớ không chỉ mất dân, mất nước. Điều đáng sợ, là diễn tiến của cái ngày 30 tháng tư này nó xảy ra rất tuần tự, rất hiển nhiên, cho nên nhiều khi đánh mất chính ḿnh, ḿnh trở thành giặc, ḿnh làm hại ḿnh, mà ḿnh không ngờ… Mất Nước cũng đă từng xảy ra trong lịch sử vào cuối thời Hùng, khi quân Bắc phương do Triệu Đà thống lĩnh để xâm chiếm nước ta. Và An Dương Vương xây thành pḥng thủ, nhưng bị sập nhiều lần. Ông vua cũng thuộc ḍng “Hùng gia chi phái” đă không cầu Tổ, mà lại đi cầu Thần Kim Quy tới giúp, và xây xong thành. Thành Cổ Loa cách Hà Nội khoảng 15 cây số và ngày nay c̣n di tích; thành h́nh trôn ốc với chu vi gần 8 cây số, bề dày của chân thành từ 20 đến 30 thước, cao 4 đến 5 thước, mặt rộng 12 thước; ngoài thành có hào sâu và ăn thông với các sông. Sau đó, Thần Kim Quy, tự xưng là Sứ gỉa Thanh Giang từ Biển Đông, c̣n để lại cho An Dương Vương một cái móng chân để làm lăy nỏ, bắn một phát là giết cả vạn người, được gọi là nỏ thần. Ngoài ra, ông thần Kim Quy (rùa vàng) cũng tiếp tay với An Dương Vương xa ĺa truyền thống văn hóa Việt. H́nh như ông cũng không muốn thực sự, hay có ḷng để giúp cho An Dương Vương giữ nước, chỉ đợi cho tới khi mất nước mới chỉ điểm nội tuyến. Thế th́ mọi sự đă xong! Ngày 30 tháng 4 đen đă xập tới! Triệu Đà biết chuyện nỏ thần, liền bày mưu kế và sai hoàng tử Trọng Thủy đến cầu hôn công chúa Mỵ Châu của An Dương Vương. Thời gian ở Loa Thành, Trọng Thủy được Mỵ Châu cho coi cái nỏ thần, và chàng đánh tráo lẫy nỏ. Lấy được nỏ thần Trọng Thủy về nước, rồi cùng cha đem quân qua đánh Loa Thành. Khi phát giác nỏ thần hết linh nghiệm, An Dương Vương đem Mỵ Châu lên ngựa chạy trốn. Dọc đường Mỵ Châu nhổ lông ngỗng nơi chiếc áo đang mặc, làm dấu cho Trọng Thủy t́m theo. Thấy thế, An Dương Vương rút gươm chém chết công chúa, và máu nàng chảy xuống biển trai ăn hóa ngọc. Trọng Thủy chiếm được Loa Thành, dầu thành công trong mưu đồ xâm chiếm, nhưng thương nhớ vợ, chàng nhảy xuống giếng mà chết. Đă v́ ôm mộng xâm lăng, mà phụ nghĩa vợ chồng, th́ chàng cũng phải chết. Đă v́ danh lợi mà không trọn t́nh nhà, th́ cuộc đời cũng không đáng sống, và không có quyền sống! Mặt khác, đă v́ t́nh nhà mà hại nước th́ cũng phải chết. Và đă v́ quyền lực mà hại nhà, th́ cũng phải chết. Tất cả đều chết! Và từ đó lấy nước giếng ấy mà rửa, th́ ngọc trai trở thành sáng đẹp. 1. Giữ Nước Muốn giữ nước th́ phải giữ hồn nước, giữ dân nước, giữ sức nước, và giữ đất nước. Hồn nước được giữ bằng việc sống thực và phát huy truyền thống cao quư của dân tộc. Dân nước có được là nhờ chăm sóc đời sống người dân và để dân chia sẽ trách nhiệm giữ nước. Sức nước mạnh được là nhờ các cơ cấu xă hội, chính trị, kinh tế, và tổ chức quân sự thích đáng và hữu hiệu. Đất nước chỉ c̣n khi thực sự được các yếu tố trên bảo vệ một cách trọn vẹn. Nhưng câu chuyện nàng công chúa làm mất nước và An Dương Vương xây Loa Thành, đă trở thành đề tài suy tư cho nhiều thế hệ. Trải qua bao ngàn năm lịch sử, câu chuyện được tích lũy truyền đạt về kinh nghiệm mất nước của Tổ Tiên. Đây chính là bài học hiếm quư cho dân tộc ta trong công cuộc Giữ Nước ngày nay. Và với khía cạnh bài học làm người, th́ truyền thuyết mất nước mô tả diễn tiến cuộc sống của một con người làm mất chính ḿnh, để bị tha hóa, và mất tất cả. a. Hồn Nước Truyền thống dân tộc Nguồn: adventure-tours-vietnam.com Hồn Nước là tinh thần dân tộc, là truyền thống dân tộc để hướng dẫn mọi người trong nước hành động hữu hiệu cho lợi ích chung của toàn dân. Hồn Nước bao gồm toàn thể lịch sử, tinh hoa văn hóa… tạo nên tinh thần sống của một dân tộc, c̣n gọi là Đạo Sống Việt. Hồn Dân Tộc là hồn thiêng của Ông Bà Tổ Tiên. Các Ngài đă qua đi, nhưng Hồn Thiêng các Ngài vẫn vĩnh tồn ở thế giới bên kia, và có thể phù trợ cho con cháu. Và trong tinh thần văn hóa Việt, An Dương Vương biểu trưng cho phần Rồng/ phần chính trị trong công cuộc giữ nước. Mặt khác, công chúa Mỵ Châu khoác áo lông ngỗng thuộc phần Tiên, tức đại phận văn hóa dân tộc. - Bỏ Hồn Nước. Để chống Triệu Đà, vua An Dương khởi công xây thành mà không chăm sóc, tu chỉnh hay phát triển hệ thống làng thôn. Điểm đặc biệt, trong suốt ḍng lịch sử chưa bao giờ có việc xây thành cho vua chúa. Từ ngày lập quốc, trải qua mấy ngàn năm nước ta không có chuyện xây thành. Các Vua Hùng luôn luôn sống gần dân, như dân, cùng dân chia sẻ trách nhiệm giữ nước, và kiến thiết đất nước. Để thấy rơ hậu qủa khủng khiếp của thành tŕ trên người dân, chúng ta có thể t́m hiểu về các lâu đài ở Châu Âu… Tất cả đều bắt nguồn, hoặc dẫn tới đàn áp, bóc lột, nô lệ. Bởi v́ kẻ có gươm, có súng, có lính, có quyền mà lại có thêm thành lũy che chở th́ trở thành độc tài toàn trị; đang khi người dân tay không, đơn độc, th́ không cả nơi trú ẩn, và biến thành nô lệ. Và dưới mọi h́nh thức hoặc mọi thời, thành tŕ có thể là những thể chế, những điều luật, những cơ cấu của một xă hội do nhóm đặc quyền tạo ra và bảo vệ. Do đó, giai cấp quư tộc chính là nhóm đặc quyền trong mọi thời đại, và trên mọi phương diện. Tuy rằng các đời sau thời Hùng, vua chúa ta cũng xây thành nhưng không phải là nơi tập trung bạo lực. Thủ đô, thủ phủ của nước ta cũng chỉ là những cái làng lớn, trang bị một số cơ sở thích ứng cho nhu cầu hành chính, ngoại giao, nghi lễ mà thôi. Bởi thế, khi nguy cấp vua quan ta sẵn sàng bỏ thủ đô mà chạy qua các làng khác. Mất thủ đô đă không có nghĩa là mất nước, như quan niệm đang có của Tây phương thời nay. Bởi thế, với An Dương Vương th́ việc xây Loa Thành đă tố cáo ông, và đánh dấu quan niệm suy thoái trong việc giữ nước của ông. Xây thành mà không xây làng, là đi ngược với truyền thống ngàn xưa của dân tộc, do đó, xa lạ với nếp sống của người dân trong nước. Ngoài ra, sự kiện thành sập nhiều lần, chứng tỏ hoàn cảnh đất nước ta lúc ấy không đủ khả năng, nhân lực, vật lực, tài lực mà cung ứng cho việc xây thành. Thứ đến, nó chứng tỏ rằng ông không chỉ sống xa ĺa tinh thần dân tộc, mà c̣n xa ĺa đời sống thực tế và thực trạng hiện hữu của đất nước. Khi thành sập nhiều lần, đáng lẽ ra ông phải t́m hiểu, phải thay đổi kế hoạch để ứng hợp với hiện trạng, phải tận dụng sức mạnh thiết thực của toàn dân trong công cuộc giữ nước. Nhưng ông lại đi cậy nhờ người ngoài, cầu tài trí của thần Kim Quy, và từ đó, Loa Thành nói lên khuynh hướng vọng ngoại của người lănh đạo. Việc ĺa bỏ tinh thần dân tộc của ông lại qúa lộ liễu và rơ ràng, đang khi vua quan ta phải nhớ luôn cầu khẩn Tổ, và được Tổ về, chỉ dạy việc nước. Th́ ở đây, ông không cầu Tổ mà lại cầu người xa lạ, cầu Thần Kim Quy.Và Kim Quy chẳng những giúp ông xây Loa Thành, mà c̣n cho thêm cái móng chân để làm lăy nỏ. Nỏ thường đă trở thành nỏ thần, bắn một phát giết vạn người. Với chiếc nỏ thần này, th́ cái tài thiện xạ nổi tiếng của người dân Lạc Việt chúng ta đă trở thành vô dụng, hoặc có thể nói, cả cái tài oanh kích như Thần Báo cũng đă bị coi thường… Từ đó, toàn bộ khả năng dân nước trở thành vô dụng, không cần thiết trong đại cuộc giữ nước. Giờ đây, An Dương Vương đang có hai vũ khí lợi hại và an toàn: thành vững để thủ, nỏ thần để công. Bởi thế từ nay, việc giữ nước chỉ c̣n tùy thuộc vào ngài cố vấn Kim Quy, chớ không cần dân. b. Hồn Giặc Đă xa ĺa nếp sống dân tộc, chỉ cậy nhờ người ngoài ông lại đem công chúa Mỵ Châu mà gả cho Trọng Thủy. Công chúa Mỵ Châu là biểu tượng của tinh thần Việt, đang khi Trọng Thủy con của giặc Triệu Đà, là hiện thân của tham vọng thống trị phương Bắc. Đang là một tên xâm lăng hung dữ khiến cho An Dương Vương phải xây thành để chống cự. Nhưng bỗng nhiên, Trọng Thủy được hiên ngang bước vào tung hoành tận thâm cung Loa Thành. Đang là một tên giặc nguy hiểm, Trọng Thủy trở thành người đầu gối tay ấp của nàng tiên Mỵ Châu. Cái đau của dân tộc ta là điểm này! Từ cái chỗ tùy thuộc vào người ngoài, ông đă bước tới giai đoạn rước giặc vào nhà. Và Mỵ Châu, biểu trưng cho tâm hồn Việt, cũng đă chấp nhận giặc, ôm ấp giặc. Và việc bán nước tiến hành như thế, Mỵ Châu cũng c̣n tiến thêm một bước, và chiều chồng đến nỗi đưa nỏ thần, vũ khí tối mật quốc pḥng, ra khoe cho Trọng Thủy. Tuy không hoàn hảo, nhưng đất nước cũng c̣n tạm thời sống trong yên ổn, nhờ thành vững và nỏ thần. Thế mà, sau khi giặc phá thủng thành vững, Trọng Thủy chui vào cung cấm, th́ giờ đây, nàng làm theo ư giặc, trao luôn cho giặc nỏ thần. Bởi thế nàng coi trọng giặc hơn cả sự an toàn của quê hương dân tộc ta. Nàng yêu qúy giặc hơn cả đồng bào, hơn cả đất nước! Thế th́ c̣n ǵ… là Nước, là Dân? - Nhưng nàng vẫn thấy chưa cho là đủ. Trên lưng ngựa cùng cha chạy trốn, Mỵ Châu c̣n nhổ lông ngỗng nơi chiếc áo đang mặc, để ghi dấu cho Trọng Thủy t́m theo. Thật là chua chát! Thật là đắng cay! Nàng tiên Việt của chúng ta đă hoàn toàn quên ḿnh v́ giặc. Người nàng chỉ c̣n chiếc áo lông ngỗng, h́nh ảnh cuối cùng của Tiên, mà nàng cũng nhẫn tâm dứt bỏ để làm dấu dẫn đường cho giặc. C̣n h́nh ảnh phũ phàng nào đau nhức hơn? Thân phận của những kẻ ĺa xa tinh thần dân tộc, chối bỏ cội nguồn, th́ chúng đem chính bản thân, đem máu thịt của Tổ Tiên, để làm phương tiện lót đường cho giặc cướp nước. - Lông đă nhổ, lớp áo tiên mỏng manh bên ngoài cũng đă hết, không c̣n, và nàng gục chết. Lâu nay, tuy tâm hồn đă đổi thay, nhưng nàng vẫn c̣n giữ được chiếc áo Tiên, hay vỏ Việt dầu chỉ là h́nh thức bề ngoài… Giờ đây nàng lộ nguyên h́nh làm giặc, là giặc. Nàng là biểu trưng cho tinh thần, cho ư thức văn hóa trong việc giữ nước. Nhưng nay mất Tiên, th́ mất nước. Mất theo nàng, mất theo cha nàng, đau đớn thay đă kéo theo cả một dân tộc! 2. Mất Nước Thế là nàng cùng cha làm cho nước mất nhà tan. Cũng chỉ v́ từ nguyên nhân Rồng An Dương Vương từ bỏ truyền thống, xa ĺa hiện trạng dân nước, để rồi chính ông đi cậy nhờ và lệ thuộc vào người nước ngoài. Bởi đó mà Tiên Mỵ Châu chấp nhận kết thân với giặc, rồi làm theo ư giặc, và chết cho giặc. An Dương Vương để Hồn Nước dần dần tiêu hao với những quyến rũ vật chất hào nhoáng và lợi ích hời hợt bên ngoài. Khi nền tảng dân tộc bị phai lạt nơi bất cứ dạng thức nào trong đời sống dân nước, th́ tại phần đó, nơi đó, nước bắt đầu mất. Hồn mất trước, Nước mất sau. - Bỏ Dân. Việc bỏ mất hồn nước luôn luôn kéo theo việc bỏ dân, làm mất dân. Khi giới quyền chức đă tin tưởng và ỷ lại vào người ngoài, th́ người dân trong nước bị rẻ rúng, bị khinh khi, và bị coi là phương tiện để phục vụ cho quyền lợi riêng tư của nhóm người thống trị. Sự kiện ông quyết định xây thành, th́ nó đă tố cáo ông bỏ quên trách nhiệm chăm sóc đời sống cho toàn thể mọi người dân trong nước. Trước đây mọi người đều là con dân, đều được ông chăm sóc. Nhưng từ nay, với quyết định xây thành của ông, th́ những kẻ ngoài thành sẽ bị phó mặc cho bất trắc. Thành lại hư sập nhiều lần. Gánh nặng đó lại đổ xuống người dân. Dân phải chịu sưu cao thuế nặng, mưa nắng dăi dầu đi công tác đắp đập xây thành. Gia đ́nh ly tán, vợ con nheo nhóc. Ruộng nương thiếu người cấy cày. Đă chẳng lo cho dân, ông lại hành hạ dân, và bắt dân phục vụ cho ông. - Xây Thành. Khi xây xong thành, ông thực sự sống xa cách dân. Trong suốt mấy ngàn năm thời Hùng, vua quan Việt đă không hề dám xây thành, không hề dám sống xa dân… trái lại để sống với dân, chia sẻ cuộc sống hạnh phúc với toàn dân. Nhưng hôm nay ông tự ư rút ḿnh vào ốc đảo. Đối với ông, dân bây giờ chỉ c̣n có nghĩa là bao gồm nhóm người đang lo phục dịch cho ông ở trong thành. Đang khi toàn dân lại sống ở ngoài thành, ngoài sự chăm sóc của ông, họ trở thành mục tiêu, vùng oanh kích tự do, cho nỏ thần của ông sát hại. Chuyện khác hẳn với ông là cả ngàn năm sau, Đức Lê Đại Hành đi chân đất ra bờ hồ câu cá. Dân chúng Việt bao lại xung quanh, vỗ tay cổ vơ mỗi khi cá cắn câu. Sự kiện vua quan Việt sống gần với dân, vui với dân như thế, đă làm cho sứ gỉa Trung Hoa phải ngạc nhiên và thừa nhận sự khác biệt với văn hóa Hán tộc. - Thêm vào, thành ốc và nỏ thần trở thành vũ khí quốc pḥng hiện đại, th́ lại càng khiến cho ông sống xa dân hơn. Đă không gần dân, ông cũng chẳng cần dân. Một phát nỏ thần đă có thể giết hàng vạn giặc, nên sự góp sức của dân trong việc giữ nước là không cần thiết. Trong công cuộc kiến thiết và bảo vệ đất nước, người dân trở thành kẻ thừa thăi, thành người ngoại cuộc. Ông coi dân như giặc! - Thành Giặc. Từ chỗ đối xử với dân như giặc, ông đem công chúa gả cho Trọng Thủy, hoàng tử của giặc. Việc làm thông gia giữa hai ḍng vua, ông tạo ra giai cấp tư bản đặc quyền đặc lợi. Ông muốn từ nay, cả gia đ́nh ông phải trở thành một ḍng họ, một đảng phái chính trị độc quyền, và không c̣n liên hệ với nhân dân. Ông hoàn toàn tách rời dân, tách rời truyền thống của văn hóa Việt từng đặt nền tảng trên bài học: Công chúa Tiên Dung lấy dân cùng khổ Chữ Đồng! Thế mà ông dám rước giặc vào cung. Ông hủy bỏ công dụng của Loa Thành trong mục đích chống giặc, và ông bỏ quên cả những quân dân đang chiến đấu ở trong thành. Ông đă chỉ cần biết có gia đ́nh ông. Quanh ông giờ đây chỉ c̣n có hai dân: một là con dân Mỵ Châu đă tiết lộ bí mật quốc pḥng, hai là chàng rể Trọng Thủy làm gián điệp nằm vùng. Như thế, ông chỉ c̣n Mỵ Châu là con, là dân, người dân cuối cùng. Ông đă giao Mỵ Châu trách nhiệm quản trị và điều hành nỏ thần, một thứ báu vật bạo lực trong công cuộc kháng chiến thần thánh. Ông tập trung quyền lực vào gia đ́nh hay đảng độc tài toàn trị, với những người thân của ông. Việc tập trung quyền lực, từ nay dân trở thành miếng mồi ngon cho tham vọng không đáy của nhóm quyền chức, giúp chúng mặc t́nh hà hiếp, bóc lột và tham nhũng hối lộ. Ai làm chủ bạo lực nỏ thần, người đó đương nhiên có toàn quyền trên sinh mạng và tài sản của dân. Nhóm đặc quyền tranh nhau xương máu của dân. Toàn dân trở thành mối lợi, thành món hàng của bọn người chỉ biết tư lợi và quyền lực. Thời nào cũng thế! Kết qủa của tranh chấp quyền lực là tai họa giáng xuống toàn thể dân tộc Việt Nam. Và rồi ách thống trị cũng theo chân Triệu Đà và Trọng Thủy trùm lên toàn thể đất nước Việt Nam. Giặc bắt dân ta lên rừng lấy ngà voi, xuống biển ṃ ngọc trai. 3. Dân Nước Bỏ trách nhiệm chăm sóc dân, rồi lại hành hạ dân, xa lánh dân, coi dân như thù địch… và ông chỉ dựa vào thành lũy, chỉ dựa vào bạo lực nỏ thần, chỉ dựa vào nhóm đặc quyền của ông ở trong nước mà cấu kết với bọn tư bản nước ngoài để mà làm giàu, mà áp bức bóc lột nhân dân… th́ việc giữ nước chỉ c̣n là những thủ đoạn tranh quyền đoạt lợi. Nhân dân Việt Nam trở thành mục tiêu cho bất công, cho bóc lột, cho bạo hành. Giữ nước trở thành cướp nước! Theo truyền thống văn hóa Việt, giữ nước là việc của toàn dân. Dân không giữ nước th́ giặc giữ dùm! Không cho dân giữ nước th́ chỉ là cướp nước! a. Sức Nước - Sức do dân. Dưới khía cạnh sức nước, ông từ bỏ truyền thống và xa ĺa cuộc sống người dân, để quyết định xây thành, chính là lúc ông làm băng họai sức mạnh xă hội của nước. Việc xây thành làm hao tổn của cải, tài năng và nhân lực của nước. Vậy mà thành c̣n bị hư sập nhiều lần, nên sức mạnh kinh tế lại càng suy sụp thêm. Khi sống trong thành, xa dân, không c̣n biết đến đời sống người dân, ông bỏ mất sức mạnh chính trị. Khi được nỏ thần, khi không c̣n vận dụng sức dân, khi làm cho dân thấy ḿnh trở thành người ngoại cuộc thừa thăi, chính là lúc ông đánh mất sức mạnh tinh thần trong công cuộc giữ nước. - Sức chiến đấu. Làm mất dân ông bỏ mất những sức mạnh nền tảng của việc giữ nước. Nhưng ông cũng chưa thấy nguy cơ v́ ông đặt trọn niềm tin vào Loa thành và Nỏ thần. Loa thành bảo đảm thế thủ an toàn, và Nỏ thần đang làm mọi người khiếp sợ. Loa thành và Nỏ thần là biểu trưng của sức mạnh quân sự, khả năng giữ nước cuối cùng của An Dương Vương. Nhưng rồi ông thua kém trên mặt trận ngoại giao, khi bị rơi vào thủ đoạn của giặc. Sau khi hao tốn biết bao công qũy để xây thành ngăn giặc, ông lại long trọng rước giặc vào tận thâm cung. Chính ông đă loại bỏ công dụng của sức mạnh pḥng thủ của ông. Thành đă bị phá lũng, ông chỉ c̣n cái nỏ thần. Nhưng ông lại bị tiếp tục thua trên mặt trận gián điệp, và Trọng Thủy biến con dân ông thành nội tuyến, và nàng đă tiết lộ bí mật quốc pḥng. Khi để Trọng Thủy đánh tráo lăy nỏ, trao vũ khí giữ nước cuối cùng vào tay giặc, An Dương Vương đă để mất luôn sức mạnh kỹ thuật. Không sức mạnh, lấy ǵ giữ nước? b. Đất Nước Công cuộc giữ nước bộc lộ rơ ràng nhất trong việc bảo vệ từng tấc đất của quê hương. Thế mà ông dám bỏ mất dần. Nếu trước kia chưa xây Loa thành, ông c̣n để tâm chăm sóc toàn thể đất nước. Nhưng khi xây thành, ông chỉ c̣n giữ lại mảnh đất trong thành. Đối với ông, đất nước ta không c̣n dải h́nh chữ S và trải rộng ra khắp bờ cơi, hải đảo… mà thu hẹp lại trong các hào lũy. Ông chểnh mảng trong việc giữ nước, để chỉ chú tâm tới cái làng ông đang ở. Thế nhưng khi lo cưới chồng cho Mỵ Châu, rước tên giặc Trọng Thủy vào nội cung, ông lại v́ t́nh nhà mà hủy bỏ sự pḥng thủ của thành. Rút cuộc, ông chỉ c̣n thấy cái nhà của ông. Và rồi, khi để Mỵ Châu trao nỏ thần vào tay giặc, ông đă không có khả năng giữ nổi mấy chục thước đất cuối cùng. An Dương Vương thực sự không c̣n đất sống. c. Ảo Tưởng Giữ Nước Thế là hết, ông đă để mất hồn nước, để mất dân nước, để mất sức nước, và cũng đă mất đất nước. Tuy nhiên ông lại không ngờ, ông lại vẫn tưởng ḿnh đang giữ nước. Thực vậy, dầu hồn nước có mất, cũng chỉ có nghĩa là ông đă thực hiện quan niệm cá nhân của riêng ông; dầu người dân có bị loại ra khỏi việc giữ nước, nhưng cũng chính nhờ đó mà ông lại dễ dàng thống trị hơn; dầu chàng rể là con giặc, nhưng trước mắt đă trở thành con ông; dầu công chúa nằm trong tay giặc, nhưng nàng vẫn c̣n mặc áo lông ngỗng; dầu giặc có tung hoành ở thâm cung, nhưng ṿng thành bên ngoài vẫn kiên cố vô song; và dầu lẫy thần đă bị tráo, chiếc nỏ vẫn c̣n nguyên dạng như cũ. Tất cả đều cho An Dương Vương cái ảo tưởng là đất nước vẫn an toàn, và ông là một người lănh đạo và hoàn thành nhiệm vụ giữ nước một cách “đỉnh cao trí tuệ!” Nhưng qủa thực, sở dĩ đất nước c̣n và ông vẫn c̣n như đang giữ nước, không phải v́ ông pḥng thủ hữu hiệu, mà v́ giặc chưa xua quân tiến chiếm. V́ vậy, khi Triệu Đà xua quân tới, An Dương Vương chỉ c̣n cách lên ngựa chạy trốn. Ông không c̣n ǵ. Tất cả đă bị giặc chiếm. Cả đứa con ngồi sau lưng cũng đă thuộc về giặc, cũng đă là giặc. Ôi dân tộc đồng bào! Ôi giang sơn gấm vóc! 4. Vấn Đề Giữ Nước Trong công cuộc giữ nước, người giữ nước tuyệt hảo là người cùng với toàn dân chia sẻ cuộc sống. Mọi người đều chung phần trách nhiệm giữ nước. Tuy ở tầm độ khác nhau, nhưng mọi chức vụ đều là trách nhiệm. Nhưng đàng này, chính An Dương Vương ĺa bỏ truyền thống dân tộc mà quyết định xây thành. Chính ông nhờ thần Kim Quy, van xin nỏ thần. Chính ông hành hạ dân, từ khước dân. Ông cũng đón rước Trọng Thủy, đặt nỏ thần trong tay Trọng Thủy. Chính ông cho Triệu Đà mọi điều kiện để đặt ách nô lệ lên toàn dân. Trong diễn tiến đó, chúng ta có thể thấy tất cả đều chỉ là những giai đoạn của con người An Dương Vương. Từ vị trí của người lănh đạo là phải biết chăm lo cuộc sống an dân thịnh nước, An Dương Vương lại để tham vọng cho ông một ảo tưởng giữ nước, ông là thần là thánh. Qua việc ông cấu kết với thần Kim Quy, qua việc xây xong thành và làm chủ chiếc nỏ thần. Ông đă bỏ nguyên tắc nền tảng đầu tiên của người làm việc nước, là phải xác tín Thân Phận Là Người của ḿnh. Từ chỗ coi ḿnh là thần thánh, An Dương Vương khinh rẻ người dân, không c̣n nhớ tới điều kiện thứ hai của người làm việc nước, là ḿnh đang Mang Nặng Trách Nhiệm. Ông dùng thành lũy để bảo vệ ông, và dùng nỏ thần để uy hiếp mọi người. Ông quyết tâm hưởng thụ, và bắt toàn dân phục vụ ông. Thay v́ cùng với toàn dân chia sẻ gánh nặng giữ nước, ông chỉ c̣n chuyên dùng bạo lực của thành ốc và nỏ thần. Cũng từ đó, ông tạo ra giai cấp đặc quyền. Ông chọn một hoàng tử để làm pḥ mă, dầu đó là con của giặc. Ông c̣n tập trung quyền lực vào gia đ́nh của riêng ông. Ông giao trọn việc giữ nước, giờ đây chỉ c̣n cái nỏ thần vào tay đứa con gái ngờ nghệch của ông. Từ đây, đối với ông, dân chỉ là một thứ nô lệ phải luôn luôn cúi đầu khuất phục ông. Thế là, đối với nước, đối với dân, ông không c̣n là người giữ nước, mà đă trở thành tên giặc cướp nước, trở thành một loại Triệu Đà thứ hai. Làm vua, làm việc nước, nhiều khi c̣n có nghĩa là giặc nước. - Thời suy thoái, khi An Dương Vương xây thành và đặt dân dưới sự ḱm tỏa của nỏ thần. Đó là chế độ, dầu dưới bất cứ danh xưng cao quư nào, mà xây dựng trên vơ lực, trên pháp lư của kẻ mạnh, th́ cũng mạnh được yếu thua. - Khi An Dương Vương tiếp nhận hoàng tử ngoại bang và trao nỏ thần cho con gái, chính là lúc thành lập chế độ gồm giai cấp đặc quyền, nắm giữ mọi quyền hành, và hưởng thụ trên xương máu người dân. - An Dương Vương biến ḿnh thành giặc Triệu Đà thứ hai, là h́nh thức lộ liễu nhất của thống trị, thủ đoạn, mỵ dân. 5. Kết Luận Vịnh Hạ Long Nguồn: mmail.com.my Mỵ Châu và Trọng Thủy đều đă chết. Nhưng chúng ta cảm động nh́n những viên ngọc do máu Mỵ Châu trở thành sáng đẹp khi rửa trong nước giếng chôn xác chồng nàng là Trọng Thủy. Nàng đă yêu thương và tin tưởng chồng đến giao phó cả nước non, đưa nỏ thần cho chàng xem. Nàng đă yêu chàng trong tuyệt vọng đến liều lĩnh, khi nhổ lông ngỗng làm dấu hiệu trên đường chạy trốn chàng. Và giờ đây, cả những giọt máu của nàng cũng tươi sáng lên khi được tắm trong nước tẩm xác chàng. Ôi t́nh nghĩa nàng tiên Việt! Nàng đă sống trọn t́nh yêu. Dầu vậy, với cái chết của Mỵ Châu, Tổ Tiên đă xử tử các chủ thuyết cá nhân vị kỷ. Với việc Trọng Thủy nhảy xuống giếng, th́ các chủ nghĩa tập thể bá quyền cũng bị nhận ch́m chết theo. Bởi thế, chúng ta chỉ có thể sống xứng đáng, trọn vẹn và hạnh phúc, khi thể hiện đầy đủ các đặc tính bẩm sinh vừa cá thể vừa xă hội của ḿnh. Có nhà mà cũng có nước! Có nước mà cũng có nhà! Lynnwood, ngày 23 tháng 4 năm 2007 © DCVOnline |
| Bỏ trách nhiệm chăm sóc dân, rồi lại hành hạ dân, xa lánh dân, coi dân như thù địch… và ông chỉ dựa vào thành lũy, chỉ dựa vào bạo lực nỏ thần, chỉ dựa vào nhóm đặc quyền của ông ở trong nước mà cấu kết với bọn tư bản nước ngoài để mà làm giàu, mà áp bức bóc lột nhân dân… th́ việc giữ nước chỉ c̣n là những thủ đoạn tranh quyền đoạt lợi. Nhân dân Việt Nam trở thành mục tiêu cho bất công, cho bóc lột, cho bạo hành. Giữ nước trở thành cướp nước! Theo truyền thống văn hóa Việt, giữ nước là việc của toàn dân. Dân không giữ nước th́ giặc giữ dùm! Không cho dân giữ nước th́ chỉ là cướp nước! |
| Làm vua, làm việc nước, nhiều khi c̣n có nghĩa là giặc nước. - Thời suy thoái, khi An Dương Vương xây thành và đặt dân dưới sự ḱm tỏa của nỏ thần. Đó là chế độ, dầu dưới bất cứ danh xưng cao quư nào, mà xây dựng trên vơ lực, trên pháp lư của kẻ mạnh, th́ cũng mạnh được yếu thua. - Khi An Dương Vương tiếp nhận hoàng tử ngoại bang và trao nỏ thần cho con gái, chính là lúc thành lập chế độ gồm giai cấp đặc quyền, nắm giữ mọi quyền hành, và hưởng thụ trên xương máu người dân. - An Dương Vương biến ḿnh thành giặc Triệu Đà thứ hai, là h́nh thức lộ liễu nhất của thống trị, thủ đoạn, mỵ dân. 5. Kết Luận Vịnh Hạ Long Nguồn: mmail.com.my Mỵ Châu và Trọng Thủy đều đă chết. Nhưng chúng ta cảm động nh́n những viên ngọc do máu Mỵ Châu trở thành sáng đẹp khi rửa trong nước giếng chôn xác chồng nàng là Trọng Thủy. Nàng đă yêu thương và tin tưởng chồng đến giao phó cả nước non, đưa nỏ thần cho chàng xem. Nàng đă yêu chàng trong tuyệt vọng đến liều lĩnh, khi nhổ lông ngỗng làm dấu hiệu trên đường chạy trốn chàng. Và giờ đây, cả những giọt máu của nàng cũng tươi sáng lên khi được tắm trong nước tẩm xác chàng. Ôi t́nh nghĩa nàng tiên Việt! Nàng đă sống trọn t́nh yêu. Dầu vậy, với cái chết của Mỵ Châu, Tổ Tiên đă xử tử các chủ thuyết cá nhân vị kỷ. Với việc Trọng Thủy nhảy xuống giếng, th́ các chủ nghĩa tập thể bá quyền cũng bị nhận ch́m chết theo. Bởi thế, chúng ta chỉ có thể sống xứng đáng, trọn vẹn và hạnh phúc, khi thể hiện đầy đủ các đặc tính bẩm sinh vừa cá thể vừa xă hội của ḿnh. Có nhà mà cũng có nước! Có nước mà cũng có nhà! |
| Việt Nam Cộng Ḥa Muôn Năm !! |
| TRẦN Đ̀NH NGỌC Cụ ở cùng lều với tôi, tại Subic Bay – Phi luật Tân - từ những ngày đầu tháng 5 năm 1975, sau khi tôi rời khỏi Sàig̣n bằng đường biển vào trưa ngày 30-4-1975 ngay sau khi Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng Cộng Sản Không biết cụ tới đây lúc nào, chỉ biết khi tôi đặt chân lên ḥn đảo tuyệt đẹp này th́ đă thấy cụ ở đây rồi. Tên cụ là Tường - Lê văn Tường - người huyện Phú Thọ, tỉnh Thanh Hoá, Bắc Việt. Dáng người gầy nhưng trông c̣n khang kiện, năm đó cụ vào khoảng 65, 66 tuổi với những nét nhăn trên trán, trên má và cḥm râu bạc trắng như cước. Ngày ba bữa cụ rủ tôi đi lấy cơm từ một nhà ăn rộng lớn do Chính Phủ Hoa Kỳ đài thọ, với số người làm bếp đủ để phục vụ mười lăm ngàn đến hai mươi ngàn người trên đảo mà tất cả toàn là người Việt tị nạn, sau khi đă đào thoát khỏi Việt Nam trước hoặc sau ngày 30-4-75. Mỗi buổi chiều, khi lấy đĩa cơm xong, tôi với cụ Tường thường mang ra bờ đá trước nhà ăn, sát chân sóng, vừa ăn vừa nói chuyện, có khi tới tối mịt mới trở về lều. Trong câu chuyện cụ kể cho tôi nghe, có câu chuyện vô cùng thương tâm của chính gia đ́nh cụ mà hôm nay tôi viết lên đây để cống hiến bạn đọc. Và sau đây là lời cụ Tường. “Thanh Hóa được kể là một trong những tỉnh Chính phủ Cộng Sản Hà nội dùng làm thí điểm trong những đợt người Cộng Sản gọi là “Đấu tranh chính trị, đấu tố địa chủ, cường hào ác bá” hay “Cải cách ruộng đất” tại Bắc Việt. Trước Hiệp Định Genève năm 1954, nghĩa là trước khi Cộng Sản hoàn toàn làm chủ đất Bắc từ vĩ tuyến 17 trở ra, trong khi những vùng khác không có th́ tại Thanh Hoá cũng đă có những cuộc đấu tố, hiến điền rầm rộ rồi. Trong những cuộc đấu tố đó, biết bao nhiêu lương dân đă gục ngă, biết bao gia đ́nh đă tan nát chỉ v́ chính sách quá thâm độc, dă man của Cộng Sản. Cộng Sản không muốn bị mang tiếng là cướp ruộng đất của dân nên chúng đánh thuế thật nặng qua những cuộc “lượng giá” ruộng tốt, ruộng xấu để đóng nhiều hoặc ít lúa cho Chính phủ mà những nông dân ngồi b́nh nghị là chính những người được chúng huấn luyện để làm công việc đó. V́ vậy, nhiều gia đ́nh, nhất là những gia đ́nh địa chủ trước kia, đă phải “lậy” mà dâng ruộng đất cho chính phủ, Cộng sản gọi là “hiến điền”. Số lương dân bị đấu tố và bị chết trong vùng rất nhiều, tôi không thể nhớ hết. Chỉ xin kể ra vài trường hợp điển h́nh trong đó có một linh mục Công giáo, cha Phạm Tần - sau này lên Giám mục - và thân phụ tôi, một người tôi kính yêu suốt đời. Cha Tần ở xứ Phúc Lăng, huyện Quảng Xương, bị Cộng Sản đưa ra đấu tố v́ Cộng sản muốn diệt ngài, diệt một người có uy tín với giáo dân, có thể kích động giáo dân nổi lên chống Cộng Sản, chống những sự tham tàn, độc ác của Cộng Sản. Dù là một người không Công giáo, tôi cũng biết rơ điều đó. Bọn Cộng Sản đánh cha hai trận bằng tầu lá cọ có gai nhọn và cứng dài đến hai đốt ngón tay, đánh từ chập tối đến nửa đêm, cho đến khi cha ngất đi không c̣n biết ǵ nữa mới thôi. Trong trận đấu tố này, chúng dùng một đứa con gái tên Chữ, khoảng 21, 22 tuổi. Bố mẹ con Chữ đang là câu, săi cho nhà xứ Phúc Lăng, từ lâu vẫn sống nhờ sự giúp đỡ của các cha. Bọn cán bộ Cộng sản dạy con Chữ cách căm thù cha Tần. Đầu tiên chúng nhồi vào đầu óc đứa con gái ngu dại này rằng chính cha Tần và các linh mục trong nhà xứ đă bóc lột sức lao đông của cha con nó từ bao lâu nay. Lẽ ra gia đ́nh nó phải được ăn sung mặc sướng, có nhiều tiền, nhiều thóc như nhà xứ Phúc Lăng. Nhưng v́ cha Tần tham lam, không trả công tương xứng nên cha Tần chỉ làm giầu cho chính ḿnh trong khi gia đ́nh nó nghèo túng, thiếu ăn, thiếu mặc. Bọn cán bộ c̣n bắt con Chữ phải dựng đứng câu chuyện bỉ ổi là trước mặt dân chúng, con Chữ phải nói rằng chính cha Tần đă bắt nó phải ngủ với ông bao nhiêu lần, đă trêu ghẹo nó, làm tầm bậy tầm bạ làm sao vv... Cán bộ Cộng Sản cũng bắt con Chữ và mọi người phải gọi là “thằng Tần” chứ không được gọi là cha Tần như trước. Đến ngày đấu tố, bọn cán bộ vào nhà xứ lôi cha Tần ra trước sân cuối nhà thờ, ở đó dân chúng đă bị thúc đẩy đi dự đấu tố đông nghẹt một sân rộng. Con Chữ đă làm tất cả những ǵ bọn Cộng sản muốn, kể cả việc nó trùm váy của nó lên đầu cha. Và sau đó là những trận đ̣n cho đến khi ngất đi. Cần phải để ư là bọn cán bộ không dùng những người ngoài Công giáo để đấu tố các cha. Chúng dùng ngay những người Công giáo và dùng ngay chính những kẻ xưa nay được tiếng là thân tín với các cha để đấu tố các cha. Như cha Tần, sau khi bị đánh lần thứ hai, chúng tưởng ngài chết rồi nên gọi giáo dân đến khiêng về nhà xứ mà chôn. Lúc ngài được khiêng vào pḥng khách nhà xứ, một người đàn ông tên Mạnh và con Chữ qú xuống nắm lấy tay ngài khóc, nói: - Chúng con bị bọn cán bộ bắt buộc phải đấu tố cha, phải nói dựng đứng những chuyện cha không có. Chúng con đă đấu tố bậy. Xin cha tha lỗi cho chúng con. Nhưng cha Tần đă hôn mê, ngài c̣n biết ǵ nữa đâu. Tất nhiên sau đó bao nhiêu ruộng của nhà xứ Phúc Lăng mà chúng buộc là của cha Tần, bị xung công gần hết, chỉ c̣n để lại mấy sào không đủ nuôi vài miệng ăn trong nhà xứ. Sau đó đến cha Thước, xứ Thổ Ngơa. Cung cách chúng dùng để đấu tố cha Thước cũng y như những bài bản đă áp dụng cho cha Tần. Chúng muốn hạ uy tín các linh mục là những cán bộ ṇng cốt của Giáo hội để không một giáo dân nào tin tưởng và tuân phục mệnh lệnh các cha và chúng tiến đến dần đến chỗ tiêu diệt tôn giáo.” Cụ Tường nói một thôi không nghỉ. Giọng cụ lẫn vào tiếng gió và sóng biẻn vỗ vào bờ đá làm tôi có cảm tưởng những linh hồn oan khuất của những lương dân vô tội bị Cộng sản giết oan trong các đợt đấu tố dă man như đang hiển hiện về đây nói cho chúng tôi nghe những căm hờn uất hận khôn nguôi. Cụ Tường ngưng một lúc, lấy trong túi áo ra một cái ví nhỏ xíu như của đàn bà vẫn dùng. Cụ mở ví lấy ra một tờ giấy mỏng, lấy thuốc lá sắp đều lên tờ giấy. Cụ vấn thuốc hút. Tôi phải giúp cụ bằng cách ngồi che gió và bật quẹt cho cụ. Khi điếu thuốc đă cháy, cụ rít một hơi, thở khói, nói: - Tôi đă bỏ hết quần áo sau khi chuyển qua mấy chiếc tầu nhưng cố giữ ít thuốc vấn v́ tôi hút thuốc lá của Mỹ nóng lắm, chịu không được. Ông tính cuộc đời của tôi c̣n ǵ. Bố chết phải bỏ nằm đấy mà chạy. Hai lần bỏ vợ, bỏ con. Bây giờ trôi dạt ở đây một thân một ḿnh..” Tôi an ủi cụ: - Thôi cụ ạ, vận nước. Vả lại chẳng qua cũng cái số. Cụ có buồn cũng không ích ǵ. - Vẫn biết thế, ông Vũ ! Nhưng sao tôi vẫn cảm thấy buồn. Buồn cho nước, cho đồng bào bị cái khổ nạn không biết bao giờ mới qua. Buồn cho gia đ́nh, cho thân thế ḿnh, những người liên hệ với ḿnh, cả một cuộc đời long đong lận đận đầy khổ nhục và nước mắt. Rồi mai sau, với cái hiện tại như thế th́ con cháu ḿnh sẽ ra sao, sẽ là cả một cuộc đời tăm tối ở trước mặt, hết thế hệ này sang thế hệ khác. Thôi được, tôi nói tới đâu rồi, hả ông Vũ? - Dạ, thưa cụ đang nói đến chỗ bọn cán bộ đấu tố cha Thước cùng một kiểu như cha Tần ... Cụ Tường nâng ly nước vừa lấy từ nhà ăn lên nhấp một ngụm: - Ờ, ờ, tôi cũng cần phải thêm với ông rằng bọn cán bộ ghép cho các linh mục cái tội “phong kiến” để đem ra đấu tố. Ông có biết sau khi cha Tần bị đánh bằng cái tầu lá cọ, gai đâm vào người cha lấy ḱm nhổ ra được gần một chén ăn cơm. Gai đâm khắp ḿnh mẩy, chỉ trừ đầu là chúng chừa ra mà thôi v́ sợ đánh vào đầu sẽ chết mau. Ông thấy chúng dă man chưa? Các linh mục, như tôi nói, chúng dùng toàn người Công giáo để đấu tố; một số địa chủ th́ chúng dùng toàn người làm, tá điền và chúng bắt cả con cái phải đấu tố cha mẹ như trường hợp cụ Cai Bái ở làng Gia Đại. Cụ Bái có hai người con trai, một người làm tới chức Chủ tịch Tiểu khu, người kia là Cán bộ Liên khu 3, thế mà hai người này phải về đích thân đấu tố, chửi bố mẹ là địa chủ phú nông bóc lột vô sản, thậm chí nhổ nước miếng vào mặt bố mẹ, đứng nh́n cho những con vợ tá điền trùm váy vào mặt bố mẹ. Tôi hỏi ông, chủ nghĩa vô luân như thế th́ c̣n trời đất nào không? - Thưa cụ đúng. Chủ nghĩa nghịch ḷng dân, trái đạo trời làm sao đứng vững được. Tôi thấy gió bắt đầu lạnh, trời cũng đă muộn muộn mà ông cụ có vẻ không được khoẻ, bèn đề nghị: - Nghe chuyên cụ thâu đêm c̣n muốn nghe, nhưng có lẽ đă hơi lành lạnh. Mời cụ về nghỉ, mai lại xin cụ cho nghe tiếp. Thu nhặt chén đĩa giấy, tôi đem bỏ vào một cái thùng phuy lớn gần đó rồi cùng cụ trở về lều. Mặt biển đen thẫm mênh mông trước mặt với vài ngọn núi nhỏ trơ vơ. Tiếng sóng đập vào ghềnh đá bộp bộp thành một âm thanh đều dều nghe thật buồn nản. Nỗi kinh hoàng mới vài tuần trước đây tại Sàg̣n khi Sàig̣n rơi vào tay Cộng Sản cùng với nỗi đau đớn của cái cảnh quốc phá gia vong làm cho thần trí tôi nhiều lúc mê muội đi không c̣n nghĩ ḿnh đang sống hay đă chết, hoặc sống nhưng là sống với cái xác không hồn. Một phút bỗng tiêu tan hết, một phút sụp đổ hết. Số phân ḿnh cùng với số phận của đồng bào và cả quốc gia dân tộc. Đau đớn biết chừng nào! Những lời an ủi cụ Tường lúc năy cũng chính là những lời tôi tự an ủi. Tôi và cụ Tường chui vào lều. Đám trẻ đă rủ nhau đi coi xi-nê. Mỗi tối, quân đội Mỹ có ba, bốn chỗ chiếu phim để giải trí cho đồng bào tị nạn. Có những gia đ́nh đi được cả vợ chồng con cái, ông bà, cha mẹ, anh em, họ hàng. Họ vui như Tết và có thể họ mang được vàng bạc, đô-la theo. Họ thấy cuộc di tản này quả có lư. Ngày ba bữa, cả gia đ́nh mấy chục người sắp hàng đi lấy cơm ăn xong ra bờ biển chơi, tối xem xi-nê. Họ vừa ḷng với cảnh di tản và không có một điều ǵ phải lo nghĩ. Trái lại, có nhiều gia đ́nh vợ mất chồng, con mất cha, anh em tứ tán. Họ buồn rầu, khổ sở, lo lắng. Có những người ngồi khóc cả ngày. Thậm chí có người sang tới Guam rồi ghi tên xin trở về Việt Nam. Có lần tôi hỏi cụ Tường: - Người ta kẹt gia đ́nh ở Việt Nam nên có nhiều người xin trở về. Cụ nghĩ sao? Nét mặt rầu rầu, cụ đáp: - Tôi bỏ lại nhà tôi và năm đứa con tại Sàig̣n. Tôi cũng đau khổ lắm chứ. Nhưng bảo trở về sống với Cộng sản th́ nhất định không. Thà tôi chết dập chết vùi nơi đây c̣n hơn. Ông Vũ tính coi, tôi đă sống với chúng và chúng đă bắt chúng tôi phải làm tập thể, ăn tập thể. Đàn ông ở riêng, đàn bà ở riêng. Mỗi buổi sáng đánh một tiếng cồng th́ ra đồng làm. Trưa đánh một tiếng cồng th́ về ăn cơm. Có ban hoả thực riêng lo việc nấu nướng. Chiều lại ra đồng làm rồi tối lại về. Ăn cơm tối xong, họp hành kiểm thảo đến nửa đêm mới được đi ngủ để sáng sớm lại ra đồng. Con người như cái máy chả c̣n ǵ là sinh thú của cuộc đời nữa. Vợ chồng th́ ba, bốn tháng chúng cho gặp nhau một lần. Chết đem ra đồng chôn. Sống như thế th́ ông bảo tôi trở về để làm cái ǵ ? Tôi quá sợ cái chế độ đó rồi. Ngày hôm sau, cụ Tường và tôi đi lấy cơm sớm hơn. Lại ra chỗ cũ ngồi và cụ lại kể tiếp: “Hôm nay tôi kể cho ông Vũ nghe về cái thảm cảnh của gia đ́nh tôi, cái thảm cảnh mà mỗi lần kể là tôi lại khóc. Hồi đó, ông bố tôi làm Chánh tổng, tổng Thủy Cơ. Phải biết tỉnh Thanh Hoá có bẩy phủ, bẩy huyện và tổng Thủy cơ. Tổng Thủy Cơ bao gồm tất cả các thuyền bè đậu ở khắp nơi thuộc về tỉnh Thanh Hoá. Nói thế chắc ông Vũ cũng mường tượng ra Tổng Thủy Cơ lớn như thế nào. Dân số trong tổng Thủy cơ rất đông và chức Chánh tổng tổng Thủy Cơ cũng được coi ngang hàng với các chức tri huyện, tri phủ trong tỉnh. Trong đợt đấu tố đầu vào những năm 1950-51, bố tôi thoát được v́ ông t́m cách khéo léo với cán bộ xă, huyện để chúng khỏi báo cáo lên cấp trên. Nhưng đến đợt cải cách ruộng đất năm 1956-57 th́ chúng đem bố tôi ra đấu tố. Cũng nên mở một dấu ngoặc ở đây là sau Hiệp định Genève tháng 8 năm 1954, dân Thanh Hoá, cả Công giáo và không Công giáo đều muốn di cư vào Nam. Số người muốn ở lại với bọn Cộng Sản đa số là cán bộ hoặc liên hệ gia đ́nh với cán bộ, không có bao nhiêu. Nhưng bọn cán bộ rất tinh quái. Chúng t́m đủ mọi cách để ngăn chặn làn sóng di cư vào Nam, y như nhiều nơi khác. Có những gia đ́nh rục rịch trốn đi, chúng biết được liền cản trở và để tâm trả thù, làm hại. Gia đ́nh tôi muốn đi lắm lắm, nhất là bố mẹ tôi, thế mà không sao đi được. Chúng tôi biết chỉ có vào Miền Nam sống dưới chế độ Quốc gia th́ mới có tự do sinh sống, tự do ngôn luận, tự do tôn giáo. C̣n ở với bọn chúng th́ mất hết tự do, chẳng những vậy, gia đ́nh tôi bị chúng để ư theo dơi, ngộp thở lắm ông à ! Tháng 9 năm 1956, nhân cái đợt gọi là “Cải cách ruộng đất” do tên đồ tể Trường Chinh phát động, bọn cán bộ đem bố tôi ra đấu tố. Chúng ghép cho bố tôi cái tội là địa chủ bóc lột tá điền, trước kia là Chánh tổng tổng Thủy Cơ ăn hối lộ và bóc lột dân thuyền bè sinh sống trên sông nước. Chúng kể ra cho bố tôi một trăm thứ tội. Nào là ngủ với vợ thằng tá điền này, đánh thằng tá điền kia, không cho vay lúa thóc, bỏ đói những tên tá điền khác. C̣n mẹ tôi th́ chúng ghép vào tội cho tá điền vay lúa thóc lấy lời nặng, trả công người làm với giá lương quá thấp, chết đói vv... Chúng đem trói bố mẹ tôi vào một cái cọc trước sân đ́nh rồi cho các tá điền trước đây làm cho bố mẹ tôi cứ thế mà chửi rủa, quát tháo, lăng nhục. Con vợ một thằng tá điền tên Cam đă đứng vén váy đái vào đầu bố tôi, c̣n mẹ tôi th́ nó tát cho sưng cả mặt. Chúng định đưa cả tôi ra đấu tố v́ chúng đă ghép tôi vào hàng địa chủ. Vả lại, trước kia tôi có giúp đỡ bố tôi trong công việc hàng tổng, lo về giấy tờ hộ tịch mà người ta gọi tôi là hộ lại của Tổng Thủy Cơ. Nhưng h́nh như có một vài đứa đề nghị sao đó, nói rằng nên để tôi vào đợt sau th́ hơn v́ đem tôi ra đấu cả đợt này cùng với bố mẹ tôi th́ e rằng nhân dân sẽ cho là nhà nước tư thù gia đ́nh tôi, đem tất cả ra mà đấu tố. Nhờ thế mà tôi thoát chết. Sau khi chúng đấu tố bố mẹ tôi và đánh đập mắng nhiếc suốt một ngày trời th́ chúng cho về, bảo rằng sẽ c̣n đưa ra đấu tố một lần nữa vào một tuần sau. Chúng ra hạn cho bố tôi phải làm bản tự thú hết mọi tội lỗi, những tội tưởng tượng mà chúng đưa ra đều phải nhận hết, đồng thời xin Chính phủ, Đảng và nhân dân tha tội. Mục đích của chúng là khi đă nắm được bản thú tôi của bố tôi th́ mọi chứng cớ đă hiển nhiên, tờ thú tội phù hợp với những lời khai gian, vu cáo của bọn tá điền. Rồi, từ đó, chúng sẽ tịch thu hết ruộng đất, tài sản của gia đ́nh tôi bằng một toà án nhân dân do chúng lập ra. Sau trận đấu tố đó, bố tôi về mang bệnh nằm liệt giường. Mẹ tôi th́ đỡ hơn nhưng ông nghĩ coi, tuổi già sức yếu, các ngài làm sao chịu được những điều khổ nhục đau đớn như thê? Ngày xưa, mọi người đều gọi bố tôi là cụ Chánh (Chánh tổng), bây giờ chúng bắt mọi người phải gọi bằng thằng. Chúng cô lập gia đ́nh nhà tôi. Đem đồ đi chợ bán, chúng không cho người ta mua, nếu chúng tôi muốn mua những đồ cần thiết, chúng cũng không bán. Chúng cấm mọi người liên lạc, lui tới. Chúng ŕnh rập đêm ngày và làm mọi cách để khủng bố tinh thần người trong nhà. Chúng cho người ta có cảm tưởng rằng giầu là một trọng tội, dù giầu bằng sự cần cù, chân chỉ, làm ăn lương thiện. C̣n ra làm việc dưới thời Pháp thuộc, dù làm để giúp dân giúp nước, làm một cách ngay thẳn thanh liêm cũng là có tội, có trọng tội đối với chúng. Tôi chỉ lấy làm lạ rằng sao hồi đó Việt cộng ghét thực dân Pháp đến thế mà bây giờ, sau 30 năm kể từ ngày 19-8-45, Việt cộng lại o bế Pháp hơn ai hết, thân thiện với Pháp hơn bất cứ nước nào. Vậy mà trước Hiệp định Genève 1954, người dân nào bị chúng gán vào tội Việt gian tay sai cho Pháp th́ chỉ có chết, không cách ǵ sống nổi. Thật kỳ lạ cho cái miệng lưỡi của Cộng Sản.” Cụ Tường lại lấy thuốc ra vấn, thông lệ của cụ sau mỗi bữa ăn. Hôm nay gió nhẹ chứ không thổi mạnh như hôm qua. Mặt trời đỏ ối đang từ từ ch́m dần xuống mặt biển. Vài chiếc tầu đậu tít ngoài khơi hiện h́nh trên đám mây trắng trôi nổi trên nền trời xanh. Một đám trẻ ḥ hét ầm ĩ thả những chiếc tầu nhỏ xíu chúng gấp bằng giấy xuống biển và ngồi trên bờ nh́n cho chúng trôi. Thỉnh thoảng một cái kỳ đen của một con cá lớn chạy dài trên mặt nước làm đám người đứng trên bờ hô hoán lên là kỳ của cá mập. Tôi móc thuốc lá ra - bao Winston - hút với cụ Tường một điếu cho vui. Đám người ngồi hóng gió thưa dần. Họ trở về lều hay chuẩn bị đi xi-nê. Chiều xuống lặng lẽ với vài tia nắng mờ nhạt c̣n thoi thóp trên lùm cây cao phía chân núi. Tôi ch́m đắm trong nỗi buồn thấm thía, không biết rồi tương lai của ḿnh sẽ đi về đâu. Kéo xong vài hơi thuốc, cụ Tường lại tiếp tục: “Lẽ ra một tuần sau đó chúng lại đưa bố tôi ra đấu tố một lần nữa như chúng đă nói. Nhưng v́ ông bố tôi đau nặng quá không lết nổi, nên chúng tuyên bố hoăn lại cho đến khi nào ông cụ khỏi. Tuy vậy, chúng vẫn cô lập và ŕnh rập gia đ́nh tôi đêm ngày. Mẹ tôi muốn mua bán thứ ǵ phải nhờ người em họ, chồng cô ấy vốn làm việc cho chúng từ hồi c̣n bí mật, để cô ấy mua bán giùm những thứ cần thiết và đến tối mới chui bụi tre phía sau đem vào cho chúng tôi. Dạo đó tôi đă có vợ và bốn đứa con. Gia đ́nh tôi ở cách nhà bố mẹ tôi khá xa. Vả lại, như tôi đă nói, tôi chưa phải là mục tiêu của bọn chúng lúc đó v́ vậy c̣n được thong thả đi lại, nhưng cứ nghĩ đến cái tai nạn bố mẹ đang phải chịu, tôi không cầm được nước mắt. Sau ba tháng, bố tôi hồi phục v́ nhờ bà cô lén mua thuốc bắc giùm tại một ông lang măi tận Ba Làng. Sắc thuốc th́ phải sắc lén kẻo mùi thuốc bắc đánh sang hàng xóm, bọn công an vào khám được th́ tội càng nặng thêm. Đồ ăn đồ uống có cái ǵ ngon cũng phải xào nấu lén. Mua được một con gà để nấu cháo cho bố tôi ăn cho chóng khỏi, phải cắt tiết ở ngoài cánh đồng, c̣n lông th́ đem chôn ở góc vườn. Ăn giấu, ăn đút c̣n hơn là kẻ có tội nữa. Tôi chưa thấy cái chánh sách nào kỳ cục như thế. Chỉ c̣n mười ngày nữa là đến tết Đinh Dậu (1957), bọn cán bộ đến báo cho bố mẹ tôi là chúng sẽ đem bố mẹ tôi ra đấu tố một lần nữa vào đúng ngày hăm ba tháng chạp năm Bính Thân, ngày ông Táo chầu trời. Trước đó, tôi cũng đă được biết qua một người bạn rất thân đang làm việc với chúng là sau bố mẹ tôi th́ sẽ đến lượt tôi. Tội nghiệp bố tôi, nào ông cụ đă khoẻ hẳn đâu cơ chứ. Mới hơi hơi lại người sau một cơn đánh đập tàn ác thập tử nhất sinh, thiếu thuốc, thiếu đồ bồi dưỡng. Ông cụ mới đi đi lại lại được trong sân nhà và từ nhà trên xuống nhà bếp th́ chúng lại đưa ra đấu tố nữa. Hai thằng đầu trâu mặt ngựa vốn xưa kia là tá điền của bố tôi, bố tôi coi chúng như con, lấy tô rất nhẹ lại c̣n dựng vợ gả chồng cho chúng, cho tiền, cho thóc đối đăi hơn cả cháu ruột. Thế mà giờ này chúng nghe theo lời bọn cán bộ nhất định giết bố tôi cho bằng được. Đối với chúng, Trí, Phú, Địa, Hào c̣n phải căm thù hơn cả giặc xâm lăng. Chúng muốn cho toàn dân ngu dốt và nghèo đói để chúng dễ cai trị và chỉ có một giai cấp thống trị là bọn chúng. Chiều hăm hai tháng chạp, bố tôi gọi tất cả con cái tề tựu lại trước bàn thờ tổ tiên. Có vài người chị gái tôi lấy chồng xa không thể đến được, c̣n th́ tất cả đều hiện diện đầy đủ. V́ là gần Tết, bọn cán bộ mải đi sám sửa tét nhất nên chúng lơ là việc canh chừng gia đ́nh tôi nên mọi người mới tề tựu đông đủ được. Khi con cái đă ngồi trên mấy cái chiếu trước bàn thờ, bố tôi sai tôi đi thắp hương và nến lên. Cụ mặc quần áo trịnh trọng, đội khăn và đi giầy tử tế rồi đứng trước bàn thờ lâm râm khấn và lễ. Xong cụ đứng bên cạnh để mẹ tôi, rồi lần lượt đến chúng tôi, ai ai cũng đều khấn vong linh ông bà tổ tiên và lạy trước bàn thờ. Mẹ tôi và mấy đứa em gái thấy khung cảnh trang nghiêm và cảm động, lại nhớ đến hoàn cảnh đau đớn của gia đ́nh, bất giác bật khóc. Bố tôi thấy vậy không cho khóc, cụ nói bọn cán bộ nghe được th́ chúng giết cả nhà. V́ vậy chỉ c̣n nghe những tiếng nấc tức tưởi với hàm răng nghiến chặt cho tiếng khóc khỏi bùng ra. Lễ xong, bố tôi bảo mọi người ngồi xuống chiếu, c̣n cụ th́ ngồi ngay chính giữa sập, mẹ tôi ngồi một góc bên cạnh. Cụ dơng dạc nói: - Nhà ta từ các cụ cho đến đời bố mẹ đều cố gắng ăn hiền ở lành. Làm việc cho hàng tổng th́ bố cố giữ thanh liêm v́ nhà ta có bát ăn bát để từ lâu, đâu có thiếu thốn ǵ mà phải đào khoét của dân. C̣n ruộng nương, điền thổ trong nhà là do ông bà để lại, tá điền cấy rẽ th́ lấy tô thật nhẹ, nhẹ hơn người ta nữa thế mà từ ngày chánh phủ mới lên, họ khép cho bố những tội tầy đ́nh, nào địa chủ bóc lột, nào cường hào ác bá. Họ đă đem bố ra đấu tố một trận và kết quả là bố tưởng chết ngay sau đó. Bây giờ mới tỉnh dậy được một tí, họ lại đem ra đấu tố nữa. Bố nghĩ trước sau bọn cán bộ cũng sẽ t́m cách giết bố cho bằng được, mà giết một cách khổ nhục, ê chề. V́ vậy, có thể lúc lâm chung bố không c̣n kịp gặp mẹ và các con, ngày hôm nay bố gặp mẹ và các con một lần cuối. Bố tôi nói đến đó th́ nghẹn lời, cụ không nói tiếp đuợc nữa v́ quá cảm động. Mà mẹ tôi với anh em chúng tôi cũng không cầm được nước mắt, tiếng khóc oà vỡ ra như nước lũ phá bờ đê. Bố tôi thấy vậy, nghĩ là quá nguy hiểm nên khoát tay ngăn mọi người và nói: - Bà và các con cấm không được khóc. Khóc tụi nó nghe thấy th́ c̣n khổ hơn. Hăy nghe đây! Sau khi bố chết rồi th́ cả nhà may ra sẽ được yên với chúng nó hơn, v́ cái gai là bố chúng nó đă nhổ được rồi. Chỉ có thằng Tường có ra làm việc với tổng mà lại có tư điền mấy chục mẫu vậy sau bố có lẽ chúng nó để ư dến con. Con liệu xem có cách nào trốn để bảo toàn được cái mạng chứ con ở nhà th́ bố chết không nhắm mắt đâu. Nói xong, ông cụ bảo mọi người giải tán rồi vào trong buồng nằm. Tôi cũng trở về nhà v́ lúc đó cũng gần tối. Đêm hôm đó tôi không ngủ được. Phần nghĩ rằng ngày mai chúng sẽ đưa bố tôi ra đấu tố, có lẽ lần này bố tôi chết nên ông cụ đă trối trăn hết tất cả. Cứ nghĩ đến một đời bố tôi lo lắng cho mẹ tôi và chúng tôi, ăn hiền ở lành, người trong tổng Thủy Cơ, ngay cả nhiều nơi trong tỉnh Thanh Hoá cũng quí mến bố tôi v́ tinh thần hay cứu giúp người và làm việc nghĩa. Thế mà bây giờ bọn chúng thù ghét bố tôi đến như thế, không muốn để bố tôi sống nữa. Về phần tôi là con trai cả trong gia đ́nh, tôi có bổn phận nhiều hơn các chị và các em tôi để nhang khói cho ông bà cha mẹ. Nhưng tôi biết rơ, sau bố tôi là đến lượt tôi, v́ vậy bố tôi hết mực khuyên tôi phải cao chạy xa bay th́ mới bảo toàn được mạng sống. Tôi có hai người đồng chí cùng muốn trốn với tôi. Người thứ nhất là bạn cùng làm việc trong hàng tổng, giữ chức thư kư, tên anh ta là Các, cũng trạc tuổi tôi, có vợ và năm đứa con. Người thứ hai là ông thầy bên Công giáo vẫn gọi là thầy Điền, đang dạy trẻ tại xứ Thổ Ngoă. Từ hôm cha Thước bị đem ra đấu tố v́ mỗi cái tội bị ghép là “phong kiến”, ông thầy Điền đâm ra sợ hăi quá chừng. Ông t́m gặp tôi v́ trước kia ông hay đến nhờ cậy bố tôi và tôi việc hàng tổng. Ông dám nói thật với tôi ư định trốn đi v́ ông biết tôi cũng đang t́m đường trốn và có thể tin cậy tôi được. Có lẽ nay mai tôi phải kiếm cách gặp hai người đó để bàn tính ngày lên đường v́ nghe đồn đă có ít người trốn được vào Nam rồi. Hai giờ đêm đó, con bé cháu con cô em tôi (ở chung nhà với bố mẹ tôi) đến báo cho tôi hay bố tôi đă mổ bụng tự sát. Nó nói sau khi con cái về hết rồi, bố tôi đi lấy một con dao đi rừng thật tốt đem ra mài. Cả nhà cứ nghĩ có lẽ tết gần đến, cụ mài dao như mọi năm, để có thái thịt thái rau ǵ chăng nên chẳng ai để ư. Mài dao xong lại thấy cụ vào pḥng nằm. Đến hai giờ đêm, mẹ tôi nghe tiếng bố tôi rên la nhè nhẹ, liền thắp đèn lên chạy vào th́ thấy máu đổ ra hàng vũng lớn trên nền nhà mà bố tôi ruột gan phơi cả ra ngoài, mắt trợn trắng, sắp chết rồi. Khi ông cụ ra dấu cho bà cụ ghé tai vào miệng để ông cụ trối th́ bà cụ chỉ nghe được có năm tiếng th́ thào gần đứt hơi: "Bảo thằng Tường trốn ngay !” Nói xong câu đó, cụ trút hơi thở cuối cùng. Ngay lập tức, mẹ tôi cho đứa cháu gái len lỏi đi lối tắt đến nhà tôi báo tin dữ, đồng thời bảo tôi liệu mà trốn đi ngay, chớ có thương tiếc ǵ nữa. Nghe đứa cháu nói xong, tôi khóc oà lên, thương cho bố tôi quá và cũng cảm phục bố tôi quá can đảm, thà tự giết ḿnh hơn là để bọn cán bộ giết, thà chết như thế c̣n hơn là sa vào tay bọn chó sói. Nhưng tôi phải bụm miệng ngay lại. Bố tôi đến lúc chết vẫn c̣n nghĩ đến tôi, mấy lời cuối cùng của cụ là giục tôi trốn đi. Vậy tôi phải cố gắng làm theo ước nguyện của Người để linh hồn Người được mát mẻ nơi chín suối. Tôi bảo con cháu ra về đồng thời quay dặn vợ tôi vài câu, nh́n qua mặt mấy đứa con đang ngủ, rồi cứ thế, với một bộ quần áo độc nhất trên người và ít tiền trong túi, tôi đến nhà anh Các. Tại đây, tôi bàn kế hoạch trốn đi với anh và anh đồng ư ngay. Tuy nhiên, chúng tôi phải đợi đến đêm hôm sau mới đi được v́ c̣n nhờ người thông báo cho thầy Điền. Chúng tôi muốn có bạn đồng hành v́ đi toàn đường rừng rất nguy hiểm, người nọ dựa vào người kia, lúc khoẻ đă vậy lúc đau ốm, có bạn cũng đỡ nhiều. Sở dĩ bọn cán bộ không truy lùng tôi ngay v́ sau khi bố tôi chết rồi, mẹ tôi không động tĩnh ǵ hết, cứ mặc quần áo và đắp chăn chiếu cho ông cụ y như cụ hăy c̣n sống. Mẹ tôi cũng cấm con cháu trong nhà không được khóc và cấm loan tin bố tôi đă chết ra ngoài. Có lẽ mẹ tôi dụng tâm giúp tôi một lần cuối cùng để cho tôi đi thoát v́ nếu bọn cán bộ biết bố tôi đă chết, chúng đến nhà không thấy có mặt tôi là truy lùng tôi ngay. Tối hăm ba ông Táo chầu trời, vào lúc vàng vàng mặt trời, bọn cán bộ kéo đến nhà bố tôi cùng với những tên tá điền phản chủ, vô ân bội nghĩa. Chúng vào trong nhà quát ầm ĩ lên: "Thằng Thiềng đâu? Hăy ra đây cho nhân dân xử tội !” Mẹ tôi chỉ tay vào trong buồng. Bọn chúng tông cửa chạy vào nhưng tất cả đều bổ ngửa ra khi thấy bố tôi đă chết. Tự sát chết. Dĩ nhiên chúng tra khảo mẹ và các em tôi rất dữ nhưng đầu mối là bố tôi mà bố tôi đă chết rồi, chúng có làm ǵ chăng nữa th́ cũng đến thế thôi. Một tên trong bọn sực nhớ đến tôi, liền la lên: ”C̣n thằng con của nó nữa, thằng Tường.” Thế là cả bọn bàn kế hoạch truy lùng tôi nhưng lúc đó tôi đă cùng hai người bạn vào sâu trong rừng rồi. Sở dĩ tôi biết được các chi tiét xẩy ra sau khi đi v́ có mấy người làng sau này cũng trốn được vào Sàig̣n kể lại cho nghe. * * * Cuộc hành tŕnh xuyên sơn của chúng tôi vô cùng gian khổ. Khởi hành ngày 23 tháng chạp mà đến tháng tư năm sau chúng tôi mới tới được khu vực do quân đội Quốc gia kiểm soát tại Quảng Trị. Từ Thanh Hoá, nếu đi theo quốc lộ I, chúng tôi phải đi qua Nghệ An, Hà tĩnh, Quảng b́nh rồi mới đến Quảng Trị. Cách Quảng Trị hơn 30 km là cầu Hiền Lương, bắc qua sông Bến Hải, ranh giới giữa hai miền Nam Bắc. Sang được bờ phía Nam sông Bến Hải đă là điều mừng lắm rồi. Nhưng chúng tôi đâu có dám đi theo quốc lộ. Con đường chúng tôi đi c̣n xa và nguy hiểm hơn con đường ṃn bọn cán bộ Việt Cộng sau này dùng để tải bom đạn và người vào quấy phá miền Nam. Có khi, mỗi ngày chúng tôi chỉ đi được hơn chục cây số, lại phải nghỉ và trốn v́ sợ bọn chúng bắt gặp. Đă có những nhóm người bị chúng bắt, chúng đem xử tử ngay, không cần phải giải về quê quán. Một lần ba anh em chúng tôi lạc vào một bộ lạc người thiểu số, chẳng biết là Mường hay Mán, ở gần biên giới Lào - Việt. Mới đầu, bọn người này làm rất dữ, tôi tưởng phen này chắc là bị chúng giết v́ ngôn ngữ bất đồng, không sao giải thích cho họ hiểu được. Nhưng sau nhờ có một ông già trong bộ lạc đứng ra nói với tên tù trưởng và đưa chúng tôi về nhà, một cái nhà sàn ngay giữa làng. Ông già và vợ con ông ta đối đăi với chúng tôi rất tử tế. Nào cho ăn, cho quần áo thay để tắm giặt, cho uống rượu cần và líu lo với chúng tôi cả ngày nhưng chúng tôi có biết họ nói ǵ. Ông bà già có một người con gái chừng hai mươi tuổi, xinh xắn, dễ thương. Tên cô là Mây Mali. Cô thường sắp cơm cho chúng tôi ăn, dẫn chúng tôi ra suối và kể cho chúng tôi nghe những chuyện thật dài nhưng chúng tôi hoàn toàn không hiểu, chỉ gật đầu tràn. Chúng tôi lưu lại nhà của Mây Mali một tuần lễ cho lại sức v́ cả tháng chỉ toàn ăn đồ khô và ngủ trên cành cây trong rừng. Có mấy viên thuốc cảm đưa đi uống đă hết, chúng tôi chỉ sợ bệnh sốt rét rừng giữa đường th́ thật là nguy khốn. Một bữa, ông già ra hiệu bảo với chúng tôi ông sẽ kiếm cho chúng tôi mỗi người một cô vợ. Riêng thầy Điền trẻ nhất bọn và khá đẹp trai, ông sẽ gả Mây Mali cho. Nghe hai ông bà già nói, chúng tôi cứ cười ngặt cười nghẽo. Hoàn cảnh này mà dám nghĩ đến chuyện lấy vợ lấy con sao? Giá có tiên thực chúng tôi cũng không dám. Mạng sống đang như sợi chỉ mành treo chuông c̣n dám bay bướm sao? Chúng tôi khoát tay chối từ với ông già nhưng ông không hiểu lại nghĩ chúng tôi từ chối lấy lệ. Và ông làm ngay điều ông định làm. Tối hôm đó, ông già bảo thầy Điền nằm riêng ra rồi cho Mây Mali đến nằm cạnh thầy. C̣n tôi và Các th́ ông dẫn ở đâu đến hai cô con gái khác. Ông nói những ǵ với hai cô này rồi một cô lại kéo tay tôi và một cô đến kéo tay Các đưa ra cửa. Tôi và Các khựng lại không chịu đi. Hai cô này có vẻ rất ngạc nhiên, nói một tràng với ông già. Ông già lại nói với tôi và Các, và cầm tay tôi và tay Các đặt vào tay hai cô gái. Nhưng chúng tôi vẫn không chịu đi. Rốt cuộc hai cô gái Mường tiu nghỉu ra về trong khi ông già buồn bă lắm. Cuộc “t́nh duyên” của tôi và Các với hai cô gái không êm đẹp chút nào, nhưng cuộc “t́nh duyên” của Mây Mali và thầy Điền cũng không hơn ǵ. Sau khi hai cô gái ra khỏi nhà ông bà già, Điền lại chổ ba chúng tôi vẫn nằm ngủ và nằm miết ở đó tới sáng. Tội nghiệp cho Mây Mali, cô bị bẽ bàng lại c̣n bị bố mẹ phiền trách, làm như cô không đủ tài thu hút đàn ông. Sáng hôm sau gặp chúng tôi, mặt cô cứ đỏ nhừ lên. Dù ông bà già thiểu số tốt cách mấy, chúng tôi cũng phải lên đường. Vả lại, sau khi dàn xếp việc gả mấy cô gái cho chúng tôi không xong, ông bà già không c̣n mặn mà với chúng tôi như trước và có lẽ muốn chúng tôi đi sớm. Chúng tôi cũng biết điều đó và sửa soạn lại lên đường. Ngày nh́n thấy bờ sông Bến Hải là ngày vui mừng khôn tả. Chúng tôi nh́n thấy sự sống, nh́n thấy Tự Do, nh́n thấy tương lai sáng lạn. Riêng tôi không khỏi buồn v́ trốn đi giữa lúc bố chết. Mẹ, vợ, con và các chị em tôi bây giờ ra sao? Có đỡ bị hành hạ không? Cứ nghĩ đến đó, ḷng tôi thắt lại. Sau khi tŕnh diện toà Tỉnh Trưởng Quảng Trị, chúng tôi được cấp phát giấy tờ và ít tiền làm lộ phí. Sau đó cả ba chúng tôi đều quyết định vào Sàig̣n để làm lại cuộc đời mới. Tôi bị cắt đứt với gia đ́nh không liên lạc được. Năm 1960, tại Sàig̣n, tôi lại lập gia đ́nh với người con gái một gia đ́nh hết ḷng thương tôi như con ruột. Nhà tôi sau đó có với tôi năm đứa con, ba trai, hai gái. Cháu gái lớn nhất năm nay đă 13 tuổi. Cháu đang học lớp 8 trung học.” Cụ Tường ngưng một chút để nghỉ. Giọng cụ lạc đi khi nói đến người vợ và 5 đứa con thân yêu đang ở bên kia bờ đại dương, không biết sống chết thế nào. Cụ đứng lên. Tôi biết ư cụ đă muốn về. Trên đường về lều, cụ bảo tôi: “Tôi biết trước là phải chạy mà không sao thu xếp cho vợ con cùng đi được, ông Vũ ạ. Nhà tôi cũng biết tôi ở lại là chết nên khuyến khích cho tôi đi y như người vợ năm xưa ở Thanh Hoá cũng chỉ nghĩ đến cái mạng sống của tôi mà thôi. Chín đứa con thân yêu, hai lần chạy giặc Cộng, tôi không mang theo được đứa nào để an ủi khi tuổi già xế bóng. Hai người vợ sống chết với ḿnh, cả hai lần bỏ lại. Ông nghĩ đă đau đớn chưa? Nhưng tôi không làm sao hơn được. Tôi ghê sợ bọn chúng quá rồi, thà tôi chết c̣n hơn phải sống với Cộng Sản.” Tôi cứ để cụ nói cho vơi bớt đau khổ. Tôi chỉ nghe và cảm nhận. Càng thấm thía khi chính hoàn cảnh tôi lúc đó không hơn ǵ hoàn cảnh cụ, cũng như hoàn cảnh một số đông đồng bào di tản đang ở trên đảo Subic này. Ngày sang Guam, tôi với cụ Tường cùng đáp một chuyến bay và tôi với cụ lại ở cùng lều tại Orote Point. Sau đó, tôi đi đảo Wake kiếm gia đ́nh, c̣n cụ đi Camp Pendleton, California và từ đó tôi không c̣n gặp cụ nữa. (Đón đọc:” Mười bốn năm sau”, đoạn kết của câu chuyện có thực, thương tâm này.) |
| Phần Kết Trốn Chạy MƯỜI BỐN NĂM SAU *TRẦN Đ̀NH NGỌCLTS - Truyện ngắn “Trốn Chạy” đă đăng từ tháng 8-2004. Nhân vật chính là cụ Lê văn Tường đă trốn khỏi nanh vuốt Cộng Sản hai lần. Lần đầu vào năm 1957 từ tỉnh Thanh Hoá vào miền Nam Việt Nam sau khi người cha bị đem ra đấu tố, phẫn uất mổ bụng chết. Lần sau vào ngày 30-4-1975 từ Sàig̣n đến đảo Guam và sang Hoa kỳ. Người ta nói “Quả đất tṛn” cũng không phải là vô lư. Trong phần kết luận truyện “Trốn Chạy”, một truyện có thực, tôi có viết rằng, do sự khuyến khích của Ban Quản trị trại, để có chỗ đón tiếp những người mới, chúng tôi đă bay từ Subic Bay vào Guam, sau khi ở đó khoảng một tháng từ đầu tháng 5-1975. Tôi với cụ Tường cùng đi một chuyến bay DC10 và lại ở cùng biêu-đinh tại Orote Point. Sau đó, tôi đi đảo Wake kiếm gia đ́nh bị thất lạc, c̣n cụ đi Camp Pendleton – California và từ đó, tôi không c̣n gặp cụ nữa. Ấy vậy mà tôi lại gặp cụ Tường hơn 14 năm sau, tức là năm cuối cùng của thập kỷ 80, năm Liên Sô và các nước chư hầu Cộng Sản cùng với bức tường ô nhục Bá Linh sụp đổ tan tành. Tôi gặp cụ trong một tiệc cưới con gái người bạn thân ở San Diego, một cách hết sức ngẫu nhiên. Đúng là “Hữu duyên thiên lư năng tương ngộ”, nếu không, tôi đâu có đoạn kết này để gửi đến quí bạn đọc đă đọc “Trốn Chạy”, một câu chuyện thực 100%, chưa có đoạn kết. Lại cũng một sự t́nh cờ, chủ nhà xếp tôi ngồi cùng bàn với cụ và tôi đă nhận ra cụ trước khi cụ nh́n ra tôi. Có vẻ có da có thịt và khoẻ mạnh hơn hồi ở Guam nhưng trông cụ già đi nhiều - mười bốn năm c̣n ǵ - những nếp nhăn trên trán trên má sâu hơn trước, đôi mắt không c̣n tinh anh, linh hoạt như hồi ở Guam và cử chỉ, nói năng cũng chậm nhiều. Tuy nhiê, tôi vẫn nhận ra cụ: - “Xin lỗi cụ, có phải cụ là cụ Tường không ?” Cụ ngó trân tôi, miệng mỉm cười, vẫn nụ cười khi xưa: -“ Phải, tôi là Tường. Sao ông biết tôi ?” - “ Cụ c̣n nhớ người ở chung lều với cụ ở đảo Subic Bay và Orote Point không ? Tôi là Vũ đây cụ.” Cụ Tường reo lên: - “Chao ơi ! Ông Vũ ! Bảo sao tôi cứ ngờ ngợ. Bao nhiêu năm bây giờ tôi mới gặp lại ông đây, ông Vũ ?” - “Hơn mười bốn năm. Thời gian trôi nhanh quá hả cụ ?” - “Nhanh lắm. Tôi đă tám chục, già quá rồi. C̣n ông, trông cũng không khác xưa bao nhiêu.” - “Cám ơn cụ. Thế gia đ́nh cụ ra sao và bây giờ cụ ở tỉnh nào ?” Cụ Tường trỏ bà cụ ngồi cạnh và bà cụ gật đầu chào tôi: - “Đây là nhà tôi. Nhà tôi và năm cháu ở Sàig̣n đă được sang đoàn tụ với tôi hai năm nay, hiện ở thành phố San Diego. Thế gia đ́nh ông sao ?” Tôi trỏ bà xă ngồi cạnh để giới thiệu và nói cho cụ biết gia đ́nh tôi cũng đă được đoàn tụ đầy đủ. Nhớ lại câu chuyện gia đ́nh cụ, cụ đă kể cho nghe khi tôi và cụ ở đảo Subic Bay, tôi hỏi cụ: - “Cụ ơi, ở đây không tiện nhưng nếu khi nào rỗi rảnh, mời cụ lại nhà tôi chơi nhắc lại câu chuyện ở xứ Phúc Lăng và Thổ Ngơa ngày xưa, được không cụ ?” Cụ Tường sốt sắng: - “Được lắm chứ. Tôi cũng có ư nghĩ đó vừa mới đây. Ông cứ cho địa chỉ và số điện thoại, tôi sẽ đến thăm ông.” Tôi nghĩ lẽ ra tôi đến thăm cụ mới phải, nhưng cứ phân vân. Tại nhà cụ, nếu đ̣i cụ kể chuyện đời xưa, chuyện cụ đă có một bà vợ và mấy người con ở huyện Phú Thọ, tỉnh Thanh Hoá mà v́ trốn chạy nạn Cộng Sản, cụ phải bỏ lại để vào Nam, rồi cụ lấy bà này, người đàn bà đang ngồi cùng bàn với tôi th́ e rằng không tiện, mặc dù đối với cụ có thể là không có ǵ trở ngại. |
| ( TRO^'N CHA.Y TT )...Tôi tiếp cụ Tường tại nhà tôi vào một buổi chiều thứ sáu đầu tháng mười hai, gió bấc thổi xuống khá lạnh tuy không có tuyết. Cụ nói bà cụ bị cảm nên xin cáo lỗi. Khách hôm đó chỉ có cụ và một người bạn thân của tôi, anh Chung, mới từ Virginia sang thăm gia đ́nh tôi. Sau bữa cơm tối, chúng tôi ra pḥng khách, ngồi kế bên ḷ sưởi cho ấm và từ lúc này, chúng tôi có thể đàm đạo về những chuyện... ngày xưa. Phải, chuyện ngày xưa ! Nhà tôi pha trà sen, mới được chị tôi gửi từ Việt Nam qua, sai cháu nhỏ bưng ra. Những tách trà bốc khói, tản mạn hương sen trong pḥng khách ấm cúng làm chúng tôi cảm thấy nhớ quê hương vô tả. Tôi đẻ sẵn mấy thanh củi lớn, châm thêm vài thanh vào ḷ, gỗ cháy nổ tí tách, ḷ than hồng đỏ rực trông thật vui mắt. Tôi biết ư hai vị khách quí nên nói: - “Cụ Tường và anh Chung cứ hút thuốc tự nhiên, tại nhà tôi không có kiêng cữ khói thuốc đâu.” Thường ngày tôi không hút thuốc nhưng lúc này thấy cần phải châm một điếu. Tôi không mời cụ Tường v́ biết cụ vẫn hút thuốc vấn như ngày xưa, c̣n anh Chung th́ đang giở gói Cherry và cái tẩu Dunhill của anh ra. Tôi gợi chuyện sau khi rút một điếu Camel: - “Cụ Tường c̣n nhớ cái băi biển ở đảo Subic Bay mỗi buổi chiều khi cơm nước xong, tôi thường ngồi bật quẹt và chắn gió cho cụ hút thuốc không ?” Cụ Tường gật gù: - “Sao quên được ông Vũ ? Hồi đó chúng ta sa sút tinh thần quá hả ông ? Không ngờ có ngày nay.”Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhân”. Thật là ông trời an bài.” Anh Chung chỉ biết láng máng tôi và cụ Tường đă cùng ở đảo Subic Bay chứ không biết ǵ hơn nên im lặng hút thuốc ngồi nghe. Khói thuốc tản mạn lên trần nhà làm căn pḥng có vẻ “đàn ông” và ấm cúng hẳn lên. Tôi không hút pipe, nhưng lại thích ngồi gần bên người hút cherry, cái mùi của nó mới tuyệt diệu làm sao, ngọt như mùi táo tầu. Cụ Tường hắng giọng, nói tiếp: - “Chắc ông Vũ muốn biết sau khi tôi đi rồi th́ gia đ́nh tôi ra sao. Để tôi kể hai ông nghe. Khi bọn cán bộ và những tên tá điền phản chủ vô ân bội nghĩa đến nhà bố mẹ tôi vào buổi tối hăm ba tháng chạp âm lịch năm Bính Thân (đầu năm 1957) để lôi bố tôi ra đấu tố lần hai, chúng quát tháo ầm ĩ: - “Thằng Thiềng đâu, hăy mau ra đây cho nhân dân xử tội.” Mẹ tôi chỉ tay vào trong buồng, bọn chúng tông cửa chạy vào nhưng tất cả đều bổ ngửa ra khi thấy bố tôi đă tự sát. Chúng tra khảo mẹ tôi và các em tôi rất dữ nhưng đầu mối là bố tôi mà bố tôi đă chết rồi th́ chúng có làm ǵ chăng nữa cũng đến thế mà thôi. Liền đó, chúng trực nhớ đến tôi, chúng cho một bọn sang làng bên bắt tôi nhưng như tôi đă nói, tôi, anh Các, và thầy giáo Điền đă vào sâu trong rừng và t́m đường đi đến bờ sông Bến Hải. Người em họ bố tôi, cô Bảng, sau này viết thư kể cho tôi nghe rằng chúng tŕ hoăn không cho mẹ tôi chôn cất bố tôi cho đến cả mười ngày sau khi xác bố tôi đă x́nh thối v́ ruột gan phèo phổi ḷi cả ra ngoài. Chúng dă man đến độ cấm không cho bà con lối xóm đến giúp đỡ ma chay đưa bố tôi ra đồng. Một tay mẹ tôi phải tẩn liệm, đưa hết ruột gan trở lại bụng bố tôi rồi xé vải quấn lại, lau sạch hết các vết máu và thay quần áo sạch sẽ. Ba đứa em tôi, một trai hai gái có phụ với mẹ nhưng hai ông nghĩ coi, từ nhỏ tới lớn, chúng chưa từng thấy xác chết ở trong nhà, máu me lênh láng như thế bao giờ nên chúng sợ dúm người lại dù rằng người chết đó là bố ḿnh. Chôn cất bố tôi xong th́ ba đứa này mất cả trí khôn, ngây ngây dại dại làm như những tai ương khủng khiếp của gia đ́nh dồn dập đến làm chúng chết sững không c̣n biết đối phó ra sao nữa. Bọn cán bộ cấm không cho người làm săng (ḥm) bán săng cho mẹ tôi. Chúng muốn mẹ tôi phải bó chiếu bố tôi mà khiêng ra đồng. May sao nhờ có cô Bảng nói với mẹ chồng cô ấy cho mẹ tôi vay đỡ cỗ hậu sự của bà bằng gỗ tạp để pḥng đó từ lâu mà chưa dùng, nên bố tôi mới có cỗ ván. Mấy người đô tùy khiêng quan tài là những người ở làng bên cạnh do cô Bảng lo lót với công an, hối lộ cho chúng để chúng không làm khó dễ. Mặt khác, sở dĩ chúng phải dễ dăi hơn v́ xác bố tôi càng để càng x́nh, lối xóm chịu không nổi mùi tử khí, kêu ca quá sức nên chúng chấp thuận cho chôn. Chôn cất xong bố tôi buổi trưa th́ tối hôm đó mẹ tôi ngă bệnh nằm rên hừ hừ. Hai chị lớn và các em tôi xoay xở không nổi, chỉ c̣n một cách cầu cứu cô Bảng mà thôi. Cũng cần nói thêm, chồng cô Bảng vốn là đảng viên Cộng sản đă hoạt động trong bí mật nhiều năm, nhưng không ai biết, cho đến ngày 19-8-45, ngay cả bố tôi cũng không biết. Lúc đó chú Bảng làm bí thư huyện ủy nên quyền uy rất lớn nhưng chú không muốn dính dáng đến bố tôi v́ e mất chức. Chỉ có cô Bảng, thấy gia đ́nh tôi đau thương quá nên không nỡ nhắm mắt làm ngơ v́ c̣n họ rất gần. Nói là giúp đỡ, nhưng chỉ lén lút lúc đêm khuya khi không có bọn Công an, hoặc cô đă đút lót cho mấy tên cắc ké có nhiệm vụ ŕnh ṃ gia đ́nh tôi, chúng làm ngơ cho cô mang vài thứ cần thiết vào cho mẹ tôi. Hai tuần sau lúc mẹ tôi vừa bớt bệnh th́ bọn cán bộ đến. Chúng cho mẹ tôi hay chúng sẽ tịch thu toàn bộ tài sản của bố mẹ tôi. Một tuần sau đó, tên bí thư xă ủy đến chiếm ngụ ngôi nhà của bố mẹ tôi cùng với tất cả đồ đạc, thóc lúa. Em trai tôi phải đưa mẹ tôi và gia đ́nh nó ra che một cái cḥi ở giữa ruộng. Miếng đất này cũng của bố mẹ tôi nhưng chúng không thèm lấy v́ không có giá trị. Vốn nó là một cái g̣ rộng chừng ba sào, xưa kia mục đồng thường thả trâu ḅ cho ăn cỏ hoặc mùa gặt canh điền làm cḥi để canh lúa pḥng có kẻ cắt trộm lúa. Tên bí thư xă lấy hết chỉ cho mẹ và em tôi lấy ra được mấy cái quần áo cũ, vài cái nồi, rổ chén bát. Đó là tất cả gia tài c̣n lại một đời người. Mẹ tôi lúc đó đă già, bệnh tật, yếu đuối, tinh thần sa sút, đau khổ, tan nát nhưng cũng phải đi làm thuê làm mướn như giă gạo, sàng gạo, nuôi lợn, nuôi gà, nấu cơm cho canh đièn vv... để phụ với vợ chồng đứa em trai thua tôi đúng một giáp, nó, vợ nó và con em kế út đều đi làm mướn để đắp đổi qua ngày. C̣n con em út phải đi ở đợ cho tên tá điền của bố tôi trước kia, bây giờ chễm chệ là trưởng đồn công an xă hét ra lửa, mửa ra khói. Nhưng mẹ tôi không sống lâu để chịu sự đầy ải, nhục nhă, đói khổ đó. Hơn năm sau, chỉ một tuần sau cái giỗ đầu của bố tôi, mẹ tôi ra đi trong một đêm mưa gió băo bùng , căn lều v́ dựng lên quá sơ sài bằng tre, lá nên sụm xuống. Gió quật vào người, mưa như trút nước, mọi người lạnh run. Mẹ tôi chỉ kêu lên được mấy tiếng:” Ông ơi, ông ơi !” rồi lịm đi. Mẹ tôi chết trong đêm đó và ba ngày sau, chúng cho phép chôn ngay trên g̣, cách lều vài chục bước, chỉ có hai cái chiếu bó lại v́ chẳng c̣n tiền bạc để mua săng. Em trai tôi với vợ nó và một con em, sống lây lất ở đó cho đến hai năm sau, chúng bắt em trai tôi đi dân công tải súng, tải đạn trên tuyến đường ṃn trong rừng ở biên giới Lào - Việt. Cùng đi với nó có cả mấy chục thanh niên người cùng huyện bị ghép vào thành phần con địa chủ hoặc cường hào ác bá. Ăn uống quá thiếu thốn, mỗi ngày mấy lạng khoai khô, sắn khô, vài lạng gạo, tất cả đều đă hư mốc gần thối rữa nhưng vẫn phải nấu ăn v́ nếu không ăn th́ có ǵ khác để ăn ? Nước suối tù uống vào, chỉ ít lâu là sốt rét ngă nước hoặc kiết lỵ, da vàng, bụng ỏng, rồi chết. |
| ( TRỐN CHẠY TT )Đó là một cách bọn Cộng Sản tiêu diệt những thành phần chúng cho là thù nghịch của chúng một cách êm ái, không tốn một nhát dao, một viên đạn. Ngoài dân công, bộ đội Việt cộng cũng dùng đường ṃn này vào quấy phá miền Nam, sau này chúng đặt tên là đường ṃn Hồ chí Minh. Dù sao, bộ đội của chúng cũng được đối xử khá hơn dân công nhiều. Chúng có hoả đầu vụ lo cơm nước, không phải ăn độn ngô, khoai, sắn và có chút thuốc men lúc ốm đau. Nhưng với khí hậu ma thiêng nước độc đó, khoẻ như voi cũng phải ngă. Đă có cả tiểu đoàn bộ đội chết trong rừng gần như đồng thời, c̣n nếu nói tổng số trước sau th́ không biết bao nhiêu mà kể. ( Lời người viết: Sau 30-4-75, Cộng Sản cho người đi ḍ t́m và đă t́m ra những nghĩa địa chôn cả chục ngàn cán binh Việt cộng bỏ thây trên đường ṃn này. Hầu hết vô danh ). Thằng em tôi đi biệt tích không về. Khoảng sáu tháng sau, bọn cán bộ xă đến báo cho vợ con nó là nó bị sốt rét ở trong rừng và ngă bệnh mà chết. Cô Bảng sau này viết thư cho tôi nói, số người trong tổng đi dân công như em tôi đều chết hết, kẻ trước người sau, chỉ có được một người trở về với bệnh sốt rét và đau gan. Một số khác chưa chết v́ bệnh th́ chết v́ máy bay B52 của Mỹ trải thảm hàng ngày. Bộ đội Việt cộng chết v́ máy bay B52 nhiều nhất. Cuộc chiến kinh hoàng xâm lăng miền Nam Việt Nam do bọn đồ tể khát máu gây ra không từ một người dân vô tội nào. Mạng người như con giun, cái kiến, miễn sao đám đầu năo của chúng an toàn, leo lên ngôi độc tài cai trị là được rồi. Riêng về cái tiểu gia đ́nh của tôi, cô Bảng viết thư khéo léo cho tôi hay rằng ngay đêm đó, chúng phái một tiểu đội công an đến vây nhà tôi và tra vấn vợ con tôi để t́m ra chỗ tôi trốn. Vợ tôi chỉ một mực khai là không biết chồng tôi đi đâu và đi đă ba ngày để đánh lạc hướng chúng. Thanh hoá nhiều rừng, núi và cây cối tre nứa rất rậm rạp, một khi đă vào sâu trong rừng kiếm chỗ hiểm hóc như hang động ẩn ḿnh th́ cả một trung đội vào kiếm cũng không ra. Anh Các và tôi là những người đă quen đi rừng rẫy nên t́m đường đi khá dễ. Thầy Điển nhà tu không quen th́ cứ bám theo chúng tôi mà đi, cho tới sáng chúng tôi đă cách làng một khoảng khá xa và đă sang địa phận của huyện khác.” Nói một thôi không nghỉ, cụ Tường có vẻ mệt. Cụ ngả người ra dựa vào sofa nhắm mắt lại. Chúng tôi tôn trọng cụ nên không ai bảo ai mà cùng giữ im lặng. Đă đến giờ đi ngủ nên mấy đứa con tôi bảo nhau rút êm lên lầu. Nhà tôi thu dọn bếp núc xong cũng đă lên ngồi cạnh tôi nghe từ đầu câu chuyện. Khoảng mười phút sau, cụ Tường mở mắt nh́n chúng tôi rồi ngồi thẳng lên, đầu hơi cúi xuống. Tôi thấy cụ xúc động thật sự khi nói đến những tang thương của gia đ́nh. Nhà tôi châm thêm nước trà nóng vào tách mỗi người và cụ Tường lại kể tiếp: - “ Trái với căn nhà của bố tôi, căn nhà của vợ chồng tôi chúng dỡ sạch đi không c̣n một viên gạch. Chúng để cho vợ và bốn đứa con tôi che một tấm phên trú mưa, đụt nắng trên một phần tư miếng đất, ba phần tư kia chúng chia cho ba gia đ́nh khác mà chúng đă lấy hết tài sản trong những đợt đấu tố. Một trong ba gia đ́nh đó là gia đ́nh ông Thủ Diễm, trước kia có làm việc hàng tổng với tôi một thời gian về điền địa, nhưng sau này đă xin nghỉ. Thủ Diễm bị đưa ra đấu tố và uất ức quá đă lấy thuốc phiện dấm thanh tự tử. Nhà cửa bị tịch biên hết, vợ con Thủ Diễm được cấp phát một phần tư trên miếng đất của vợ chồng tôi. Hai gia đ́nh kia không thấy cô Bảng nói tới. Vợ tôi vốn người vùng Ninh B́nh. Sau hơn một năm từ ngày tôi trốn đi, vợ tôi bồng bế bốn đứa con đi mất, cho tới nay cũng không t́m ra tung tích. Cô Bảng đoán vợ tôi mang con về nhà bố mẹ đẻ cho có chỗ nhờ cậy nhưng đó chỉ là phỏng đoán. Thời gian chúng ta ở trong Nam, đâu có liên lạc được với miền Bắc nên ai sống, ai chết, ai c̣n, ai mất chúng ta đâu có hay, cho đến măi sau ngày 30-4-75, v́ vậy vợ tôi và bốn đứa con, hai trai, hai gái biệt vô âm tín. Mấy năm nay, người Việt về thăm quê hương nhiều nên tôi mướn người về quê nhà tôi và khắp nơi t́m kiếm nhưng không có kết quả. Hệ thống thông tin liên lạc ở Việt Nam, nhất là miền Bắc, trong những năm vừa qua rất nghèo nàn, yếu kém. Ở đâu biết đấy, những tin tức quốc nội, quốc tế, tin nào không có lợi cho Cộng Sản đều bị bưng bít, lừa gạt. Chúng coi dân chúng như những đúa con nít, bảo sao nghe vậy, hay tệ hơn, như một đàn lợn, đàn trừu mà chúng là những thằng chăn. Bảo sao dân trí không mỗi ngày mỗi ngu đần đi. Bây giờ tôi hoàn toàn thất vọng về việc t́m kiếm nhà tôi và bốn đứa con ở Thanh Hoá. Tôi nghĩ mấy mẹ con đă chết hoặc bị tai nạn ǵ rồi.” |
| (TRỐN CHẠY TT )...Nói đến đây cụ Tường chảy nước mắt. Những giọt lệ phản chiếu ánh đèn lấp lánh trên đôi má nhăn nheo. Cụ lặng lẽ khóc và tôi nghĩ sự đau đớn trong câm lặng đó mới là cùng cực, hơn cả những sự đau đớn được thoát ra bằng tiếng la, tiếng khóc. Tôi an ủi cụ, tay trao cái hộp giấy Kleenex cho cụ: - “Thôi cụ ạ, số bề trên định thế. Dù sao cụ cũng c̣n cái may mắn đoàn tụ với cụ bà và năm người con từ Sàig̣n. Sau ngày 30-4-75, có rất nhiều gia đ́nh chết biển, chết sông, chết đường bộ, có nhà không c̣n một người.” - “Đúng, ông Vũ,” Cụ không căi lại tôi, “Nhưng chẳng thà chết mát mẻ dưới biển, dưới sông chỉ vài giây đồng hồ. Chết thảm như cả gia đ́nh tôi, bố mẹ, vợ con, anh em rồi thân tôi lưu lạc ngậm ngùi mấy chục năm. Gia đ́nh tôi chịu quá nhiều đau khổ.” Ngồi nghe suốt, anh Chung bây giờ mới bàn vào: - “Anh Vũ nói đúng đấy cụ. Hơn bốn mươi vạn nông dân đă chết tức tưởi trong các cuộc cải cách ruộng đất và đấu tố chính trị của Việt Cộng rải rác từ năm 1950. Nhiều nông dân bần cố, nghèo xác nghèo xơ nhưng bị kích lên thành địa chủ cho đủ số lượng được đặt ra, trong đó có cả đảng viên Cộng sản đă từng sống chết cho Đảng. Trường Chinh Đặng Xuân Khu c̣n lôi bố mẹ ra đấu tố đến chết th́ c̣n ai mà chúng từ !” Cụ Tường reo lên, quên mất sự buồn phiền từ vài phút trước: - “Đúng. Ông bà Vũ và ông Chung có thể ngờ thằng tá điền nhà bố mẹ tôi tên Cam, lúc đấu bố mẹ tôi, nó và vợ nó đă hành hạ, chửi rủa, vợ nó đứng vén váy đái vào đầu bố tôi, c̣n nó th́ tát mẹ tôi thâm tím mặt mày. Sau đó nó được đề nghị giữ chức trưởng đồn công an xă. Chưa đầy một năm sau, nó bị lôi ra đấu tố, bị ghép là thành phần địa chủ, bị mất chức và đi tù, nhà cửa bị tịch biên. Trong làng tôi c̣n nhiều tên như vậy. Chưa hết, chúng quay ra giết lẫn nhau nữa v́ tranh ăn, tranh chức, tranh quyền.. Sau những cuộc đấu tố đảng viên, chúng phẫn uất lắm nhưng vẫn phải tỏ ra trung thành với đảng, với Bác, để may ra có cơ phục hồi địa vị kiêm chút xương xẩu. Thật là một chế độ tàn ác, phi nhân chưa từng thấy trong lịch sử loài người.” |
| (TRỐN CHẠY TT VÀ HẾT ) |
| Tôi tiếp lời cụ Tường: - “Mấy tuần nay chắc cụ cũng đọc báo và biết bức tường ô nhục Bá linh sụp đổ rồi chứ ? Cộng sản Đông Âu, kể cả Liên Sô vĩ đại cũng tan rồi. Vợ chồng tên Ciaucescu, chủ tịch nhà nước Lỗ ma ni chết thảm. Các tượng Lê-nin, Xít- ta- lin bị kéo xuống bán sắt vụn. Trên bảy mươi năm chủ nghĩa Cộng sản vô gia đ́nh, vô tôn giáo, vô tổ quốc làm mưa làm gió, giết hàng trăm triệu dân vô tội, đến bây giờ ngă ngửa ra là một chế độ độc ác, tàn bạo, kéo lùi con người lại thoái hoá, đói nghèo, bị cùm kẹp và lạc hậu.” Cụ Tường nâng tách nước: - “Vậy đấy mà không biết những người Cộng Sản ở nước ta có biết điều đó không hay cứ ngoan cố đi theo con đường sai lầm, làm hại cả quốc gia dân tộc ?” Rồi cụ đưa câu kết luận: |
| - “Chúng ta hăy chờ xem, mặc dầu viễn ảnh không có ǵ sáng sủa cho lắm. Măi măi, chúng ta vững tin rằng:” Ư dân là ư trời. Dân muốn là trời muốn.” Chính sách đi ngược ḷng dân không sớm th́ muộn phải bị đào thải.” Người con trai đến đón cụ Tường vừa gơ cửa. Chúng tôi đứng lên tiễn cụ Tường ra về v́ đă quá khuya. Cái bóng già nua của cụ hiu hắt đổ dài trên mặt đường dưới ánh đèn vàng vọt. Little Saigon Feb. 1990 TRẦN Đ̀NH NGỌC |
| CĐ Người Việt tại Úc trả lời DCVOnline SYDNEY, Australia (26/4/2007) – Để trả lời với Hà Nội về phiên toà và bản án 8 năm tù giành cho linh mục Nguyễn Văn Lư, cùng đánh động công luận tại Australia, hôm nay Cộng đồng Người Việt Tự do tại Úc châu (CĐNVTD/UC) đă cho đăng công bố trên tờ nhật báo The Australian, phát hành ½ triệu số trên toàn lănh thổ Úc châu. Nội dung ¼ trang công bố vắn tắt tŕnh bày với dân chúng tại Australia việc nhà nước CHXHCN Việt Nam chà đạp quyền tự do ngôn luận và đàn áp những người sinh hoạt dân chủ ra sao. Không ǵ dễ hiểu và rơ hơn, CĐNVTD/UC đă giới thiệu với nhân dân và chính phủ Úc h́nh ảnh linh mục Lư bị bịt miệng tại Toà án Nhân dân Tỉnh Thừa Thiên (Huế) hôm 30/3/2007. CĐNVTD tại Úc châu cũng kêu gọi người Úc cùng viết thư đến dân biểu và nghị sĩ yêu cầu dùng quan hệ ngoại giao và mậu dịch áp lực Hà Nội phải tôn trọng các quyền cơ bản của con người: tự do ngôn luận, báo chí, lập hội, cũng như tự do tôn giáo. Và CĐNVTD/UC cũng đưa thông tin của Đại sứ quán tại Canberra để dân chúng Úc châu tiện bày tỏ quan điểm với nhà nước CHXHCN Việt Nam. ¼ trang công bố trên The Australian, số ra ngày 26/4/2007 Nguồn: The Australian |
| Sau Khi Rải Tờ Rơi, 2,000 Thợ Giày Đ́nh Công Việt Báo Thứ Năm, 4/26/2007, 12:02:00 AM Hải Pḥng: Sau Khi Rải Tờ Rơi, 2,000 Thợ Giày Đ́nh Công “Hải Pḥng: Thêm 2.000 công nhân Cty TNHH Sao Vàng đ́nh công...” Báo Lao Động loan tin như trên hôm 25/04/2007. Bản tin cho biết: “Sáng 24.4, khoảng 2.000 CN của Nhà máy giày Tiên Lăng (đóng trên địa bàn huyện Tiên Lăng), thuộc Cty TNHH Sao Vàng đă ngừng làm việc tập thể, sau khi rải tờ rơi kêu gọi đ́nh công trước đó 2 ngày. Một số CN cho biết, lư do đ́nh công là nhằm đ̣i nhà máy tăng lương cho CN. Họ cho biết, lương cơ bản nhà máy trả cho NLĐ là 470.000đ/người/tháng. Theo phản ánh của CN, từ 1.4.2007, do nhà máy bố trí lại vị trí làm việc nên cường độ làm việc nặng hơn, nên đă trả tăng thêm 30.000đ/người/tháng, nhưng CN không đồng ư, đồng thời yêu cầu được tăng lên 700.000đ/người/tháng....” Một số chi tiết được nêu trong bản tin báo Lao Động có thể cho thấy t́nh h́nh phức tạp hơn b́nh thường: các tờ rơi kêu gọi đ́nh công đă rải từ 2 ngày trứơc, trong khi một tuần trứơc đó nhà nứơc loan báo rằng đang soạn luật để sẽ phạt tới 30% tiền lương nếu công nhân đ́nh công trái phép. Ngoài ra, cũng nên nhắc rằng báo Lao Động ngày 19-4-2007 đă loan bản tin về t́nh h́nh 7.000 công nhân da giày Hải Pḥng đ́nh công: “Hải Pḥng: Gần 7.000 công nhân da giày đ́nh công... Sáng 18.4, khoảng 5.000 CN Cty TNHH Sao Vàng (chuyên gia công các sản phẩm da giày cho nước ngoài, đóng tại thị trấn Trường Sơn, huyện An Lăo) đă đ́nh công, làm tắc đường hơn 2 tiếng đồng hồ. Theo phản ánh của CN, nguyên nhân dẫn đến đ́nh công là do thu nhập của NLĐ thấp, cường độ lao động vất vả... Chiều qua 18.4, ông Phạm Minh Tuấn - đại diện lănh đạo Cty TNHH Sao Vàng - cho biết, sẽ thuyết phục CN trở lại làm việc và xem xét những đề nghị của CN... Trước đó - ngày 16.4, gần 2.000 CN Cty TNHH công nghiệp giày Aurora Việt Nam (trụ sở tại xă Thiên Hương, huyện Thuỷ Nguyên, TP.Hải Pḥng) cũng đă ngừng làm việc tập thể với những yêu cầu tương tự... Được biết, Cty TNHH công nghiệp giày Aurora Việt Nam có 100% vốn Đài Loan, chuyên sản xuất giày, mới đi vào hoạt động được ít tháng.” |
| Lê Công Truyền TQLC, KBC 3331 Bàn về thực chất của một cuộc chiến không thể không biết danh xưng đích thực của cuộc chiến. Lấy tên các quốc gia lâm chiến hoặc nơi cuộc chiến xảy ra để đặt tên cho một cuộc chiến là điều chúng ta thường nghe thấy, chẳng hạn như “Hoa-Nhựt Chiến Tranh”, “Pháp-Đức Chiến Tranh”, “Chiến Tranh Triều Tiên”, “Chiến tranh Iraq” v.v. Do đó, cuộc chiến từ năm 1955 đến năm 1975 được gọi là “Chiến Tranh Việt Nam” hoặc “Chiến Tranh Quốc Cộng” cũng không có ǵ sai v́ thật sự nó đă xảy ra trên đất nước Việt Nam và giữa những người Quốc gia và Cộng sản. Tuy nhiên, gọi như thế, người ta không hiểu tại sao cuộc chiến đó đă xảy ra. Theo chiến lược gia Karl Von Clausewitz, chiến tranh bùng nổ không do bên bị tấn công mà do phía tấn công bởi lẻ, theo ông, v́ bị tấn công nên phải tự vệ và chiến tranh mới xảy ra. V́ thế, việc đặt tên cho cuộc chiến 1955-1975 tại Việt Nam để xác định bên nào chủ trương tấn công, tấn công để làm ǵ và bên nào phải tự vệ, tự vệ để làm ǵ, là điều cần thiết để biết rơ thực chất của cuộc chiến. Do đó, mặc dầu đă hơn 32 năm trôi qua kể từ khi cuộc chiến “chấm dứt”, việc xác định thực chất của cuộc chiến qua việc đặt tên cho cuộc chiến không phải là điều vô bổ. Thật ra, sau Hiệp Ước Genève ngày 20-07-54, Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH) đă được hưởng vài năm thanh b́nh thạnh trị. Cuộc chiến chỉ bắt đầu tái phát với một quy mô khá rộng lớn vào ngày tỉnh Phước Thành bị Việt cộng (VC) tràn ngập với sự hy sinh của vị Thiếu tá Tỉnh trưởng và căn cứ Trảng Sụp của Trung đoàn 32, thuộc Sư đoàn 21 Bộ Binh bị VC tấn công vào đêm 25-01-60 với sự hy sinh của hơn 20 quân nhân và sự thất thoát trên 1,000 vũ khí (1). Thế, tại sao các tác giả gọi đó là “Cuộc Chiến 1955-1975” mà không là “Cuộc Chiến 1960-1975”? V́ sau Hiệp Ước Genève, Việt Minh Cộng sản (VMCS) tiếp tục cuộc chiến một cách âm thầm bằng cách chôn dấu vũ khí, đạn dược và gài cán bộ, cán binh lại Miền Nam để lâm thời tiếp tục cuộc chiến. Theo ước tính của Hoa-kỳ và Chánh Phủ Quốc gia, có khoảng từ 5,000 đến 10,000 người được huấn luyện và cài lại Miền Nam với tư cách cán bộ (2). Nhưng theo một tài liệu do Cộng Sản Hà Nội (CSHN) ấn hành, VMCS đă để lại Miền Nam 60,000 đảng viên (3). Đám cán bộ và đảng viên này được đặt dưới quyền lănh đạo của Lê Duẩn, Bí thư Xứ Ủy Nam Bộ. Vào ngày cuối cùng của thời hạn tập kết ở Cà Mau, sau khi giả bộ lên tàu tập kết, Lê Duẩn đă t́m cách rời khỏi tàu vào lúc nữa đêm để ở lại (4). Như vậy, rơ ràng Miền Bắc đă chuẩn bị tấn công Miền Nam ngay khi Hiệp Ước Genève chưa kịp ráo mực, chớ không phải v́ Miền Nam không chấp nhận tổng tuyển cử vào năm 1956 hoặc v́ có sự hiện diện của quân đội Hoa-kỳ tại Miền Nam! Một sự chuẩn bị khác cần được ghi nhận là VMCS đă tổ chức những đám cưới tập thể giữa cán binh của họ và thiếu nữ tại các vùng tập kết như Nam, Ngăi, B́nh, Phú ở Liên khu V, Cà Mau trong Nam v.v. với ư đồ biến những người vợ ấy và các con thành cán bộ để hoạt động hoặc che dấu cán binh, cán bộ hồi kết từ Miền Bắc. |
| Với những sự chuẩn bị nói trên và nhận chỉ thị từ Hà Nội, cộng sản tại Miền Nam thành lập 37 đại đội vơ trang tại đồng bằng sông Cửu Long, ra mặt khởi loạn từ tháng 10 năm 1957: ngăn sông, cấm chợ, ám sát, thu thuế, đào đường, đắp mô, chận xe đ̣, đốt phá trường học v.v. Trong năm 1957, VC đă sát hại trên 400 viên chức xă ấp (5). Đầu năm 1960, chúng phát động cái gọi là “Phong Trào Đồng Khởi” nhằm phá hoại hạ tầng cơ sở tại Miền Nam. Liên-đoàn Thủy Quân Lục Chiến đă dẹp tan phong trào này tại tỉnh Kiến Ḥa, nơi chúng hoạt động mạnh mẻ nhất. (6). Tầm hoạt động của VC càng ngày càng bành trướng để, cùng các đơn vị chánh quy xâm nhập từ Miền Bắc, đi từ du kích chiến đến trận địa chiến với những trận đánh lớn như Phước Thành, Trảng Sụp, Đồng Xoài, Đầm Dơi, Ấp Bắc, B́nh Giả, “Tổng công kích Tết Mậu Thân”, “Mùa Hè Đỏ Lửa”, Kontum, An Lộc, Ban Mê Thuột v.v. * * * Sau đây xin ghi một số danh xưng của cuộc chiến 1955-1975 tại Việt Nam thường được thấy trên các bài viết của nhiều tác giả: - Nội Chiến - Chiến Tranh Ư Thức Hệ - Chiến Tranh Ủy Nhiệm Riêng CSHN, để che dấu ư đồ xâm lăng của họ và để lừa bịp công luận thế giới, họ gọi đó là “Chiến Tranh Giải Phóng” hoặc “Chiến Tranh Đánh Mỹ Xâm Lược” hay “Chiến Tranh Đánh Mỹ Cứu Nước”. Với tư cách một cựu quân nhân, người viết xin góp ư về các danh xưng ghi trên và đề nghị vài danh xưng cho cuộc chiến 1955-1975, một cuộc chiến kéo dài trên 20 năm và đă sát hại trên bốn triêụ người hai miền Nam, Bắc và làm tiêu hao tiềm lực phát triển và bảo vệ đất nước. I. Cuộc Chiến 1955-1975 Có Phải Là Nội Chiến Không? Nội chiến là một cuộc chiến giữa hai thành phần trong cùng một quốc gia, bất đồng quan điểm về một vấn đề nội bộ, chẳng hạn như cuộc phân tranh Nam Bắc tại Hoa-kỳ về vấn đề nô lệ vào thế kỷ thứ XIX. Các cơ quan truyền thông quốc tế và đám phản chiến một chiều dựa trên sự ra đời của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (Mặt Trận) để gán nhăn hiệu “nội chiến” cho cuộc chiến 1955-1975. Lấy danh xưng nói đây làm lư cớ, đám phản chiến thiên tả dấy động phong trào phản chiến. Thật ra, Mặt Trận chỉ là công cụ do Hà Nội (HN) dàn dựng để phỉnh lừa công luận thế giới. Nó chỉ là một bộ phận của CSHN được đặt tại Miền Nam. Xin chứng minh: 1. Sau khi Miền Nam sụp đỗ, Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện (7), một nhà trí thức nổi tiếng của HN, khi được đài truyền h́nh Pháp phỏng vấn vào năm 1977 về “bản chất công cụ” của Mặt Trận đối với HN, đă huênh hoang tuyên bố: “Như vậy là quư vị đă bị chúng tôi lừa rồi!” (Do một vị học giả kể lại trong một bài viết của ông. Rất tiếc, không nhớ quư danh vị học giả. Xin thành thật tạ lỗi); 2. Tuy nhiên, không phải chỉ có BS.Nguyễn Khắc Viện gián tiếp xác nhận “tính cách công cụ” của Mặt Trận. Thật vậy, “.... khi đề cập đến việc thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, Nguyễn Thị B́nh đă ghi lại nhiều sự việc chứng tỏ tổ chức này không hề khởi phát từ những người miền Nam yêu nước như Cộng Sản luôn rêu rao suốt nhiều năm tháng trước. Về nguồn gốc của Mặt Trận, Nguyễn Thị B́nh viết: “Bác và Đảng thấy rằng đă đến lúc cần có một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rải ở miền Nam...” (8); 3. Trong tác phẩm “Government and Revolution in Vietnam”, Dennis J. Duncanson, cố vấn Ṭa Đại sứ Anh tại Sài G̣n, “tổng kết những tổ chức chánh trị dưới chiêu bài dân tộc yêu nước mà Cộng Sản Việt Nam thành lập để cho biết Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam là tổ chức thứ 10 do Cộng Sản dựng lên” (9). Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) ngày 20/12/60 đă quyết định thành lập Mặt Trận và sau 30 tháng 4 năm 1975, khi không c̣n cần thiết nữa, nó đă bị giải thể. |
| Căn cứ trên quy chế của hai Miền Nam, Bắc và so sánh phần kết thúc của cuộc chiến 1955-1975 và cuộc phân tranh Nam Bắc tại Hoa-kỳ vào thế kỷ thứ XIX, người ta có thể khẳng định cuộc chiến 1955-1975 tại Việt Nam không phải là nội chiến mà là cuộc chiến giữa hai nước: Việt Nam Cộng Ḥa (Miền Nam) và Việt Nam Dân chủ Cộng Ḥa (Miền Bắc). A. Qui chế của hai Miền Nam, Bắc Tại Hội Nghị Genève 1954, đại diện chánh quyền quốc gia đă cực lực phản đối việc qua phân đất nước và, do đó, đă không kư Hiệp-Ước Genève phân chia Việt Nam làm hai vùng. Chánh quyền quốc gia trước kia và chánh quyền VNCH sau này lúc nào cũng quan niệm Quốc Gia Việt Nam chánh thức thành lập từ năm 1949 trải dài từ Ải Nam Quan đến mủi Cà Mau. Tuy nhiên dưới áp lực quốc tế và với sự đồng lỏa của phái đoàn Việt Minh, đất nước đă bị chia thành hai vùng với hai thể chế khác nhau. Kết cuộc, dù muốn dù không, hai vùng đó đă trở thành hai quốc gia riêng biệt, Việt Nam Cộng Ḥa và Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa. Sự kiện đau thương này đă được nhiều dữ kiện xác nhận: 1. Theo Đoạn 6 của Bản Tuyên Cáo Chung Kết tại Hội Nghị Genève 1954, đường phân ranh quân sự giữa hai Miền tại vỉ tuyến 17 là đường phân ranh chánh trị hay lảnh thổ chứ không phải đường phân ranh chỉ có tánh cách tạm thời như điều 15, đoạn (a) của Hiệp định đ́nh chiến kư kết tại Paris ngày 27-01-1973 quy định; 2. Về phương diện quốc tế công pháp, Miền Nam và Miền Bắc đă hội đủ những yếu tố cấu thành quốc gia: lănh thổ, quốc dân, chánh quyền. Cả hai đều có Hiến pháp, Quân đội, Chánh quyền riêng và cả hai đều được một số quốc gia Tây phương và Cộng sản nh́n nhận. Cho đến năm 1955, VNCH đă được 36 nước công nhận (10). Trong quyển hồi kỳ của ông, Trung tướng Trần Văn Đôn ghi là VNCH được 52 quốc gia thừa nhận (11); 3. Trong buổi tiếp tân sau khi Hiệp ước Genève 1954 được kư kết, Thủ tướng Trung cộng Chu Ân Lai, trước mặt Thủ tướng Việt cộng Phạm Văn Đồng, đă đề nghị với ông Ngô Đ́nh Luyện, đại diện Quốc Trưởng Bảo-Đại, mở một Ṭa Lănh sự Miền Nam tại Bắc Kinh. Như vậy, Trung cộng đă nh́n nhận Miền Nam là một quốc gia. (12); 4. Mặt khác, sau khi Hiệp Ước Genève được kư kết xong, vào tháng giêng năm 1957, Liên Bang Sô Viết đă gợi ư về sự chia đôi lâu bền Việt Nam và đề nghị Miền Nam và Miền Bắc được gia nhập Liên Hiệp Quốc với tư cách hai quốc gia riêng biệt (13). Như vậy, bảo rằng cuộc chiến xảy ra trong cùng một đất nước và quân đội Miền Bắc có quyền đi bất cứ nơi đâu để “đánh Mỹ cứu nước” mà không vi phạm Hiệp Ước Genève là luận điệu của những kẻ bất chấp hiệp ước đă kư kết. Điều này cũng dễ hiểu v́ ngay cả hiến pháp và luật pháp của họ mà c̣n bị chính họ chà đạp. |
| B. So sánh cuộc phân tranh Nam Bắc ở Hoa-kỳ và cuộc chiến 1955-1975 tại Việt Nam Cuộc phân tranh Nam Bắc ở Hoa-kỳ, bùng nổ vào ngày 12-04-1861 khi quân Miền Nam tấn công cứ điểm Sumter thuộc tiểu bang South Carolina, thường được gọi là “Chiến Tranh Ly Khai” (Guerre de Sécession) hay “Chiến Tranh chống chánh sách nô lệ của Miền Nam”. Nó kéo dài bốn năm và kết thúc vào ngày 09-04-1865 với sự đầu hàng của Tướng Tư lịnh Miền Nam là Robert Lee. Tuy chiến thắng, Tướng Tư lịnh Miền Bắc là Ulysses S. Grant đă tỏ ra rất khoan dung, nhơn ái và lịch sự đối với một địch thủ mà ông hằng kính trọng và một quân đội trước đây đă gây nhiều khó khăn cho ông. Ông cấm binh sĩ không được gọi binh sĩ Miền Nam thua trận là “ngụy quân” hay “phiến loạn”. Các sĩ quan Miền Nam được giữ lại vũ khí và mọi binh sĩ được giữ lại lừa ngựa để có phương tiện về với gia đ́nh làm ăn, sinh sống. Quân thắng trận Miền Bắc không lập nhà tù để đày đọa, sỉ nhục quân thua trận Miền Nam. Họ không sửa đổi tên thành phố, đường xá, trường học của Miền Nam. Họ cũng không đào mồ, cuốc mả, tàn phá nghĩa trang của các tử sĩ Miền Nam. Họ không cướp giựt tài sản của Miền Nam làm chiến lợi phẩm mang về Miền Bắc. Một điểm khá đặc biệt là từ năm 1865 cho đến nay, Hoa-kỳ không hề tổ chức lễ ăn mừng chiến thắng ngày 09-04-1865 của quân đội Miền Bắc. Đó là những đặc điểm của một cuộc nội chiến, một cuộc chiến giữa những người anh em cùng chung huyết thống, cùng chung một nhà, cùng chung một quê hương, nhưng bất đồng quan điểm về một vấn đề nội bộ. Nh́n lại “ngày tàn cuộc chiến” giữa Việt Nam Cộng Ḥa và Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, chúng ta thấy, không như phe thắng trận của Tướng Ulysses S.Grant đă làm, CSHN chủ trương: - Tống xuất các thương binh c̣n đang được điều trị tại Tổng Y Viện Cộng Ḥa.và các quân y viện khác; - Tập trung “cải tạo” hàng trăm ngàn quân cán chánh, đạị diện dân cử, đảng viên các chánh đảng v.v. để đày đọa, sỉ nhục và giết dần ṃn bằng nhiều phương cách khác nhau: xử tử, bỏ đói, không chửa bịnh, bắt lao động cho đến kiệt sức để rồi chết; - Tổ chức và tuyên truyền cho dân chúng ném đá vào mặt, vào đầu các quân nhân, công chức v.v. bị đưa ra “cải tạo” ngoài Miền Bắc khiến cho nhiều người bị trọng thương và chết; - Đày ải vợ con quân nhân, công chức v.v. bị tập trung “cải tạo” đến các vùng “kinh tế mới” để cướp của, cướp nhà của các nạn nhợn; - Phát động chiến dịch đánh tư sản mại bản bằng cách cầm tù các thương gia, công kỷ nghệ gia rồi cướp đọat tài sản của họ; - Giựt sập Pho Tượng “TIẾC THƯƠNG” trước cổng vào Nghĩa Trang Quân Đội tại Biên Ḥa, đập phá nhiều ngôi mộ, làm khó dễ thân nhơn các tử sĩ muốn vào chăm sóc các phần mộ khiến Nghĩa Trang trở thành một nơi hoang phế; - San thành b́nh địa Nghĩa Trang của các tử sĩ thuộc Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù tại An Lộc; - Cầy Mồ tại nghĩa địa Lầu Ông Hoàng ở Phú Hài, Phan Thiết (do nhà văn Mường Giang kể lại trong bài viết của ông “Đồng bào và Tập Thể Chiến sĩ VNCH trong và ngoài nước phải làm ǵ khi Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa đang bị VC lăng nhục và hủy diệt”); - Hạ sát 37 quân nhân tại Lái Thiêu, B́nh Dương vào ngày 30-4-1975 (14); - Tàn sát 141 cảnh sát viên và quân cán chánh ở Phú Yên; - Thảm sát dân làng Tân Lập sau khi Sư Đoàn 18 triệt thoái khỏi Long Khánh ngày 21-04-1975; - Đổi tên đường, tên trường học; - Đổi tên thành phố Sài G̣n, một di tích yêu thương tŕu mến ngàn đời của người Miền Nam; - Lấy của cải, tài sản của Miền Nam làm chiến lợi phẩm mang về Miền Bắc (15); - Hàng năm, không bao giờ họ quên tổ chức lễ “chiến thắng” 30-4 trên nỗi thống khổ của mấy chục triệu người dân Miền Nam; - Hủy diệt văn hóa dân tộc tại Miền Nam để thay thế bằng văn hóa vô thần Mác-Lê; - Hồi đầu tháng 9 năm 2006, họ đă làm áp lực ngoại giao với chánh phủ Nam Dương và Mả Lai để hai chánh phủ này cho đập phá các “Bia Đài Tri Ân và Tưởng Niệm” được xây dựng tại các đảo Galang và Pilau Bidong để ghi ơn các cá nhơn, các quốc gia và các tổ chức quốc tế đă tận t́nh giúp đở thuyền nhơn, đồng thời để tưởng niệm thuyền nhơn đă qua đời trên các đảo, và thuyền nhơn bỏ ḿnh trong những chuyến vượt biển trốn chạy chế độ cộng sản! Sau đây xin ghi lại một trong hàng vạn cuộc tra tấn dả man, tàn độc của CSVN trong các trại tù “cải tạo”: “Bây giờ, ngay đêm hôm nay, đứng trên diễn đàn này, tôi vẫn c̣n nghe tiếng nói th́ thầm của người nữ quân nhân QLVNCH: “Cho dù em c̣n sống cũng không mong lập được gia đ́nh v́ em bị bọn nó tra tấn khủng khiếp, phá hoại đời phụ nữ bằng dùi sắt ngay nơi chỗ kín, nát cả tử cung”. Những gịng nước mắt c̣n sót lại của người nữ quân nhân đă chảy xuống thấm ướt khăn tay.” |
| Những hành động điển h́nh liệt kê trên đây chứng minh rằng cuộc chiến 1955-1975 tại Vi ệt Nam không phải là một cuộc chiến giữa những người anh em mà là cuộc chiến giữa những kẻ xâm lăng từ Miền Bắc, theo lịnh của Đệ Tam Quốc Tế (ĐTQT) và những người Miền Nam bảo vệ VNCH, theo tiếng gọi của TỔ QUỐC. Chiến dịch Hồ Chí Minh (HCM) nhằm xâm lăng Miền Nam có thể ví như cuộc viễn chinh của bọn lê dương: đi đến đâu đốt phá, tàn sát đến đó! Đại Lộ Kinh Hoàng, tỉnh lộ số 7, thảm sát tại Lái Thiêu, Phú Yên, Tân Lập và các nơi khác, pháo kích giết trẻ thơ tại các trường tiểu học sau Hiệp Định Đ́nh Chiến Paris là những minh chứng bất khả phủ nhận (17). II. Cuộc Chiến 1955-1975 Có Phải Là Chiến Tranh Ư Thức Hệ Không? Sở dĩ Miền Bắc gây chiến v́ họ chủ trương xăm lăng Miền Nam để dùng Miền Nam làm bàn đạp thôn tính cả vùng Đông Nam Á hầu phát triển Đế quốc Cộng sản (ĐQCS), lấy Ư Thức Hệ Cộng Sản và chủ nghĩa Mác-Lê làm nền tảng. Như vậy, khi tấn công Miền Nam rơ ràng là họ đă dấy động chiến tranh xăm lăng v́ Ư Thức Hệ Cộng Sản. Những người lính Miền Bắc không phải là những người lính có sứ mạng bảo vệ tổ quốc mà chỉ có nhiệm vụ bảo vệ “đảng” và chế độ. Họ có bao giờ được phép“trung với nước” đâu, họ bị buộc “trung với đảng” và “đảng” là một bộ phận của ĐQCS. Điều này cũng dễ hiểu v́ họ bị buộc phải phủ nhận tổ quốc. Vô tổ quốc và chỉ có “Thế Giới Đại Đồng”, tức ĐQCS, th́ lấy ǵ để mà bảo vệ, ngoài ĐQCS! Họ đả tự hào: “Yêu nước là yêu xă hội chủ nghĩa.” Đó cũng là thái độ và chủ tâm của các nhà lănh đạo CSVN. Miền Nam dĩ nhiên cũng có lính, có quân đội. Nhưng đó là lính VNCH, lính của Miền Nam chớ chẳng phải lính của bất cứ cá nhơn hay chánh đảng nào. Sứ mạng thiêng liêng của họ là bảo vệ Tổ Quốc chớ không phải bảo vệ đảng hoặc một Ư Thức Hệ nào. Nếu có, th́ đó là “Ư Thức hệ Dân Tộc”, chớ không hề và chẳng bao giờ là “Ư Thức Hệ Tư Bản”. Do đó, đối với họ “yêu nước là yêu tổ quốc và thương dân”. Đây là điểm khác biệt sâu xa giữa QLVNCH và cái gọi là “Bộ đội Cụ Hồ”. “Bộ đội Cụ Hồ” v́ “trung với đảng” nên lúc nào cũng bảo vệ, tung hô “đảng” mặc dầu “đảng” chủ trương dâng đất, dâng đảo, dâng biển cho Trung Cộng để đàn anh này trợ giúp củng cố ngôi vị thống trị của “đảng” trên toàn dân Việt. Để thấy điểm khác biệt nói trên, không ǵ bằng rọi chiếu phản ứng của Miền Bắc và Miền Nam trước hành động cướp nước của bọn bành trướng Bắc Kinh: 1. Ngày 04-09-1958, Trung cộng công bố tuyên cáo về lănh hải 12 hải lư để cướp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Thay v́ phản đối tuyên cáo này, Thủ tướng VC Phạm Văn Đồng, thừa lịnh HCM, hối hả gởi công hàm đề ngày 14-09-58 cho Thủ tướng TC Chu Ân Lai “ghi nhận và tán thành bản tuyên cáo ngày 04/09/1958” và “tôn trọng quyết định” của Trung cộng nghĩa là chấp nhận dâng hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa cho Trung cộng; 2. VNCH không chấp nhận tuyên cáo nói trên v́ hai quần đảo này thuộc lănh thổ Việt Nam từ ngàn xưa và sự không chấp nhận nói đây đă được cụ thể hóa bằng hành động oai hùng của Hải Quân VNCH, của Hải Quân Thiếu tá Ngụy Văn Thà và Hải Quân Đại úy Nguyễn Thành Trí (Hạm trưởng và Hạm phó HQ.10) cùng các sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ thuộc HQ.10, HQ.4, HQ.5 và HQ.16: Trận hải chiến Hoàng Sa giữa Hải quân VNCH và Hải quân Trung cộng vào hồi 10:20 sáng ngày 19-01-1974. Trong trận hải chiến này hai vị Hạm trưởng và Hạm phó HQ.10 và 56 chiến sĩ Hải quân đă anh dũng hy sinh đền nợ nước sau khi đánh ch́m một số chiến hạm của hải quân Trung cộng. Nói tóm lại, nếu phải gọi cuộc chiến 1955-1975 là chiến tranh “Ư Thức Hệ”, th́ đó là cuộc chiến giữa “Ư Thức Hệ Dân Tộc” và “Ư Thức Hệ Cộng Sản”. Trên thực tế, khi người Miền Nam cầm súng đánh giặc, người viết nghĩ, ít có ai nghĩ đến vấn đề “Ư thức hệ”. Có thể, trong một lúc nào đó, họ nhớ đến lời của danh tướng Lư Thường Kiệt truyền rằng có thần linh cho bốn câu thơ trên bờ sông Như Nguyệt, tỉnh Bắc Ninh, tức Sông Cầu bây giờ: Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khang thủ bại hư Áp dụng bốn câu thơ trên cho cuộc chiến 1955-1975, chúng ta thấy Miền Nam do dân Miền Nam và dân trốn chạy chế độ cộng sản cư ngụ. Bất cứ ai có ư đồ xâm chiếm th́ toàn dân sống ở Miền Nam phải đứng lên cầm súng để bảo vệ nửa phần c̣n lại của Đất Nước! III. Cuộc Chiến 1955-1975 Có Phải Là Chiến Tranh Ủy Nhiệm Không? Ủy nhiệm là giao cho một người nào thay ḿnh làm một công việc ǵ đó. Chẳng hạn như gia đ́nh ông A đi nghỉ hè nhờ ông B chăm sóc ngôi vườn của ông ta. Như vậy có sự ủy nhiệm của ông A cho ông B. Nếu ông B tự ḿnh chăm sóc ngôi vườn của ḿnh với những dụng cụ mượn của người hàng xóm hoặc với sự phụ giúp của người láng giềng th́ chúng ta có thể bảo ông B nhận sự ủy nhiệm của ai đó không? Dĩ nhiên là không v́ ông B chăm sóc ngôi vườn của chính ông ta và cho ông ta! Rất tiếc, có những người cộng sản phản tỉnh, không sao phủ nhận được sự kiện Miền Bắc thừa ủy nhiệm của ĐTQT để xâm lăng Miền Nam và tư cách đánh thuê của tập đoàn lănh đạo Miền Bắc, đă vu khống lính Miền Nam cũng là lính đánh thuê và nhận sự ủy nhiệm của Hoa-kỳ! Sau đây, người viết xin phân tách trường hợp của Miền Nam và Miền Bắc để kết luận ai là kẻ đánh thuê, giết mướn và nhận lịnh của ngoại bang để hành động. A. Trường hợp Việt Nam Cộng Ḥa (Miền Nam) V́ vị trí địa dư, VNCH và Hoa-kỳ có cùng một điểm chiến lược: Hoa-kỳ có mục đích ngăn chận làn sóng đỏ để bảo vệ quyền lợi của chính ḿnh và bảo vệ Đông Nam Á mà cửa ngỏ là VNCH. Miền Nam có nhiệm vụ tự vệ chống sự xâm lăng của Miền Bắc để VNCH tồn tại. Nhiều tác giả đă gọi VNCH là tiền đồn chống cộng. Là những người lính chiến, khi chiến đấu chống cộng sản xâm lăng, chúng ta không bao giờ nghĩ rằng chúng ta đang cố gắng bảo vệ cái “tiền đồn” đó, chúng ta chỉ nghĩ rằng chúng ta đang nổ lực bảo vệ sự sống c̣n của Miền Nam trước sự xăm lăng từ Miền Bắc. Miền Nam c̣n, dân Miền Nam c̣n TỰ DO, DÂN CHỦ và NHƠN QUYỀN. Tuy nhiên, nổ lực này cũng đă giúp Thế Giới Tự Do ngăn chận làn sóng đỏ tràn xuống Đông Nam Á qua cửa ngỏ VNCH. Do đó, Thế Giới Tự Do, nhứt là Hoa-kỳ, thấy cần yểm trợ VNCH trong công cuộc tự vệ chống sự xâm lăng từ Miền Bắc. Yểm trợ VNCH là tự giúp chính ḿnh chứ không phải ủy nhiệm cho VNCH. Bảo rằng VNCH nhận sự ủy nhiệm của Hoa-kỳ là xuyên tạc trắng trợn sự thật. Không có ǵ vô lư cho bằng bảo rằng Quân Dân Miền Nam chống trả sự xâm lăng của Miền Bắc để bảo vệ Miền Nam là do sự ủy nhiệm của Hoa-kỳ. Nước tôi, tôi giữ; không ai có thể bảo rằng có ai đó ủy nhiệm cho tôi để tôi giữ nước tôi! B. Trường hợp Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa (Miền Bắc) Vai tṛ “thừa ủy nhiệm” của Miền Bắc đă được chính ông HCM công khai xác nhận: “Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa là một thành viên trong đại gia đ́nh Xă Hội Chủ Nghĩa, đứng đầu là Liên xô vỉ đại. Chúng ta có nhiệm vụ giữ vững vị trí tiền đồn của chủ nghĩa xă hội ở Đông Nam Á và trên thế giới” (18). Trong “Hồ Chí Minh Toàn Tập”, HCM viết rơ hơn: “Chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lénine và Quốc Tế 3 là một đảng cộng sản thế giới. Các đảng cộng sản ở các nước, như là chi bộ, đều phải tuân theo kế hoạch và qui tắc chung. Việc ǵ chưa có lệnh và kế hoạch của Quốc Tế 3 th́ các Đảng không được làm.” Ông HCM cũng đă từng xác nhận trong “Lịch Sử Đảng Cộng sản Việt Nam” (Tập I): “Chúng ta theo chủ nghĩa Quốc tế, không theo chủ nghĩa Quốc gia. Chúng ta phải nâng cao tinh thần đấu tranh giải phóng, nghĩa là h́nh thức th́ dân tộc mà nội dung là Quốc tế”. Nơi trang 32, HCM viết tiếp: “Nhận chỉ thị của Quốc Tế Cộng Sản để giải quyết vấn đề cách mạng ở nước ta, tôi đă hoàn thành nhiệm vụ”. Trong một bài nói chuyện nội bộ, Tổng bí thư đảng CSVN Lê Duẩn, đă xác quyết: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xă hội chủ nghĩa” (19). Như thế không gọi là đánh thuê th́ phải gọi là ǵ? Đánh mướn chăng? Sau khi cưởng chiếm Miền Nam xong, Lê Duẫn tuyên bố: “Chúng ta đă cắm ngọn cờ Mác Lê bách chiến bách thắng trên toàn lănh thổ Việt Nam. Điều đó có nghĩa là “chúng ta đă hoàn thành nhiệm vụ do Quốc Tế 3 ủy nhiệm”! |
| Nói tóm lại, cuộc chiến 1955-1975 tại Việt Nam là một thứ chiến tranh ủy nhiệm đối với Miền Bắc: Miền Bắc nhận lịnh hay thừa ủy nhiệm ĐTQT tấn chiếm Miền Nam để làm bàn đạp thôn tính cả vùng Đông Nam Á hầu bành trướng ĐQCS. Dĩ nhiên, để hoàn thành sự ủy nhiệm nói đây, Miền Bắc đă xử dụng không xót thương xương máu của nhân dân Việt Nam đúng như Nikita Khrushchev, bí thư thứ nhứt đảng CS Liên xô (1953-1964) viết: “Cuộc chiến này không chỉ v́ tương lai của người dân Việt Nam . Nhân dân Việt Nam đang đổ máu và xả thân cho Phong Trào Cộng Sản Thế Giới.” (20). IV. Cuộc Chiến 1955-1975 Có Phải Là Chiến Tranh Chống Mỹ Xâm Lược không? Trong suốt chiều dài của cuộc chiến, CSHN không ngớt rêu rao là họ đang dấy động “Chiến Tranh Giải Phóng”, đồng thời cũng là “Chiến Tranh Đánh Mỹ Xâm Lược”. Vài ba điểm sau đây cho thấy chẳng có vấn đề “Mỹ xâm lược Miền Nam” để mà “đánh Mỹ cứu nước”: 1. Sau Đệ Nhị Thế Chiến, chế độ thuộc địa đă cáo chung: Tổng Thống Hoa-kỳ Roosevelt và Thủ Tướng Anh Churchill cùng kư tên trong bản Tuyên Cáo 14-08-41 được gọi là Hiến Chương Đại Tây Dương cam kết tôn trọng quyền tự quyết của các quốc gia bị trị (21). Như vậy, đối với các quốc gia dân chủ Tây phương, vấn đề không c̣n là đi “xâm lược” để t́m thuộc địa mà là giao trả độc lập cho các thuộc địa của họ. Hoa-kỳ, nước đầu tiên, giao trả độc lập cho thuộc địa của ḿnh là Phi Luật Tân vào năm 1946, trước khi Pháp, Anh, Bỉ và Ḥa Lan chấp thuận cho các thuộc địa của họ độc lập. Riêng nước Pháp, sau khi chánh phủ Charles De Gaulle thất bạị trong trong ư đồ tái chiếm Việt Nam, Tổng thống Vincent Auriol mới kư với Quốc Trưởng Bảo-Đại Hiệp ước Élysée ngày 08-03-49 chấp thuận cho Việt Nam được độc lập trong khuôn khổ Liên Hiệp Pháp. Hai quốc gia cuối cùng được trả độc lập vào năm 1962 là Rwanda (Trung Phi) của Bỉ và Algerie (Bắc Phi) của Pháp. 2. Bộ Tư Lịnh Viện Trợ Quân Sự Hoa-kỳ (MACV) được thành lập ngày 06-02-62 dưới quyền tư lịnh của Đại tướng Paul D. Harkins. Vào giữa năm 1962, số cố vấn tăng từ 700 lên 12,000. Ngày 08-03-65, hai tiểu đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến đổ bộ lên Đà Nẳng. Đó là các đơn vị tác chiến đầu tiên của Hoa-kỳ được điều động đến Miền Nam (22). Trong khi đó, theo quyển “Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thắng lợi và bài học” xuất bản năm 1996 tại Hà Nội, ngay sau khi Hiệp Ước Genève được kư kết, CSHN đă có kế hoạch tấn chiếm Miền Nam. Đầu năm 1959, trong Đại Hội lần thứ 15, Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng CSVN đă quyết định thôn tính Miền Nam bằng quân sự. Vào tháng 5 năm 1959, CSHN thành lập một đơn vị mệnh danh là “nhóm 559” có nhiệm vụ nới rộng đường xâm nhập từ Bắc vào Nam. Hai tháng sau, “nhóm tiếp vận 759” được thành lập để nghiên cứu phương cách đưa người và tiếp liệu vào Miền Nam bằng đường biển (23). Trên thực tế, CSHN đă chuẩn bị cuộc chiến ngay sau khi Hiệp Ước Genève vừa được kư kết và đă phát động chiến tranh từ tháng 10 năm 1957, nghĩa là 8 năm trước khi các đơn vị tác chiến Hoa-kỳ đến Miền Nam. 3. Quân đội Hoa-kỳ đến Miền Nam để yểm trợ VNCH ngăn chận làn sóng đỏ từ phương bắc, đồng thời củng cố cửa ngỏ vào Đông Nam Á chớ không phải để chiếm đóng hoặc “xâm lược” Miền Nam cũng như trước kia 300,000 quân Hoa-Kỳ tại Tây Đức nhằm yểm trợ Minh Ước Bắc Đại Tây Dương chớ không phải chiếm đóng hay “xâm lược” Tây Đức. Đó cũng là trường hợp của 20,000 Thủy Quân Lục Chiến Hoa-kỳ tại Nhựt và 19,000 quân Hoa-kỳ tại Đại Hàn hiện nay (Theo tạp chí Time, ngày 15-01-2007). CSHN đă cố t́nh đồng hóa “sự hiện diện của quân đội Hoa-kỳ để giúp VNCH” với “sự xâm lược Miền Nam của Mỹ”. Mải vu khống để có lư cớ xâm lăng Miền Nam và thường xuyên đả kích các quốc gia đồng minh của Miền Nam gởi quân tham chiến, CSHN đă lờ đi sự tham gia trực tiếp của quân Trung cộng và Bắc Hàn vào cuộc chiến, bên cạnh quân cộng sản Miền Bắc: Theo sử gia Chen Jian, tác giả quyển “Mao’s China and the Cold War”, vào năm 1965, Bắc Kinh đă gởi 320,000 quân sang tham chiến tại VN. Nhà văn Vũ Thư Hiên, trong quyển “Đêm Giữa Ban Ngày” đă trích dẫn một đoạn từ cuốn “Giọt Mưa Trong Biển Cả” của ông Hoàng Văn Hoan (tr.345) về “sự kiện Hoa quân nhập Việt”: “Từ năm 1965 đến năm 1970, theo yêu cầu của Hồ Chủ tịch và Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam, Mao Chủ tịch và Trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc đă phái hơn ba mươi vạn bộ đội vào Việt Nam” (24). Ngoài ra, quân cộng sản Bắc Hàn cũng đă từng tham chiến với quân đội Miền Bắc. Một viên chức của tỉnh Bắc Giang, lần đầu tiên, đă nh́n nhận có sự tham gia trực tiếp của Cộng sản Bắc Hàn vào cuộc chiến tại Việt Nam, bên cạnh quân Cộng sản Miền Bắc và có một số đă tử trận và xác c̣n chôn tại xă Tân Định, huyện Lang Giang, tỉnh Bắc Giang cách Hà Nội khoảng 60 cây số. Ngoại trưởng Bắc Hàn Paek Nam Sun, nhơn khi sang thăm Việt Nam từ ngày 25 đến 27-03-2000, đă đến viếng nghĩa trang nơi chôn 14 quân nhân Bắc Hàn. Năm nào nghĩa trang này cũng được các viên chức sứ quán Bắc Hàn viếng thăm. Theo một bản tin của thông tấn xă Nam Hàn Yonhap, đa số quân nhân Bắc Hàn tử trận đều là phi công chiến đấu. Các phi công này đóng tại phi trường Kép, thuộc huyện, tỉnh nói trên vào những ngày đầu của cuộc chiến, khoảng 1967-1968. Những phi công này đă bị phi cơ Hoa-kỳ bắn hạ khi họ bay lên nghinh chiến (Nhật báo Người Việt, không nhớ số và ngày). |
| Danh xưng “Đánh Mỹ Xâm Lược” của cuộc chiến 1955-1975 do CSHN bịa ra để che dấu ư đồ của họ và phỉnh lừa công luận thế giới. Đám phản chiến một ch́ều dùng nhăn hiệu “nội chiến” để đ̣i hỏi Hoa-kỳ rút quân với lư cớ không một quốc gia nào có chính danh để xen vào nội bộ của một quốc gia khác. Với luận cứ này, đám phản chiến cố t́nh không thấy CSHN đă chuẩn bị chiến tranh bằng cách gài lại Miền Nam hàng vạn cán bộ và đảng viên và sau đó, qua ngả Trường Sơn Đông và Trường Sơn Tây, đă điều động hàng chục sư đoàn vào Miền Nam với chiến cụ tối tân do Nga Hoa cung cấp. Nếu thật sự yêu chuộng ḥa b́nh, phong trào phản chiến ắt phải đ̣i hỏi quân CS Miền Bắc triệt thoái khỏi Miền Nam v́ chính CSHN mang chiến tranh vào Miền Nam. Nhưng v́ là phản chiến thiên tả nên bọn này không đá động ǵ đến sự hiện diện của quân đội Miền Bắc trong lănh thổ VNCH Như người viết đă góp ư, cuộc chiến 1955-1975 không phải là “nội chiến” mà là cuộc chiến giữa hai nước. CSHN cũng không cho đó là nội chiến. Họ đă dán nhăn hiệu “Đánh Mỹ Xâm Lược” lên cuộc chiến, đồng thời vu khống VNCH dấy động chiến tranh do Hoa-kỳ ủy nhiệm để ngụy trang một sự thật. Sự thật đó là họ đă thừa ủy nhiệm của ĐTQT để tấn công Miền Nam. Bị tấn công nên Miền Nam phải tự vệ và chiến tranh đă xảy ra. Kết luận: cuộc chiến 1955-1975 là một cuộc chiến do ĐTQT ủy nhiệm cho Miền Bắc xâm lăng Miền Nam để làm bàn đạp thôn tính toàn vùng Đông Nam Á hầu phát triển ĐQCS. Đối với Miền Nam, cuộc chiến 1955-1975 đơn thuần là chiến tranh tự vệ. Như vậy, cuộc chiến 1955-1975 có thể có hai danh xưng: “Chiến Tranh Xăm Lăng Từ Miền Bắc” và “Chiến Tranh Tự Vệ Của Miền Nam”. Nhiều điều bất hạnh đă đến với dân tộc Việt Nam cần được ghi nhận ở cuối bài: 1. Nhờ tinh thần bất khuất và sức mạnh tinh thần của dân tộc mà tiền nhân đă tạo được nhiều chiến tích lẫy lừng làm bạt vía cường đồ phương Bắc. Chính Chủ Nghĩa Dân Tộc đă giúp tiền nhân đánh tan quân Mông Cổ dưới đời Nhà Trần, đuổi quân Minh ra khỏi đất nước vào đời Nhà Lê, quét sạch 20 vạn quân Thanh ra khỏi biên thùy dưới đời Nhà Tây Sơn và cũng chính nhờ Chủ Nghĩa Dân Tộc mà Người Việt Quốc Gia đă bẻ gảy mưu đồ tái chiếm Việt Nam của chánh phủ Charles De Gaulle và buộc tổng thống Vincent Auriol kư Hiệp ước Élysée ngày 08-03-49 với Quốc trưởng Bảo-Đại chấp thuận cho Việt Nam được độc lập trong khuôn khổ Liên Hiệp Pháp. Chính chủ nghĩa Mác-Lê do ông HCM, thừa sai của ĐTQT, du nhập vào Việt Nam đă phá tan nền độc lập của Việt Nam vừa mới chớm nở để tṛng xiềng xích ĐTQT vào cổ dân tộc! Thật vậy, chính “sách lược không liên kết với cộng sản quốc tế”, nghĩa là không du nhập chủ nghĩa Mác Lê, đă giúp các thuộc địa Á Phi thu hồi độc lập rất sớm (25) và bảo toàn được tiềm lực khả dụng trong việc phát triển và bảo vệ đất nước v́ không trải qua những cuộc chiến đẩm máu như tại Việt Nam với hai cuộc chiến 1945-1954 và 1955-1975. . 2. Nếu Miền Bắc lo tái thiết với ba tỷ mỹ kim do Hoa-kỳ viện trợ và thực thi lời dạy bảo của Cụ PHAN CHU TRINH: “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, để yên cho Miền Nam thực hiện những điều tương tự và nếu hai Miền cùng tranh nhau tạo phúc lợi cho người dân của ḿnh, đua nhau làm cho dân ḿnh được cơm ngon, áo đẹp, để đi lần đến thực tâm ḥa giải và thống nhứt đất nước trong ḥa b́nh như Tây Đức và Đông Đức th́ cuộc chiến 1955-1975 có xảy ra để giết hại trên 4 triệu người Việt và biến Việt Nam thành một trong những nước nghèo đói nhứt thế giới hay không? Thảm cảnh thuyền nhơn trốn chạy chế độ cộng sản bạo tàn với trên nửa triệu người vùi thân xác nơi ḷng biển cả có xảy ra hay không? Việt Nam có bị mất đất, mất đảo, mất biển cho Trung cộng hay không? Việt Nam có bị Trung cộng khống chế và công khai trấn áp như ngày hôm nay hay không? Thiếu nữ và trẻ thơ Việt Nam có bị xuất cảng làm nô lệ t́nh dục cho ngoại bang hay không? Công nhân Việt Nam có lâm vào cảnh “đem con bỏ chợ” như ở Samoa, Mả Lai và các xứ khác hay không? Các ổ mải dâm có rộ nở tại Hà Nội và thành Hồ hay không? Ma túy có tràn ngập khắp nơi hay không? Bịnh SIDA có đe dọa nặng nề đất nước hay không? Tệ nạn tham nhủng có trở thành quốc nạn hay không? Cha mẹ có đem con đi bán như bán một đồ vật hay một con vật hay không? Dân nghèo có phải đi bán máu để mua thức ăn hay không? Tà quyền đương hữu có cấu kết với bọn đầu tư ngọai quốc để đàn áp công nhân Việt Nam ngay trên đất Việt hay không? Hỏi tức là đă trả lời rồi vậy!. Nhưng câu “Nếu Miền Bắc...” ghi trên chỉ là một ước mơ hăo huyền bởi lẻ CSVN đă tự đặt ḿnh dưới sự sai bảo và kềm tỏa của ĐTQT. Đế quốc này có bao giờ viện trợ cho CSVN để phát triển kinh tế và trở nên giàu mạnh đâu. Họ tiếp trợ chiến cụ tối tân để thúc ép kẻ thừa sai thay ḿnh nhượm đỏ Đông Nam Á bằng cách khởi chiếm VNCH bằng vũ lực. Đó là quá khứ và quá khứ không thể thay đổi được. Tuy nhiên, người Việt c̣n hiện tại và tương lai. Trong hiện tại, người Việt quốc nội và hải ngoại đang chiến đấu chống độc tài toàn trị để Dân Tộc có tự do, dân chủ, nhơn quyền và một tương lai huy hoàng đồng thời để trả lời câu hỏi “Ai thắng ai?” Lễ Kỷ Niệm lần thứ 40 Ngày Quân Lực đă được Hội Cựu Quân Nhân QLVNCH tại Pháp tổ chức một cách trọng thể tại Paris 13 vào lúc 14:30 giờ ngày 11.6.2006. Kết luận bài diễn văn, cựu Trung Tướng Trần văn Trung, Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị QLVNCH, đă nói: “Hôm nay tôi xin được chia sẽ cùng các chiến hữu một điều, và chỉ một điều mà thôi, đó là niềm tin ở con đường chúng ta đi là đúng. Con đường của chúng ta là con đường Chính Nghĩa! Khi Chính Nghĩa càng ngày càng rạng ngời và được nhiều Dân tộc yêu chuộng Công lư và Tự do trên thế giới nhiệt t́nh ủng hộ, th́ nhất định sớm muộn ǵ chúng ta cũng sẽ thắng”. Trong cuộc hội thảo chánh trị quốc tế tổ chức tại Thượng Nghị Viện Hoa-kỳ, ngày 02/05/95, Thống tướng Westmoreland đă phát biểu “...Tôi đă cùng chiến đấu với các anh trong bốn năm, tôi kính phục các anh và giờ đây, tôi vẫn tiếp tục kính phục các anh. Theo tôi, tự do và dân chủ cuối cùng sẽ thắng -(26). Thật vậy, Miền Nam đă chiến thắng tại Kiến Ḥa, Đầm Dơi, Đèo Ia Drang, Đỗ Xá,Kontum, An Lộc, Quảng Trị, trong Chiến Dịch Sóng T́nh Thương, trong trận“Tổng Công Kích Tết Mậu Thân”, trong cuộc Hành quân qua Cam-bốt năm 1970, trong Chiến Dịch Lam sơn 719,và trong nhiều trận chiến khác không sao nhớ hết được. Miền Nam đă “thua” trong trận chiến 30-04/75 Thua một trận chiến (bataille) không có nghĩa là thua cả cuộc chiến (guerre). Cuộc chiến vẫn c̣n tiếp diễn dưới một h́nh thái khác. Chắc chắn dân tộc Việt Nam sẽ thắng trong cuộc chiến giữa “Tự Do Dân Chủ” và “Độc Tài Toàn Trị”. Lê Công Truyền TQLC, KBC 3331 |
| Chú thích và tài liệu tham khảo 1. Phạm Văn Liễu, Trả Ta Sông Núi (Hồi kư I), Văn Hóa, Houston, Texas 2002, tr. 349, 351. (“Năm1959, sư đoàn (SD) khinh chiến 13, đóng tại Bến Kéo, Tây Ninh và SĐ 11 đóng ở Hậu Giang được sáp nhập thành SĐ 21 dă chiến. Trung đoàn (TrĐ) 39 của SĐ 13 củ sáp nhập vào TrĐ 32 của SĐ 11 thành TrĐ 32 của SĐ 21 tân lập”). 2. The Pentagon Papers, Gravel Edition, Volume 1, Chapter 5, “Origins of the Insurgency in South Vietnam, 1954-1960”, Beacon Press, Boston, 1971, tr. 242-269 3. Tổng Kết Cuộc Kháng Chống Thực Dân Pháp, Thắng Lợi và Bài Học, Hà Nội, 1996 4. Vơ Văn Kiệt, Nhớ Đồng Chí Lê Duẩn, Báo Nhân Dân, 16-08-06, (Tưởng niệm 20 năm Lê Duẩn qua đời) 5. Stanley Karnow, Vietnam: A History, Penguin Books, 1983, tr. 237, 679 6. Thiếu tá Việt Anh, Sự Thất Bại Của Phong Trào Đồng Khởi Của Cộng Sản Việt Nam, Chiến Sử THỦY QUÂN LỤC CHIẾN Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, 1997, tr. 45-47. 7. Vào cuối đời, BS Nguyễn Khắc Viện bị đảng CSVN “trù dập, bôi bẩn, thóa mạ, săn đuổi,đe dọa một cách rất dả man, tàn khốc và đểu cáng” (Nguyễn Thanh Giang, Gáy Lên Đi... Cho Người Người Tỉnh Thức, Talawas 25-10-06). Đó cũng là trường hợp của Triết gia Trần Đức Thảo (Hoàng Văn Chí, Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc, Quê Mẹ, Paris, 1983, tr. 288) và giáo sư tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường (Hoàng Văn Chí, sđd, tr. 293). 8. Minh Vơ, Hồ Chí Minh – Nhận Định Tổng Hợp, Tủ Sách Tiếng Quê Hương, Virginia, 2003, tr.377 9. Minh Vơ, sđd, tr.347 10. The Pentagon Papers, Tài liệu đă dẫn (Under Diệm’s leadership, South Vietnam became well established as a sovereign state, by 1955 recognized de jure by 36 nations) 11. Trần Văn Đôn, Our Endless War Inside Vietnam, Presidio Press, Novato, Calfornia, 1978, tr.62 12. Lâm Lễ Trinh, Mặt Trái và Bài Học của Hiệp Ước Genève (LS Lâm Lễ Trinh trả lời kư giả Trung Việt trong chương tŕnh Chân Trời Mới ngày 17-07-2004). 13. Stanley Karnow, sđd, tr. 224, 679 (...both North and South Vietnam be admitted to the United Nations as “two separate states” 14. Huy Phương, 37 Hài Cốt Chung Một Nắm Mồ, Người Việt Online, January 31, 2007 15. Khánh Toàn, B: Chân Dung Thật Của Tấm Ḷng Giả, Nhật Báo Người Việt, số 61, ngày 29-04-97, tr. B10: “B. đă lợi dụng vị thế của ḿnh để gửi ra Bắc 2 chiếcHonda và một chiếc tủ lạnh như những chiến lợi phẩm của ḿnh. Báo hại hạ sĩ Nguyễn Văn Quân, trong khi xoay trần ra đở chiếc tủ lạnh từ trên boong xuống hầm tàu, và đang lần từng bước xuống từng nấc cầu th́ bị ngă và trật khớp xương sống. Sự kiến ấy xảy ra làm cho anh em ở tầu đều buồn. Họ buồn cho sự không may của hạ sĩ Quân và cũng buồn v́ thấy một sĩ quan cấp cao, một nhà báo như ông B. đă đi quá xa khỏi phạm vi quy định của bộ Quốc Pḥng khi quân ta vào tiếp quản các thành phố, thị xă.” 16. Vơ Đại Tôn, Lời phát biểu trong buổi Ra Mắt và Gây Quỹ Hoạt Động của Hội Thương Phế Binh QLVNCH - NSW - Úc Châu - ngày 03.11.2006. 17. Lâm Quang Thi, The Death Of South Viet Nam: An Autopsy, Sphinx Publishing, Phoenix, AZ, 1986, tr. 3, 197 (Ngày 09-03-74, VC đă nả súng cối 82 ly vào trường tiểu học Cai Lậy, Định Tường, sát hại 34 học sinh và làm 70 em khác bị thương. Ngày 04-05-74, VC lại xử dụng súng cối 82 ly pháo kích vào trường tiểu học Song Phú, Vĩnh Long, sát hại và làm bị thương 41 học sinh.) 18. Hồ Chí Minh, Diễn văn khai mạc Đại Hội 3 của đảng cộng sản Việt Nam, 1960 19. Vũ Thư Hiên, Đêm giữa Ban Ngày, Nhà Xuất Bản Văn Nghệ, California, 1997, tr. 422 20. Khrushchev, Khrushchev Remembers, Nxb Little Brown, 1970 (kết luận Chương về HCM và chiến tranh Việt Nam) 21. Minh Vơ, sđd, tr. 686 22. Stanley Karnow, sđd, tr. 416, 682 23. Stanley Karnow, sđd, tr.237 24. Vũ Thư Hiên, sđd, tr.229. [Nhơn tiện xin trích dẫn vài đoạn từ quyển sách này: “Cô tôi khuyên tôi. Cháu phải tỉnh trí, chớ có nghe cộng sản. Cộng sản bất nhân lắm. Ḿnh là người tử tế, phải chọn bạn mà chơi. Nghe ngon ngọt lắm vào rồi đi theo họ, hối không kịp (tr. 248). Người thứ hai không c̣n tin ở chủ nghĩa cộng sản là vợ tôi. Vợ tôi đi đến kết luận bất ngờ: “Chủ nghĩa cộng sản không có tương lai , anh ạ. Nó không được ḷng dân” (tr. 249). Người thứ 3 cảnh tỉnh tôi là tiểu đoàn trưởng Đích: “Nhà tù cho tôi thấy một điều: không có t́nh đồng chí! Chúng ta nhầm. Bây giờ tôi mới hiểu: ông Hồ không phải đồng chí của ta, ông ấy cũng là vua như các vua khác, lại không phải vua hiền. Ông ấy biến những con người lương thiện thành những con quỷ. Ông ấy là quỷ vương”(tr. 249). Và đây là lời tâm sự của Ô. Vũ đ́nh Huỳnh với con là VTH (Ô. Vũ Đ́nh Huỳnh nguyên là bí thư của HCM): “Con ạ, những ngày gần đây bố suy nghĩ nhiều về tương lai đất nước ḿnh. Kết luận của bố là thế nầy: muốn cho dân tộc ta không thua kém các dân tộc khác, muốn cho đất nước được thịnh vượng, dân ta không nghèo khổ mải th́ không thể thiếu một điều kiện tiên quyết: ấy là phải gạt bỏ sự lănh đạo của đảng cộng sản. Đảng đến nay đă hết là đội quân tiên phong của cách mạng giải phóng dân tộc rồi. Bây giờ nó trở thành chướng ngại vật trên đường phát triển của dân tộc. Kẻ nào trong lúc này đặt quyền lợi của Đảng lên trên quyền lợi của Tổ quốc là kẻ phản bội Tổ quốc (tr. 303-304)] 25. Năm các thuộc địa Á Phi thu hồi đôc lập: Phi-Luật-Tân (1946), Ấn-Độ, Hồi-Quốc (1947) Tích-lan, Miến-điện (1948), Tunisie, Maroc (1956), Mă-Lai (1957), Tân-Gia-Ba (1959) Algérie (1962) 26. Nhóm Nhà Văn Quân Đội, Những Trận Đánh Không Tên Trong Quân Sử (Tập II), Việt Nam, 2002, tr.5 |
| Xin cáo lỗi bạn đọc : Từ Post 4/27/2007 - 4:10:42 PM dến Post 4/27/2007 - 4:23:24 PM , chỉ là một bài viết của chiến hữu LÊ CÔNG TRUYỀN KBC 3331 , " Bàn Về Thực Chất Của Một Cuộc Chiến " |
| Forget the past and together built up a beautiful, prosperous Vietnạm I travelled to Vietnam many times. I love the way people live therẹ They are actually satisfied and enjọy their lives. |
| Từ lâu nay cứ mỗi lần nghe, thấy hoặc bất cứ chuyện ǵ về CSVN tôi đều vô cùng chán chê ê ẩm và thường nghỉ "họ" là những người cực kỳ quái đản, hung tàn, bạo ngược, côn đồ, mất dạy và vô liêm sĩ !!! dù cho chúng bây có làm sao th́ cũng mặc kệ bố chúng bây, không mắc mớ ǵ đến tôi hoặc chúng ta,thế nhưng xét cho cùng th́ "họ" cũng là người ViệtNam, hành động thô lổ bạo ngược,côn đồ du đảng của "họ" như "BỊT MIỆNG" LM.NGUYỄN VĂN LƯ tại Ṭa Án CSVN làm tôi càng sáng mắt và thức tỉnh, tôi cương quyết dấn thân bênh vực Công lư. công bằng xă hội và mạnh dạng ủng hộ lập trường TỰ DO DÂN CHỦ của NHÂN DÂN VIỆTNAM, tôi cực lực phản đối hành động man ri mọi rợ của bọn súc sinh CSVN. Tôi quyết tâm làm bất cứ điều ǵ "ôn ḥa" nhưng vô cùng quyết liệt trước kẻ thù hung hăn của NHÂN DÂN VIỆTNAM.Đồng bào trong và ngoài nước thử nghỉ xem, mọi hành động côn đồ của CSVN trong nước thường dựa vào CHÓ CẬY NHÀ GÀ CẬY VƯỜN,khi có dịp ra đến nước ngoài th́ từ một "chủ tặc" nước đến một đảng viên hạng bét của đảng CSVN đều cuối gầm mặt mà đi như con gà mắc mưa, hoặc nhục nhă chui ngă sau, luồn cổng hậu, tuyệt đối không dám trực diện với kiều bào ViệtNam hải ngoại, lần này Nguyễn minh Triết và kể cả Nguyễn tấn Dũng cũng không ngoài thông lệ đó. Chúng tôi đang chuẩn bị dàn chào đây. Chờ xem. |
| Từ lâu nay cứ mỗi lần nghe, thấy hoặc bất cứ chuyện ǵ về CSVN tôi đều vô cùng chán chê ê ẩm và thường nghỉ "họ" là những người cực kỳ quái đản, hung tàn, bạo ngược, côn đồ, mất dạy và vô liêm sĩ !!! dù cho chúng bây có làm sao th́ cũng mặc kệ bố chúng bây, không mắc mớ ǵ đến tôi hoặc chúng ta,thế nhưng xét cho cùng th́ "họ" cũng là người ViệtNam, hành động thô lổ bạo ngược,côn đồ du đảng của "họ" như "BỊT MIỆNG" LM.NGUYỄN VĂN LƯ tại Ṭa Án CSVN làm tôi càng sáng mắt và thức tỉnh, tôi cương quyết dấn thân bênh vực Công lư. công bằng xă hội và mạnh dạng ủng hộ lập trường TỰ DO DÂN CHỦ của NHÂN DÂN VIỆTNAM, tôi cực lực phản đối hành động man ri mọi rợ của bọn súc sinh CSVN. Tôi quyết tâm làm bất cứ điều ǵ "ôn ḥa" nhưng vô cùng quyết liệt trước kẻ thù hung hăn của NHÂN DÂN VIỆTNAM.Đồng bào trong và ngoài nước thử nghỉ xem, mọi hành động côn đồ của CSVN trong nước thường dựa vào CHÓ CẬY NHÀ GÀ CẬY VƯỜN,khi có dịp ra đến nước ngoài th́ từ một "chủ tặc" nước đến một đảng viên hạng bét của đảng CSVN đều cuối gầm mặt mà đi như con gà mắc mưa, hoặc nhục nhă chui ngă sau, luồn cổng hậu, tuyệt đối không dám trực diện với kiều bào ViệtNam hải ngoại, lần này Nguyễn minh Triết và kể cả Nguyễn tấn Dũng cũng không ngoài thông lệ đó. Chúng tôi đang chuẩn bị dàn chào đây. Chờ xem. |
| Lưu Ư...Lưu Ư ...Lưu Ư...dành cho Đảng cộng sản Việt Nam. NỢ MÁU PHẢI TRẢ BẰNG MÁU !!! NỢ MÁU PHẢI TRẢ BẰNG MÁU !!!... |
| Lưu Ư...Lưu Ư ...Lưu Ư...dành cho Đảng cộng sản Việt Nam. NỢ MÁU PHẢI TRẢ BẰNG MÁU !!! NỢ MÁU PHẢI TRẢ BẰNG MÁU !!!... |
| Lưu Ư...Lưu Ư ...Lưu Ư...dành cho Đảng cộng sản Việt Nam. NỢ MÁU PHẢI TRẢ BẰNG MÁU !!! NỢ MÁU PHẢI TRẢ BẰNG MÁU !!!... |
| Tin Lành VN: CSVN Bịa Đặt Vụ Án LS Đài Việt Báo Thứ Tư, 4/25/2007, 12:02:00 AM - CSVN: LS Đài Trộm Hội Thánh 80,000 Đô; Hội Thánh: Hội Không Có Tiền Quốc tế nh́n về t́nh h́nh Hà Nội đưa hai luật sư nhân quyền Việt Nam ra ṭa ra sao? Không đúng thủ tục pháp lư ǵ hết.... Đó là nội dung một bản tin phân tích trên đài VOA hôm 24-4-2007. Đặc biệt, về việc hồ sơ công an vu cáo luật sư Nguyễn Văn Đài “lấy cắp 80,000 đô la của Hội thánh Phúc Âm Việt Nam,” th́ vị Chủ Tịch và Tổng Thư Kư Hội Thánh đều “xác nhận là hội không có khoản tiền đó.” Có nghĩa là, hồ sơ ṭa CSVN chấp nhận vu cáo mà không cần chứng cớ ǵ. Bản tin đá VOA viết như sau. Vụ án 2 luật sư tranh đấu cho dân chủ không đúng thủ tục pháp lư Các luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân dự trù bị đưa ra xét xử vào ngày 11 tháng tới trong vụ án dường như không theo đúng thủ tục pháp lư, cho dù là các thủ tục hạn chế của Việt Nam. Tính đến ngày thứ sáu tuần rồi, tức là đúng 6 tuần sau khi ông Đài bị bắt, chính quyền vẫn chưa gửi cho vợ ông là bà Khánh bất cứ văn thư pháp lư nào. Theo luật định, bà phải nhận được phó bản của lệnh bắt khi ông bị bắt vào ngày 6 tháng 3 ghi rơ lư do của việc “tạm giam” ông Đài. Khi mời bà đến trụ sở công an chiều thứ sáu, giới hữu trách nói với bà rằng cuộc điều tra đă hoàn tất nhưng không đưa cho bà phó bản của báo cáo điều tra. Một lần nữa bà lại không được gặp chồng bà, mặc dù trước đó bà đă được báo rằng bà có thể thăm ông sau khi hoàn tất cuộc điều tra. Bà Khánh và luật sư của ông Đài là ông Trần Lâm 80 tuổi sẽ cố gắng hỏi thăm tin tức từ phía cơ quan điều tra. Bà Khánh đă viết nhiều bức thư lịch sự cho thủ tướng và các giới chức cấp cao của Việt Nam để xin phép được thăm chồng bà và bầy tỏ nỗi lo ngại là bà đă không được phép trao cho ông cuống Kinh Thánh và thuốc đau gan của ông. Những lời khẩn cầu của bà không hề được phúc đáp. Vợ luật sư Đài cho biết các giới chức công an nói với bà rằng cần có “sự đối xử đặc biệt” trong trường hợp của chồng bà bởi v́ có liên quan đến các “bí mật nhà nước.” Bà đáp rằng v́ các cơ quan truyền thông nhà nước đă đăng một số bài báo lăng nhục chồng bà nên không thể coi vấn đề là một “bí mật nhà nước.” Hệ thống pháp lư của Việt Nam cho phép một người bị cáo buộc được liên hệ với một luật sư trong thời gian điều tra. Ông Đài đă không được tiếp xúc với luật sư của ông. Hệ thống pháp lư của Việt Nam quy định rằng sau thời gian điều tra th́ công an phải tŕnh một bản báo cáo tóm tắt cuộc điều tra cho cơ quan điều tra. Nếu xét thấy có lư do để tiến hành, th́ cơ quan này sẽ phải soạn thảo hồ sơ truy tố và tŕnh lên Ṭa án Nhân dân. Ṭa này sẽ định ngày xét xử nếu thấy có thể truy tố. Trong trường hợp ông Đài, ngày xét xử được loan báo ngay trước cả lúc hoàn tất cuộc điều tra. Điều này cũng vi phạm chính các điều lệ pháp lư của Việt Nam. Trích thuật một nguồn tin tư pháp có liên quan đến một viên chức cấp cao của đảng Cộng sản, hôm thứ năm 19 tháng 4, hăng tin AFP tường thuật rằng các luật sư Đài và Nhân dự trù bị đưa ra ṭa vào ngày 11 tháng 5 về tội bôi nhọ nhà nước Việt Nam. Luật pháp Việt Nam nói rằng tối thiểu một bản sao của việc truy tố phải được gửi cho thân nhân gần nhất của bị cáo và cho luật sư biện hộ 10 ngày trước ngày xử. Như thế có nghĩa là chính quyền phải cung cấp các giấy tờ truy tố cho bà Đài và luật sư của ông trước ngày 25 tháng 4. Tin tức báo chí nhà nước lên án ông Đài là lấy cắp 80 ngàn đôla của Hội thánh Phúc Âm Việt Nam. Cả người đứng đầu lẫn tổng thư kư Hội thánh này đều xác nhận là hội không có khoản tiền đó. Vợ ông Đài đă nhiều lần yêu cầu các giới chức trong Hội nêu sự kiện này trên văn bản, nhưng các đại diện của ủy ban chấp hành Hội Thánh họp vào tuần trước cho biết sẽ không thể công bố văn thư đó trước cuối tháng 5. Đến lúc đó th́ có phần chắc là phiên ṭa đă xong, và nhiều quan sát viên nêu nghi vấn là liệu nhà cầm quyền có làm áp lực Hội Thánh mà ông Đài là một thành viên hay không. Các rủi ro của phiên ṭa đă được nêu ra vào lúc Ủy ban Ngoại vụ Hạ viện Hoa Kỳ đề xuất nghị quyết số 243, kêu gọi Việt Nam phóng thích lập tức và vô điều kiện ông Đài và người đồng sự là bà Nhân cũng như linh mục Nguyễn văn Lư, người đă bị kết án tù 8 năm hôm 29 tháng 3 v́ những tội danh tương tự. Nghị quyết được đề xuất đe dọa sẽ có hậu quả trong bang giao Việt Mỹ nếu như Việt Nam không thay đổi cách hành xử đối với việc người dân bầy tỏ chính kiến một cách ôn ḥa. Một nguồn tin của Compass Direct, một tổ chức tranh đấu cho những người bị ngược đăi trên thế giới, nói rằng Việt Nam cảm thấy không cần phải tôn trọng luật lệ của chính ḿnh khi truy tố những người chống đối ḿnh v́ lư do nhân quyền. Nguồn tin này nói rằng sự kiện này nhắc nhở những người mới đây đă vội vàng kết luận rằng Việt Nam đạt được tiến bộ đáng kể trong việc mở rộng quyền tự do cho người dân hăy xét lại nhận định đó. |
| Nhân ngày QUỐC HẬN hoặc QUỐC TANG 30/4/75 đến 30/4/07 tức 32 năm sau cuộc chiến kết thúc bằng sự cuồng bạo xâm lược, chém giết tàn bạo dă man nhất trong lịch sử Việt Nam,32 năm là thời gian đủ dài để cả hai phía Quốc Cộng có dịp hồi tưởng lại một quá khứ đen tối phủ phàng mà cả hai phía đă tận t́nh chém giết lẩn nhau v́ lư tưởng Quốc Gia hoặc Cộng Sản, nhất là về phía CSVN rất hảnh diện được xử dụng súng đạn NGA-TÀU trên xương máu VIỆT và tự nguyện làm một tên lính đánh thuê cho Cộng Sản Quốc Tế ! nhưng lại xảo trá quỉ quyệt dối Nam lừa Bắc bằng khẩu hiệu " chống Mỹ cứu nước ". CSVN bất chấp mọi cuộc tàn sát đẫm máu ! CSVN sẵn sàng đạp lên trên ba triệu xác chết nhân dân của cả hai phía Quốc Cộng ! Sau 32 năm và qua các tài liệu giải mật của các nước Nga, Pháp, Đức, Mỹ, Trung Cộng và Anh Quốc đều cho nhân dân ViệtNam cái nh́n trung thực về huyền thoại của Đảng CSVN với một HỒ Chí Minh chỉ là những tên tội đồ của dân tộc Việt. Đảng CSVN lợi dụng chiến tranh và nhân danh chủ nghĩa Cộng Sản nên thẳng tay cướp bốc, cưỡng đoạt tài sản và sinh mạng của nhân dân Miền Nam bằng bạo lực sắt máu hận thù. Điều này rất hiển nhiên không thể chối cải. Cả thế giới và nhân dân ViệtNam đều nh́n thấy mọi sự thật phủ phàng nêu trên,CSVN có trơ trẽn xảo quyệt cũng không ai tin. VTH |
| Nhân ngày QUỐC HẬN hoặc QUỐC TANG 30/4/75 đến 30/4/07 tức 32 năm sau cuộc chiến kết thúc bằng sự cuồng bạo xâm lược, chém giết tàn bạo dă man nhất trong lịch sử Việt Nam,32 năm là thời gian đủ dài để cả hai phía Quốc Cộng có dịp hồi tưởng lại một quá khứ đen tối phủ phàng mà cả hai phía đă tận t́nh chém giết lẩn nhau v́ lư tưởng Quốc Gia hoặc Cộng Sản, nhất là về phía CSVN rất hảnh diện được xử dụng súng đạn NGA-TÀU trên xương máu VIỆT và tự nguyện làm một tên lính đánh thuê cho Cộng Sản Quốc Tế ! nhưng lại xảo trá quỉ quyệt dối Nam lừa Bắc bằng khẩu hiệu " chống Mỹ cứu nước ". CSVN bất chấp mọi cuộc tàn sát đẫm máu ! CSVN sẵn sàng đạp lên trên ba triệu xác chết nhân dân của cả hai phía Quốc Cộng ! Sau 32 năm và qua các tài liệu giải mật của các nước Nga, Pháp, Đức, Mỹ, Trung Cộng và Anh Quốc đều cho nhân dân ViệtNam cái nh́n trung thực về huyền thoại của Đảng CSVN với một HỒ Chí Minh chỉ là những tên tội đồ của dân tộc Việt. Đảng CSVN lợi dụng chiến tranh và nhân danh chủ nghĩa Cộng Sản nên thẳng tay cướp bốc, cưỡng đoạt tài sản và sinh mạng của nhân dân Miền Nam bằng bạo lực sắt máu hận thù. Điều này rất hiển nhiên không thể chối cải. Cả thế giới và nhân dân ViệtNam đều nh́n thấy mọi sự thật phủ phàng nêu trên,CSVN có trơ trẽn xảo quyệt cũng không ai tin. VTH |
| Từ Trịnh Hội đến dân chủ cuội? (Kết) viendongdaily Thiên Đức IV/ Trịnh Hội là người Quốc gia hay Cộng sản? Đoạn kết bài viết của Hoàng Nguyên (xem phần III) nối tiếp: Nhưng lại cũng có người không đồng ư gọi Trịnh Hội là phản bội, v́ cho rằng ngay từ đầu, Trịnh Hội chưa bao giờ theo người quốc gia, Không theo quốc gia th́ làm ǵ có việc phản bội quốc gia. Họ cho là việc làm công ích của Trịnh Hội ở Phi Luật Tân (Philippines- DCV) là màn một, cảnh một, do Việt Cộng (VC) dàn dựng và đạo diễn. Quư vị có nghĩ là VC tinh ranh như vậy không? Thưa, có lẽ chỉ có Trịnh Hội và VC mới biết câu trả lời mà thôi. Cuối cùng cho dù luật sư Trịnh Hội từng là người quốc gia hay chưa từng là người quốc gia, hiện nay anh đang là người mà VC cho phép cầm cái micro phỏng vấn khắp ba miền đất nước, để mang ra ngoại quốc đánh bóng cho quyền tự do “Made in Việt Cộng”, đó là quyền tự do bịt miệng người khác trước mặt của nữ thần công lư. Trước hết người viết hoàn toàn không tán đồng về phương cách đặt vấn đề giới hạn sự chọn lựa thế đứng của người trong cuộc theo tác giả bài báo nói trên. Thật vậy, lối đặt vấn đề khẳng định không xanh th́ chắc chắn là đỏ, không c̣n chọn lựa nào khác, đă hoàn toàn lỗi thời, nên đi vào quá khứ cùng với cuộc chiến tranh lưỡng cực đă qua, “không phải người quốc gia, th́ chính thị là Việt cộng?” Thực tế đă chứng minh rằng không xanh, chưa hẳn là đỏ mà có thể là cam, tím, hồng hay hàng ngàn gam màu khác nữa. Và trong tiến tŕnh phát triển của loài người, sự đa dạng ư kiến, và nhiều thế đứng của người trong cuộc cho mỗi vấn đề là một yếu tố tất yếu không thể chối bỏ được. Nhờ vậy, hạt giống dân chủ mới có cơ hội sinh sôi nảy mầm. Chế độ cộng sản cũng đă từng thất bại khi chủ trương chuyên chính vô sản. Tất cả những người không vô sản đều là kẻ địch, phải bị tiêu diệt tùy theo từng thời điểm như trí, phú, địa hào, tôn giáo... Cộng sản đă sai lầm sau khi thống nhất đất nước áp dụng chuyên chính vô sản và tất cả trên 80 triệu dân Việt Nam (VN) không vô sản đều là kẻ địch cần phải tiêu diệt dưới nhiều h́nh thức khác nhau như đánh tư sản, học tập cải tạo, đánh đuổi Hoa kiều, đẩy dân ra biển đông, tước đoạt ruộng đất của nông dân, bóp miệng nhân dân không cho nói... Vậy tại sao cộng đồng hải ngoại tại Úc lại có thể đi theo dấu vết sai lầm đó khi chủ trương rằng không phải phe ta là phe địch th́ phải tiêu diệt. Tác giả bài báo cho rằng Trịnh Hội chưa bao giờ là người theo quốc gia để kết luận Trịnh Hội là người theo Việt Cộng. Đây là một lư luận nông cạn và sơ đẳng về chính trị không thuyết phục được. Khi chiến tranh VN chấm dứt, Trịnh Hội chỉ là một đứa bé 5 tuổi, “Quốc gia tan hàng, thật sự đi vào lịch sử” đó là một thực tế. Quốc gia chỉ c̣n là một khái niệm trừu tượng hay một hoài vọng quá khứ đối với thế hệ sinh trưởng trong chiến tranh. C̣n riêng đối với thế hệ sau chiến tranh, nhất là sinh sống ở nước ngoài, làm sao có ấn tượng về quốc gia của ngày xa xưa ấy. Có nhà trường hay cơ quan đoàn thể nào đứng ra giảng dạy hay truyền thụ lư tưởng quốc gia là ǵ cho lớp trẻ? Để đến nay lại kết tội “Trịnh Hội chưa bao giờ là người theo quốc gia”. Và nếu Trịnh Hội muốn theo người quốc gia th́ phải theo ai? Ai là người đầy đủ thẩm quyền và uy tín để đại diện cho cái gọi là quốc gia trong quá khứ để thu hút Trịnh Hội nói riêng và giới trẻ nói chung hăy trở về với lư tưởng quốc gia? Và ai là người phải chịu trách nhiệm khi để cho giới trẻ đang sống và trưởng thành trong ṿng tay của ḿnh đă trở thành người chưa bao giờ theo quốc gia? Giả sử cho rằng Trịnh Hội hay giới trẻ chưa bao giờ là người quốc gia, tại sao không dùng lư lẽ thuyết phục để kéo Trịnh Hội nói riêng và giới trẻ nói chung về với chính nghĩa quốc gia mà lại dán cho họ cái nhăn Việt Cộng mà không c̣n chọn lựa nào khác? Hành vi biểu t́nh chống đối quá khích có khác ǵ hành vi đóng cửa, qua cầu rút ván để họ không c̣n đường trở lại với chính nghĩa quốc gia? Những câu hỏi trên rất xát muối đau ḷng cho thế hệ sinh trưởng trong chiến tranh trong đó có cả người viết. Thế nhưng không thể không đặt ra để thế hệ lănh đạo già nua hôm nay phải nh́n lại ḿnh để có đối sách hữu hiệu hơn nữa trong thời gian sắp tới. V/ Ai là dân chủ cuội? Lằn ranh “Quốc-Cộng”? Nguồn: assets.panda.org Đúng ra câu chuyện Trịnh Hội có thể kết thúc ở đây, thế nhưng gần đây trên một số diễn đàn báo chí có một vài tác giả với tư cách cá nhân dựa trên kinh nghiệm xương máu từng là nạn nhân của chế độ cộng sản, với sự cảnh giác cao độ đă có nhiều bài viết phân tích phân loại những người đấu tranh dân chủ hiện nay cả trong và ngoài nước là những nhà dân chủ dỏm, cuội hay quậy. Câu trả lời đúng hay sai tùy theo lăng kính nh́n cuộc đấu tranh hiện nay có tên gọi là ǵ? Đây là cuộc đấu tranh “Quốc - Cộng”? Công bằng mà nói cuộc đấu tranh hiện nay xuất phát và biến tướng từ cuộc chiến Quốc – Cộng vừa qua. Trên thực tế quốc gia Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) không c̣n nữa, người Việt tại miền Nam Việt Nam ra hải ngoại, thế hệ thứ nhất đă nuôi dưỡng và tiếp tục lư tưởng đấu tranh đó. Thế nhưng đối với những người đấu tranh dân chủ sinh trưởng từ miền Bắc hay những thế hệ sinh sau chiến tranh họ hoàn toàn không biết cái gọi là “Quốc gia trước 1975” th́ có thể nào choàng lên đầu họ cái lư tưởng người quốc gia chống cộng hay không? Vậy tên gọi cuộc đấu tranh Quốc - Cộng chỉ có thể sử dụng riêng cho thế hệ thứ nhất xuất phát từ cuộc chiến miền Nam mà thôi. Tên gọi này không thể áp dụng chung cho tất cả mọi người đấu tranh hiện nay. Một điểm nữa, cộng sản có c̣n không để mà đấu tranh? Thật sự chủ nghĩa cộng sản đă chết rồi trên đất nước Việt Nam kể từ đại hội đảng X một khi đă chấp nhận cho đảng viên làm kinh tế tư nhân không giới hạn quy mô. Lư tưởng của đảng cộng sản vinh quang đă chết rồi, một cái chết không điếu văn, không mộ bia và cả không người đưa tiễn. Chủ nghĩa cộng sản hay xă hội chủ nghĩa (XHCN) chỉ c̣n là hư danh rỗng ruột. Một vài năm tới cái đuôi XHCN biến mất, đảng cộng sản thay tên đổi họ. Phải chăng sự nghiệp ỳ chống cộng của người Việt hải ngoại đă hoàn thành, cuộc đấu tranh chấm dứt? Không! Nhất định là không! Phải khẳng định rằng đây là cuộc đấu tranh tự do, dân chủ đa nguyên cho đồng bào quê nhà, cho dù có cộng sản hay không, bất cứ chế độ nào nối tiếp mà không thực sự đem lại dân chủ và các quyền cơ bản cho người dân như tự do ngôn luận, lập hội, tín ngưỡng, chính trị đa nguyên, th́ cộng đồng hải ngoại vẫn tiếp tục cuộc đấu tranh như hiện tại. Có một số tác giả bài báo thường dựa vào hai tiêu chuẩn là niềm tin vào Hồ Chí Minh và chủ trương lật đổ chế độ cộng sản hay không để đánh giá một người đấu tranh dân chủ có phải thứ thiệt hay không? Thật ra những tiêu chí này chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ cho sự đánh giá đó. V́ trên cơ bản mục tiêu của người quốc gia chống cộng hoàn toàn khác biệt với mục tiêu của người đấu tranh dân chủ. Th́ tại sao lấy tiêu chuẩn của người quốc gia chống cộng để đánh giá những người đấu tranh dân chủ hiện nay là thiệt hay dỏm? Có thể nào bảo đảm sự đánh giá này không gây oan sai đưa có thể đến hậu quả tự tiêu diệt lẫn nhau hay không? - Thế hệ trẻ sinh sau chiến tranh tại Việt Nam ít nhiều bị đầu độc bởi nền giáo dục XHCN nay họ thấy ra sự bất công xă hội và đă dấn thân đấu tranh, cho dù họ vẫn c̣n niềm tin vào ông Hồ v́ rằng chưa có h́nh tượng nào thay thế trong ḷng họ và họ thiếu thông tin v́ bị bưng bít, ngăn cấm. Họ là những người mới bừng tỉnh cơn mê ra khỏi giáo điều cộng sản vậy có thể nào đ̣i hỏi họ phải trở thành người quốc gia để chống cộng chăng? Chắc chắn là không v́ họ không biết quốc gia là ǵ?. Quốc gia chưa bao giờ đến với họ - chẳng hạn như Tập hợp Thanh niên Dân chủ, sinh viên Nguyễn Tiến Trung và Hoàng Lan chẳng hạn. Những sinh viên này đă thật sự dấn thân vào con đường đấu tranh dân chủ, và đă không treo cờ đỏ sao vàng cũng như cờ vàng ba sọc đỏ trong chiến dịch Marathon nối ṿng tay lớn. Có thể nào trách họ chăng? - Những thế hệ người Việt hải ngoại sinh trường từ miền Bắc chưa một ngày ăn cơm quốc gia, họ đấu tranh khác chính kiến với cộng sản cũng như người quốc gia từ mục tiêu đến đường lối thực hiện, có thể nào dùng “tiêu chuẩn quốc gia chống cộng” để đánh giá sự nghiệp đấu tranh của họ là dỏm hay không? - Những người CS xét lại đấu tranh chống bất công xă hội, đ̣i hỏi đổi mới hơn nữa để mọi người có quyền tham chính, cống hiến tài năng, nhưng vẫn tin ở đảng hay ông Hồ v́ chưa có cái ǵ thay thế vào khoảng trống đó. Có thể nào kết luận đấu tranh cuội hay quậy không? - Những người đấu tranh ôn ḥa bất bạo động tại quốc nội, tuyên bố không chủ trương lật đổ đảng cộng sản, nhưng đấu tranh để đảng cộng sản phải mở rộng dân chủ, thực thi đúng các quyền công dân đă ghi trong hiến pháp là những người đấu tranh giả hiệu hay không? Người viết ngưỡng mộ kiến thức sâu rộng cũng như kinh nghiệm của các tác giả đă phân tích với những lư lẽ đầy đủ để nhận định sự việc đấu tranh “dân chủ cuội” dưa trên quyền lợi của những người đấu tranh cho lư tưởng quốc gia chống cộng theo quan niệm truyền thống cứng rắn. Người viết cũng không đi vào chi tiết để đối thoại với những tác giả này theo từng bài viết liên quan đến những người trong cuộc v́ không nằm trong chủ đích bài viết này. Trong phần đầu của loạt bài này có đưa ra “Một nhận định đúng hay sai c̣n tùy theo không gian và thời gian xuất hiện của nó”. Và MC. Trịnh Hội đă thất bại khi đưa ra một đề nghị hợp lư là trưng cầu ư kiến nhưng không chọn lựa chọn đúng không gian và thời gian, nên ư kiến chân thành của ḿnh đă sớm trở thành một thách thức đầy ngộ nhận đưa đến kết quả xấu không mong muốn. Với kinh nghiệm đó trở lại câu chuyện của các tác giả nói về vấn đề “dân chủ dỏm”, một vấn đề đặt ra: Những bài viết này đưa ra trong thời điểm lực lượng đấu tranh dân chủ c̣n non yếu, và không gian Việt Nam bắt đầu thay đổi, chuyển ḿnh hội nhập vào thế giới có thích hợp hay không? Phải nhận định thẳng thừng rằng thời điểm hiện nay là lúc cần thiết để kết hợp mọi nỗ lực đấu tranh của bất cứ ai để khai phóng con đường dân chủ cho người dân Việt Nam, bắt buộc cộng CSVN phải nhượng bộ chấp nhận con đường chính trị đa nguyên. Chứ không phải là giai đoạn chính trị hậu cộng sản cần tranh thủ lá phiếu của người dân để cần thiết vạch mặt chỉ tên từng người là đấu tranh dỏm hay cuội? V́ thế nếu các tác giả này thật sự chỉ là những nhà báo thuần túy, không hoạt động chính trị, th́ những bài báo này đă thành công trong mục đích vạch lá t́m sâu để t́m ra những nhà dân chủ cuội dưới lăng kính “Quốc - Cộng” bất chấp tác hại của nó trong không gian và thời gian hiện hữu. Các tác giả này đă thành danh để tŕnh làng “ cái tôi” của ḿnh vẫn c̣n hiện hữu với quan điểm cứng rắn trước xu thế đào thải không thương tiếc những luận điểm cực đoan của cả hai bên cuộc chiến, cả về không gian sinh học của mỗi người trong cuộc, lẫn thời đại toàn cầu hóa hiện nay. Nếu tác giả những bài báo này c̣n là những người hoạt động chính trị cũng đă thể hiện được tính cảnh giác cao độ như các vị lănh đạo cộng đồng Úc châu, thế nhưng đă lộ ra nhược điểm yếu kém của ḿnh trên khía cạnh lănh đạo chỉ huy, hay nói một cách đúng hơn là yếu kém về thuật dụng người trong quá tŕnh đấu tranh vậy. Đối với các tác giả này nói riêng và các nhà lănh đạo đấu tranh người Việt nói chung có một khuyết điểm chung về thuật dụng người, một khi chủ trương rằng “Ai không giống ta hay đồng quan điểm với ta, đều là địch cần phải đánh phá trước tiên, thay v́ kết hợp cùng nhau để đánh cộng sản”. Làm chính trị cần thiết nhất là phát huy khả năng dùng người để “b́nh thiên hạ” chứ không phải phô trương “cái tôi” hay “duy ngă độc tôn” trên cơi đời này. Một nhà lănh đạo cao cấp cộng sản Trung Quốc từng nổi tiếng và chủ trương thành công khi áp dụng chính sách “Mèo trắng, mèo đen cũng là mèo, miễn là bắt được chuột”. Cộng sản từng tuyên bố “Trí thức là cục phân” nhưng cục phân vẫn có giá trị lợi dụng. CSVN đă thật sự thành công trong việc chiếm miền Nam qua việc lợi dụng những “cục phân” trong thành phần thứ ba và Mặt trận Giải Phóng miền Nam vậy. Câu hỏi thật tế đặt ra là những người Việt mang danh là đấu tranh dân chủ nói chung có học được kinh nghiệm ǵ qua bài học trên hay không? để tổ chức và phát triển lực lượng của ḿnh nhằm đấu tranh đi đến thắng lợi cuối cùng. Tại sao những nhà đấu tranh dân chủ hiện nay cả trong và ngoài nước lại tự cầm tù ḿnh trong ḥm kính cổ “Lưỡng cực”, “Ai không theo ta chính là địch”, “Không phải quốc gia chính là Việt cộng”? Tại sao lại phải đánh phá lẫn nhau, mà không kết hợp lại đấu tranh cho mục đích cuối cùng. Công hay tội của mỗi người nên người dân phán xét công bằng qua lá phiếu bầu cử vậy, thay v́ quí vị tùy tiện phán xét hay phủ định lẫn nhau. Kinh điển cộng sản có câu: Nhiệt t́nh + ngu dốt = Phá hoại. Nhiệt t́nh đấu tranh dân chủ của quí vị có thừa, chữ ngu dốt không thích hợp sử dụng ở đây, thế nhưng chữ thiếu sáng suốt nếu áp dụng được, trong một ư nghĩa chừng mực nào đó cũng có thể đưa đến kết quả phá hoại sự đoàn kết cần thiết cho phong trào đấu tranh dân chủ, nhất là trong thời điểm hiện nay. Phải chăng đă đến lúc người Việt đấu tranh dân chủ cho dù khác biệt chính kiến phải mạnh dạn vượt lên chính ḿnh để đoàn kết với nhau thay v́ đánh phá lẫn nhau bằng chủ trương: “Không cần biết ngươi là ai miễn là chấp nhận đấu tranh dân chủ đa nguyên cho quê nhà theo phương cách riêng của mỗi người để tác động đổi thay chế độ hiện hữu đều là điều tốt”. Nói như vậy không có nghĩa là mỗi người tự đánh mất cảnh giác về sự gian manh tráo trở của cộng sản, mà trái lại làm được điều này trong cảnh giác cao độ chính là sự thể hiện tài năng của người lănh đạo tương lai vậy. Phải chăng đây là một chiến thuật không thể thiếu cho tất cả lực lượng đấu tranh dân chủ c̣n non yếu hiện nay cần áp dụng để sinh tồn và đi đến mục tiêu cuối cùng vậy. Không thích và không nhận đội bất cứ một loại mũ nón nào Nguồn: DCVOnline Chuyến tàu dân chủ Việt Nam chuyển bánh đi vào hiện thực nhanh hay chậm là tùy vào nỗ lực của đồng bào quốc nội, và vấn đề đặt ra là người Việt đấu tranh cho dân chủ có thể chuyển ḿnh thích hợp bước chung vào cùng một toa tàu đó hay không.? Đừng bỏ lỡ cơ hội! Mong lắm thay!. Nội dung của loạt bài viết này c̣n nhiều điều cần tranh căi thảo luận dân chủ, chấp nhận sự khác biệt trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau, người viết tự nhận ḿnh theo ngôn từ của dân đă từng bị đi cải tạo, là con mồ côi, đầu trọc lóc, lại nhỏ nhoi nên không thích hợp để đội bất cứ một loại mũ nón do ai đó ưu ái gởi tặng. Một lời chân thành từ chối trước để lưu giữ t́nh cảm sau này. California 27/4/2007 © DCVOnline |
| Trên diễn đàn này hăy dành cho những người ViệtNam yêu nước, yêu tổ quốc ViệtNam nhưng hoàn toàn không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản và đả đảo luôn bọn buôn thần bán thánh luôn luôn núp dưới bóng người Quốc Gia, làm lợi cho cộng sản, miễn sao có tiền, có lợi nhuận là OK. Nguyễn Cao Kỳ Duyên có gào to thét lớn bao nhiêu th́ càng ḷi ra bộ mặt thật y như bố cô, một thằng già vô liêm sĩ,đáng khinh.B40 |
| Khiếu Kiện Đất Đai Ngày Càng Tăng Tại Vườn Hoa Mai Xuân Thưởng 4/28/2007 Tin Hà Nội - Thêm nhiều người từ các địa phương kéo về Hà Nội kêu cứu v́ viên chức Đảng viên nhà nứơc ở địa phương không những lấy nhà, đất của dân, mà c̣n đánh dân, c̣ng tay người khiếu kiện. Rất nhiều người đă kéo đến khiếu kiện tại trụ sở tiếp dân của Đảng và nhà nước CSVN vẫn không được cứu xét. Nhiều lần họ bị đem nhốt, vất bỏ đồ đạc cá nhân và bị đuổi về địa phương. Một nguồn tin độc lập tường thuật t́nh h́nh khiếu kiện trước cơ quan trung ương của Đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam tại Hà Nội cho biết hơn 10 ngày nay, có rất nhiều người dân các tỉnh cả nước về Hà Nội khiếu kiện đ̣i lại đất đai đă bị cán bộ địa phương cưỡng đoạt. 300 người dân của 2 huyện Tân Biên, Tân Châu ở tỉnh Tây Ninh, hàng chục người dân của tỉnh Hà Nam và từ ngày 18 Tháng Tư, cùng nhiều người dân của huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây ra thủ đô Hà Nội kêu cứu các lănh đạo cấp cao của Đảng và nhà nước. Bản tin cho biết đoàn người khiếu kiện của tỉnh Hà Tây mang theo một nam thanh niên 35 tuổi tên là Trần Văn Văn ở xóm Đồi 3, xă Đông Phương Yên, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Hai tay anh này bị khóa mỗi tay một c̣ng, mặt mày bị đánh xây xát, thâm tím. Theo những người dân đi cùng anh đến số 1 phố Mai Xuân Thưởng khiếu kiện cho biết vào ngày 18 tháng 4 vừa qua, chủ tịch xă cho người đến lấy đất của dân trong xóm. Mọi người ra giữ th́ chủ tịch xă cho công an mặc áo, nhưng không có thẻ tên xông vào đánh. Trần Văn Văn là một cựu chiến binh đứng ra ngăn, th́ bị công an cùm mỗi tay một khóa và đánh anh rất dă man, công an c̣n d́m đầu anh ấn xuống nước. Nhưng nhờ có dân làng phản đối và giải thoát anh Văn mới may mắn thoát chết ngạt nước. Trước sự đấu tranh của dân làng, chủ tịch xă và công an đă phải rút chạy. Một ngày sau, lại có 2 mẹ con chị Nguyễn Thị Xuyến cũng ở huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây nước mắt ṛng ṛng, 2 tay bị khóa chạy từ nhà lên thủ đô Hà Nội kêu oan. Chị Xuyến khoảng ngoài 50 tuổi, nước mắt chan chứa, nghẹn ngào cho biết nhà chị ở xă Thủy Xuân Tiên cùng huyện với anh Văn, người hôm qua cũng bị công an đánh và cùm tay. Sáng nay, cán bộ địa chính xă đến lấy đất của gia đ́nh chị, chồng con chị giữ lại th́ cán bộ cho công an khóa tay mẹ con chị và đánh chồng chị hiện nay đang ḅ lê ở nhà, chỉ có chị nhờ anh em, họ hàng đưa lên được Hà Nội đi kêu cứu các ông ở trung ương. |
| Câu chuyện của một du sinh Việt Nam tại Ba Lan, 32 năm sau ngày 30-4 2007.04.28 Nguyễn Khanh, phóng viên đài RFA Mỗi năm vào những ngày cuối tháng Tư, người Việt khắp nơi thường kể cho nhau nghe câu chuyện của riêng ḿnh vào ngày nhiều nhà viết sử xem là một trong những ngày trọng đại nhất trong lịch sử của Việt Nam. * Bấm vào đây để nghe cuộc phỏng vấn này * Tải xuống để nghe Nhà tù Hỏa Ḷ ở Hà Nội. Photo courtesy VnExpress. Cũng trong tinh thần đó, hôm nay Ban Việt Ngữ chúng tôi xin được gửi đến quư thính giả câu chuyện của một sinh viên Việt Nam, từng đi du học ở Ba Lan, bị bắt đưa về nước, và bây giờ đang sinh sống và hoạt động tại Ba Lan. Người chúng tôi muốn giới thiệu đến quư thính giả hôm nay là Ông Lê Diễn Đức, người điều hành tờ báo mạng Đàn Chim Việt. Ông Đức c̣n được nhiều người biết đến qua bút danh Lưu Vũ. Như thường lệ, cuộc nói chuyện do Nguyễn Khanh thực hiện, và chúng tôi xin gửi đến quư thính giả trong khuôn khổ Tạp Chí Câu Chuyện Thời Sự Hàng Tuần. Cũng xin thưa rằng những phát biểu của ông Lê Diễn Đức không nhất thiết phản ánh quan điểm của Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do. Nguyễn Khanh: Ngày 30 tháng Tư 32 năm trước đây, lúc đó ông ở đâu và ông đang làm ǵ? Lê Diễn Đức: Thưa quư anh, ngày này 32 năm trước đây, tôi đang ngồi tù ở nhà tù Hỏa Ḷ ở Hà Nội. Nguyễn Khanh: Anh có thể giải thích lư do tại sao lúc đó anh đang ngồi tù, trong lúc cả nước đang đang xôn xao, một bên th́ lo âu sắp thua trận, một bên đang vui mừng chờ chiến thắng? Lê Diễn Đức: Thưa anh trước đó mưới mấy tháng, tôi đă ngồi tù ở trại giam ngoại thành Hà Nội, mà sau này tôi được biết là nơi giam giữ các nhân vật bất đồng chính kiến như Phạm Hồng Sơn, Lê Chí Quang, h́nh như được gọi la trại giam B15 ǵ đó. Sau đó một thời gian, ṭa án Hà Nội đưa tôi ra xét xử với tội danh là trốn ở lại nước ngoài. Đó là luật lệ rất bất nhân. Cá nhân tôi, tôi không thể vượt qua đời sống b́nh thường của một con người, tôi đă có một mối t́nh với một cô sinh viên Ba Lan học chung ở Đại Học Tổng Hợp Thành Phố, và v́ thế mà tôi bị ṭa án kết tội trốn ở lại nước ngoài, v́ lúc ấy bất kỳ một ai vi phạm những điều mà tôi vừa nói đều bị Sứ Quán trục xuất đưa về nước. Ông Lê Diễn Đức Để giải nghĩa cho anh và thính giả biết, th́ trong thời gian tôi đi du học tại Ba Lan th́ thời đó, phía Việt Nam có cái luật lệ rất nghiêm ngặt, cấm đủ thứ. Nói chung du học sinh chúng tôi bị quản lư rất chặt chẽ, dưới con mắt giám sát của một cán bộ do Sứ Quán cử gọi là Trưởng Đoàn, thí dụ như cấm chúng tôi không được để tóc dài, không được mặc quần jean ra đường, cấm không được xem phim tư bản, cấm không được đến thăm gia đ́nh người Ba Lan, cũng như cấm không được có t́nh yêu mà chỉ học, học v́ tổ quốc, học v́ tổ quốc. Khi sang Ba Lan, chúng tôi c̣n trẻ lắm, chỉ độ 17, 18 tuổi, th́ anh bảo có cái chế độ nào, có cái luật lệ nào trên thế giới cấm người thanh niên chưa vợ, cô gái chưa chồng yêu nhau không? Đó là luật lệ rất bất nhân. Cá nhân tôi, tôi không thể vượt qua đời sống b́nh thường của một con người, tôi đă có một mối t́nh với một cô sinh viên Ba Lan học chung ở Đại Học Tổng Hợp Thành Phố, và v́ thế mà tôi bị ṭa án kết tội trốn ở lại nước ngoài, v́ lúc ấy bất kỳ một ai vi phạm những điều mà tôi vừa nói đều bị Sứ Quán trục xuất đưa về nước. Nguyễn Khanh: Thế ở trong tù, khi nào anh nghe được tin cuộc chiến kết thúc và cảm nghĩ của anh khi nghe tin đó như thế nào? Lê Diễn Đức: Thưa anh trong ngày 30 tháng Tư, chúng tôi đă xôn xao trong tù rồi, bởi v́ có tờ báo Nhân Dân là tờ báo Giám Thị thỉnh thoảng vẫn cho Trưởng Pḥng hay Phó Pḥng mượn đọc và tù nhân chúng tôi có thể đọc ké được, và chúng tôi biết là Sài G̣n sắp được giải phóng. Nói chung không khí rất là xôn xao, rạo rực, và chúng tôi trong ngày 30 tháng Tư khi được nghe tin đó th́ chúng tôi cũng rất là phấn khởi. Riêng bản thân tôi th́ vừa vui, vừa buồn. Nguyễn Khanh: Rất phấn khởi, nhưng lại vừa vui, vừa buồn. Ư anh muốn nói là như thế nào? Lê Diễn Đức: T́nh cảm con người mà anh, khó nói lắm!!! Thực ra mà nói, tôi sinh ra trong một gia đ́nh cách mạng, lớn lên được đi Ba Lan học. Tôi là người đă chứng kiến cảnh chiến tranh, thời máy bay Mỹ ném bom miền Bắc, hồi đó bản thân tôi đă nằm trong đội cứu thương đi nhặt nhưng xác chết bị bom phá tung ra, rồi làng thôn cháy v.v…, cho nên tôi thấy dân tộc Việt Nam bất hạnh quá, bao nhiêu năm triền mien chiến tranh như vậy, bây giờ đất nước thống nhất liền một cơi th́ ai không vui, không sướng hả anh. Cũng có lẽ chính nhờ ngày 30 tháng Tư đất nước thống nhất, mà ngày mùng 2 tháng Chín năm 75 tôi được ân xá, ra tù trước thời hạn 5 tháng anh ạ. Tôi có một bà cô ruột sống ở Sài G̣n, Cô tôi vào Sài G̣n trước năm 1930 cơ, cho nên tôi lấy lư do để xin giấy phép của Chính Quyền địa phương vào thăm cô tôi ở Sài G̣n. Ông Lê Diễn Đức Bản thân tôi cũng vậy, nghĩ là ḿnh, cả gia đ́nh, cả dân tộc đă thoát khỏi ṿng binh đao, chiến tranh triền miên trong bao nhiêu năm, th́ không thể nói là ḿnh không vui mừng được. Thấm chí rất hạnh phúc, rất sung sướng là đến bây giờ đất nước đă có thể hồi sinh, đă có thể bắt đầu bắt tay vào công việc xây dựng. Đó là nói cái vui của bản thân tôi và cũng là cái vui chung của mọi người, mặc dù lúc đó tôi vẫn biết ḿnh đang mang thân tù tội. Nhưng mà có nỗi buồn ở trong tôi không dám nói ra là với tấm lư lịch ra tù, tôi nghĩ rằng khi tôi được bước ra khỏi nhà giam Hỏa Ḷ, cuộc đời của tôi khó mà có thể tồn tại, khó có thể được sống cuộc sống đàng hoàng ở cái chế độ cộng sản. Tôi biết như thế v́ có rất nhiều trường hợp nạn nhân mà tôi được biết, thí dụ như thông qua vụ Nhân Văn Giai Phẩm, họ có chính kiến bất đồng, họ có những tấm lư lịch được gọi là lư lịch đen và phải sống cuộc đời như thế nào th́ tôi được nghe kể rất nhiều, hoặc tôi cũng được nghe phong phanh những người thân trong gia đ́nh kể lại cái thời Cải Cách Ruộng Đất, nên tôi thấy trước mắt ḿnh một con đường đi rất là mờ mịt. Lúc đó tôi nghĩ rằng chắc rồi sẽ bị đưa về quê, đi cầy, thế này thế kia. Cho nên trong thời gian ở tù tôi có một hy vọng le lói là nếu ra khỏi tù th́ phải t́m cách trốn đi, bằng mọi cách phải trốn ra khỏi cái đất nước này, để ḿnh c̣n trẻ ḿnh có thể vươn lên chứ c̣n bị đầy đọa ở cái xă hội này th́ làm sao ḿnh có thể tồn tại được. Tôi nghĩ như vậy, và con đường ngắn nhất như anh em trong tù nói chuyện với nhau là nên đi vào Nam rồi tính sau, bởi v́ từ Bắc vào Nam chỉ qua con sông Hiền Lương rồi sau đó t́m cách tiếp cận vào trong, từ từ kiếm cách. Đất nước thống nhất, giải phóng xong th́ như tôi vừa nói với anh, vui thật nhưng mà làm tắt lịm đi hy vọng le lói mà tôi dự tính trong đầu. Nguyễn Khanh: Thế rồi khi nào anh vào Nam, và cảm nghĩ của anh khi đặt chân đến miền Nam như thế nào? Lê Diễn Đức: Cũng có lẽ chính nhờ ngày 30 tháng Tư đất nước thống nhất, mà ngày mùng 2 tháng Chín năm 75 tôi được ân xá, ra tù trước thời hạn 5 tháng anh ạ. Tôi có một bà cô ruột sống ở Sài G̣n, Cô tôi vào Sài G̣n trước năm 1930 cơ, cho nên tôi lấy lư do để xin giấy phép của Chính Quyền địa phương vào thăm cô tôi ở Sài G̣n. Hồi đó, sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, tất cả mọi người vào Sài G̣n đều phải có giấy đi đường -nếu là cán bộ- hoặc phải có giấy phép của Chính Quyền địa phương. Tôi cũng vất vả lắm mới xoay được tờ giấy phép này. Mặc dù đă sống ở Châu Âu, nhưng khi vào Sài G̣n tôi vẫn bị choáng ngợp, v́ tối thấy khác hẳn với miền Bắc quá. Những điều tôi được nghe rằng cuộc sống ở chế độ miền Nam thế này thế kia, nhưng mà ngay trên đường đi, trên chiếc xe chạy suốt hồi đó từ Bắc vào Nam, tôi thấy cách sinh hoạt, ăn uống của họ có cái phong thái rất là Châu Âu, và cảm nghĩ đầu tiên của tôi khi vao đến Sài G̣n là tôi thấy nhà cao tầng rất nhiều, đường phố xe đi lại như là mắt cửi, nhất là xe gắn máy, một điều rất hiếm hoi đối với miền Bắc, lúc ấy chúng tôi ở ngoài Bắc phương tiện đi xe đạp là chính. Đúng, thống nhất đất nước rồi nhưng ḷng người chưa thống nhất anh ạ. Cho đến giờ phút này anh cứ xem tất cả những diễn đàn ở hải ngoại, hoặc những cuộc biểu t́nh, tranh đấu của những người Việt ở hải ngoại chống đối những đoàn của chính phủ Việt Nam đi sang Mỹ hoặc sang các nước tư bản th́ chúng ta thấy rơ, chứ không cần nói chiều. Ông Lê Diễn Đức Cho nên nh́n thấy xe gắn máy chạy rất nhiều, tôi cảm thấy ngay chắc chắn cuộc sống của miền Nam họ sung sướng hơn, họ phong phú và thịnh vượng hơn ở miền Bắc. Sáng hôm sau, tôi mượn chiếc xe đạp mini của con cháu nhà bà cô, đạp lên trung tâm và ghé vào cái tiệm cà phê không biết bây giờ có c̣n không là tiệm MiniRex nằm giữa trung tâm thành phố Sài G̣n. Khi tôi đi vào ngồi xuống bàn th́ thấy một người mặc áo trắng, thắt nơ, nói câu “thưa ông, ông dùng ǵ”. Tự nhiên tôi cảm thấy bàng hoàng, cảm thấy rất là khó nói. Trời ơi, bao lâu lắm rồi mới được một người gọi ḿnh bằng ông, giống như hồi ḿnh được nghe ở Ba Lan. Sau gây phút đó và những ngày tiếp theo đi ở thành phố, vào thương xá Tam Đa, vào thương xá Tax, tôi cảm thấy ngay rằng có lẽ ḿnh phải t́m cách để vào Nam sống, chứ ḿnh không thể sống ở Bắc được. Người miền Nam họ sống cuộc sống khá sung túc, con người miền Nam sống rất chân thật, họ ít để ư đến nhau. Với một lư lịch như tôi th́ tốt nhất, kiểu nào th́ kiểu, dù thế nào chẳng nữa, cái ư định, cái hy vọng le lói của ḿnh trong nhà tù đă bị dập tắt th́ bây giờ được khơi lại và ngay sau đó, tôi t́m cách để vào Nam được ạ. Nguyễn Khanh: Dường như anh muốn nói với chúng tôi là anh nh́n thấy danh từ thống nhất đất nước chỉ là thống nhất trên danh nghĩa chứ không phải trên thực tế. Có phải ông muốn tŕnh bầy như vậy hay không? Lê Diễn Đức: Tôi muốn nói về sự thống nhất địa lư hơn anh ạ. Cho đến bây giờ, cả tôi và anh chúng ta đều làm trong ngành truyền thông, có nhiều mối quan hệ với anh em bạn bè tứ xứ, từ Bắc sang Nam, đủ mọi thành phân xă hội th́ chắc anh cũng chia sẻ với tôi là ḷng người hai miền Nam Bắc vẫn c̣n đầy những dị nghị, đầy những mối hận thù chưa được giải quyết, thiếu ḷng bao dung, thiếu sự độ lượng, và chính v́ cái thể chế hiện nay không có được cái cơ bản nhất là con người được nói, được tŕnh bày, được giải tỏa, th́ tôi nghĩ cái bế tắc này nó vẫn triền miên. Đúng, thống nhất đất nước rồi nhưng ḷng người chưa thống nhất anh ạ. Cho đến giờ phút này anh cứ xem tất cả những diễn đàn ở hải ngoại, hoặc những cuộc biểu t́nh, tranh đấu của những người Việt ở hải ngoại chống đối những đoàn của chính phủ Việt Nam đi sang Mỹ hoặc sang các nước tư bản th́ chúng ta thấy rơ, chứ không cần nói chiều. Nguyễn Khanh: Khi cuộc chiến kết thúc hồi 1975 th́ chính phủ miền Bắc có nói là từ bây giờ chúng ta có tự do, dân chủ và độc lập ở trên toàn lănh thổ Việt Nam. Theo anh những điều đó bây giờ đă có hay chưa? Lê Diễn Đức: Nếu chúng ta nghe báo chí hay các tuyên bố của Chính Quyền Việt Nam hiện nay th́ có lẽ Việt Nam là thiên đường anh ạ!!! Chúng ta không nên tự lừa dối nhau làm ǵ. Tất cả những điều họ nói đều là sáo rỗng. Việt Nam chỉ có chủ quyền về mặt lănh thổ, mà chưa chắc đă hoàn toàn có chủ quyền một cách độc lập, bởi v́ chúng ta biết ảnh hưởng của Trung Quốc khi kư hiệp định nhượng đất, nhượng biển, th́ rơ ràng hiện nay lănh đạo Đảng Cộng Sản ở Hà Nội vẫn chịu sức ép rất lớn của thế lực từ lănh đạo ở Bắc Kinh. Đó là tôi nói về chủ quyền lănh thổ. Thực ra mà nói, chúng ta không thể nào dấu nhau được, trong ḷng bản thân họ, họ cũng rất chán chế độ Việt Nam hiện nay, là một chế độ tham nhũng tràn làn, giá trị đạo đức của xă hội bị suy đồi, giáo dục th́ xuống cấp. Họ chán những điều đó. Ông Lê Diễn Đức Thế c̣n độc lập, tự do? Làm ǵ có hả anh? Chúng ta biết rằng để định nghĩa một nước tự do, dân chủ, trước hết chúng ta biết các quyền cơ bản nhất của con gnười phải được tôn trọng, mà điều quan trọng nhất là quyền được nói, tức là quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Ở Việt Nam chúng ta không có một tờ báo tư nhân, không có một đài truyền h́nh, đài phát thanh tư nhân nào cả, tôi chưa nói là những người có ư kiến bất đồng với quan điểm của nhà nước, chỉ gửi vài ba e-mail trên mạng cũng đă bị bắt, bị đọa đầy, giống như trường hợp của Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, hay là anh Nguyễn Vũ B́nh c̣n ngồi tù. Không thể kể xiết được. Nguyễn Khanh: Nhưng thưa với anh là nếu có dịp nói chuyện với những người trong nước, anh thấy rơ ràng người dân Việt Nam, dường như, hài ḷng với cuộc sống của họ hiện tại. Đó cũng là điều Chính Phủ Việt Nam thường hay tŕnh bày cho thế giới biết. Anh nghĩ ǵ về điều này? Lê Diễn Đức: Tôi quay lại Ba Lan từ năm 1989, và gia đ́nh tôi định cư ở đây luôn. Trước khi tham gia báo Đàn Chim Việt, tôi cũng sinh hoạt b́nh thường với cộng đồng, với anh em. Tôi cũng có về Việt Nam nhiều lần cho măi đến năm 2000 khi tôi ra công khai th́ tôi không về được nữa. Cho nên tôi có dịp tiếp xúc với nhiều bạn bè, anh em, người trong gia đ́nh cũng như quan chức cộng sản, kể cả những người bạn thân của tôi hiện đang có những chức vụ ở trong nước. Thực ra mà nói, chúng ta không thể nào dấu nhau được, trong ḷng bản thân họ, họ cũng rất chán chế độ Việt Nam hiện nay, là một chế độ tham nhũng tràn làn, gi átrị đạo đức của xă hội bị suy đồi, giáo dục th́ xuống cấp. Họ chán những điều đó. Nhưng có một lần một người bạn của tôi nói là “Đức à, cả nước đang bị lũ, chúng ta không sống với lũ th́ không thể nào được. Bọn tôi chấp nhận phải sống với lũ”. Thành ra tôi rất tâm đắc với lời nói của nhà văn Dương Thu Hương, có một lần Bà nói là h́nh như người Việt Nam chúng ta ḷng dũng cảm giống như số tiền để trong bóp, đă ăn xài xả láng qua chiến tranh rồi, nên bây giờ cạn kệt không c̣n nữa. Chính là nhờ công cuộc đổi mới của Chính Phủ Việt Nam hiện nay trong 20 năm qua, nên từ cái cảnh ăn cơm bo bo giờ được ăn gạo trắng, đi bộ, đi xe đạp rồi đi xe máy, ở nhà tranh vách đất bây giờ được ở nhà gạch v.v…, Bây giờ họ cảm thấy họ hài ḷng, và cũng rất nhiều người ngay cả trong cộng đồng Ba Lan này, họ cứ tưởng công lao đó là công ơn của Đảng, của Bác, nhưng thật mà nói v́ thiếu thông tin, nên họ rất ngô nghê, lẽ ra không có Đảng, không có Bác, cuộc sống của họ có khi c̣n thịnh vượng hơn. Mà Đảng mới đổi mới 20 năm nay thôi, nhưng mà ḥa b́nh đă 20 năm rồi, tại sao Đảng không đổi mới trước đi để cho đất nước bây giờ ít nhất phải bằng các nước láng giềng như Thái Lan, Philippines, hay là Malaysia. Chính Đảng đă phạm quá nhiều sai làm, và những sai lầm đó đưa đất nước đến bờ vực thẳm kinh tế th́ Đảng mới làm chuyện đổi mới, nâng mức sống lên. Con người khi có một miếng ăn ấm bụng th́ người ta thường tự măn, tự bằng ḷng với ḿnh, họ sợ mất v́ sau bao nhiêu năm chiến tranh họ không có được miếng ăn, bây giờ có miếng cơm trong nồi th́ họ sợ mất. Đó là cái điểm yếu của đại đa số người Việt Nam và Đảng Cộng Sản Việt Nam đă tận dụng được sự tự măn, tự bằng ḷng của họ. Hơn nữa theo tôi nghĩ, họ không vươn lơn chính v́ họ thiếu thông tin, thiếu các thực tế từ các nước Cộng Sản cũ như là Cộng Ḥa Czech, Slovakia hay Ba Lan, là những nước đă từ bỏ chế độ Cộng Sản và vươn lên, họ được nhiều như thế nào, được nhiều hơn cái từ bo bo lên cơm trắng, từ xe đạp lên xe máy, anh ạ. Nguyễn Khanh: Xin cám ơn anh. |
| 30-4-1975 Tại Đơn Vị: Ngày 41 Giờ (04/16/2007) SAPY NGUYỄN VĂN HƯỞNG . Việt Báo Thứ Hai, 4/16/2007, 12:02:00 AM Tác giả SaPy Nguyễn Văn Hưởng nhận giải Viết Về Nước Mỹ. LTS. Tác giả Sapy Nguyễn Văn Hưởng, người viết bút kư này đă hai lần nhận giải Viết Về Nước Mỹ. Lần đầu, giải bán kết 2001, với bài viết “Hoa Ve Chai,” kể về những người đi lượm ve chai bán để góp tiền giúp đỡ bà con quê nhà. Lần thứ hai, là giải chung kết 2004, với bút kư “Giọt Nước Mắt” kể về Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam tại tiểu bang New Jersey, do một kiến trúc sư Việt Nam vẽ kiểu. Sau đây là bút kư của ông về biến cố 30-4-1975 tại doanh trại Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 21 Truyền Tin thuộc sư đoàn 21 Bộ Binh VNCH, ngoại ô Bạc Liêu. Ông Hưởng hiện là cư dân San Diego và vị cựu Thiếu tá Lương Duy Thanh, Tiểu Đoàn Trưởng trong hồi kư của ông hiện là cư dân Los Angeles. Đoạn Ba Danh Dự - Trách Nhiệm (tiếp theo) Đại úy Chinh nói năng nhỏ nhẹ, miệng luôn tươi cười như một thư sinh yêu đời. Sáng nay nét vui tươi b́nh thường trên gương mặt ông biến mất hẳn. Tôi hỏi thăm ông: - Đêm qua Đại úy ngủ được không? Ông lắc đầu chán nản nói như lời trần t́nh: - Ông thấy không, từ lúc mất Ban Mê Thuột đến giờ, Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa như bị trói tay, có được đánh đấm ǵ đâu, chỉ toàn di tản, bỏ dân, bỏ đất cho Cộng Sản. Cho đến giờ phút này, từ Sàig̣n xuống đến tận Cà Mau, lực lượng ḿnh vẫn c̣n nguyên vẹn, nhưng bị buộc phải buông súng, tôi thấy đau ḷng quá. Tôi buồn bă tiếp lời: - Tôi nghĩ, mất Miền Nam là bởi sự phản bội của đồng minh, bởi thiếu cấp lănh đạo có khả năng, chớ không phải v́ người lính Miền Nam yếu hèn hơn người lính phương Bắc. Tướng Dương Văn Minh là Tổng Tư Lệnh Tối Cao đă ra lệnh buông súng. Chúng ta, những người lính được huấn luyện chỉ biết làm người thi hành mệnh lệnh thượng cấp, th́ c̣n làm được ǵ để xoay ngược t́nh thế? Đại úy thấy không, mọi lời bàn tán, mọi điều suy tư trong lúc này đều lâm vào bế tắc. V́ chúng ta không được quyền chiến đấu, th́ đương nhiên không thể bảo rằng Quân Lực này chiến bại được. Mọi lời nói, mọi lối nghĩ suy chỉ để thoát bớt niềm đau đớn cho chính ḿnh và cho đồng đội, chớ ai cũng đều biết: thể chế và quân lực Việt Nam Cộng Ḥa đă bị cáo chung. Sáng hôm nay Câu lạc bộ có ǵ đăi nấy, chẳng c̣n bán buôn ǵ trong giờ phút này nữa. Trung sĩ I Mạch Văn Hồng người trực tiếp trông nom câu lạc bộ, chỉ muốn chu toàn nhiệm vụ đến giờ phút cuối cùng, cho nên vẫn mở cửa như thường lệ đăi đằng anh em. Mang ly cà phê nóng đến cho tôi, Hồng bảo: - Hôm nay c̣n cái ǵ tôi đem ra mời anh em. Ăn uống không hết, tôi đổ bỏ, chỉ để lại cho bọn quỷ đỏ cái nhà Câu lạc bộ trống không này thôi. Lúc tôi rời Câu lạc bộ, Hạ sĩ Vinh bước vào. Vinh giơ tay chào tôi. Nh́n lên, thấy đầu Vinh không c̣n một sợi tóc, tôi ngạc nhiên hỏi: - Sao em cạo đầu vậy Vinh? Vinh bùi ngùi: - Em cạo đầu để tang cho Tổ Quốc! Vinh là một quân nhân ngang bướng nhất trong đơn vị. Chỉ mỗi mái tóc thôi, tôi phải phạt lên phạt xuống, bắt cắt đi cắt lại ba bốn lần, nhưng tóc anh vẫn dài. Vậy mà hôm nay Vinh lại tự tay cạo đi mái tóc. Nh́n cái đầu trọc với gương mặt buồn xo, tôi thấy thương Vinh vô hạn. Lời nói cùng việc làm của Hồng và Vinh biểu tỏ cho tôi thấy đôi chút tâm t́nh của người lính Miền Nam trước lúc chịu bức tử. Một vài hành động, một vài cử chỉ tuy rất nhỏ nhặt đơn sơ nhưng giúp họ toát bớt được một phần nào nỗi ấm ức chất chứa trong ḷng. * Đúng vào giờ thứ 32 ngày 30-4-1975, tức 8 giờ sáng 1-5 nếu tính theo giờ đồng hồ, kẻng tập họp trỗi lên như thường lệ. Mọi người tiến nhanh ra sân cờ. Trong mắt tôi hàng quân hôm nay đông đủ hơn, kỷ luật hơn mọi ngày. Thượng sĩ Thường Vụ điểm danh xong, báo cáo quân số lên Đại Đội Trưởng Chỉ Huy Công Vụ. Đại úy Chinh rời hàng quân bước vào văn pḥng tŕnh diện Tiểu Đoàn Trưởng. Khi Thiếu tá Thanh và Đại úy Chinh tiến ra sân cờ, Thiếu úy Minh sĩ quan Trực dơng dạc hô lớn: - Thiếu tá Tiểu Đoàn Trưởng đến. Nghiêm! Chào tay! Chào! Bàn tay mọi người đồng loạt giơ lên đặt ngang vành nón sắt. Thiếu tá Thanh dừng bước, ông đứng trong tư thế nghiêm chào hàng quân. Minh dơng dạc tiếp tục điều khiển buổi lễ: - Phất! Thao diễn nghỉ! Thủ tục chào kính xong. Thiếu tá Tiểu Đoàn Trưởng đưa mắt nh́n khắp hàng quân, ông hít một hơi thật mạnh, với giọng đầy xúc động, ông chậm răi nói như mở ḷng ḿnh ra cùng thuộc cấp: - Thưa tất cả anh em. Cho đến giờ phút này chúng ta vẫn c̣n là người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Chúng ta vẫn có thể hiên ngang kéo lá Quốc Kỳ lên. Nhưng người Cộng Sản đă vào đến thành phố, những người thân yêu của chúng ta và toàn dân Miền Nam đă lọt vào tay họ. Trước lúc bước ra đây, tôi tự hỏi ḷng: có nên kéo lá cờ lên cho ngạo nghễ tung bay thêm vài giờ, rồi để người Cộng Sản lôi nó xuống chà đạp sau khi họ vào tiếp thu đơn vị không? Hay mỗi người chúng ta tự cất giữ, bảo vệ lá Quốc Kỳ trong ḷng ḿnh? Nghĩ vậy nên tôi quyết định, buổi chào cờ hôm nay không có lá Quốc Kỳ. Chúng ta hăy xem lá Quốc Kỳ thân yêu mà chúng ta và biết bao người đổ máu bảo vệ nó, đă được kéo xuống từ lúc vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao, Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Nhưng tôi tin, lá Quốc Kỳ sẽ tồn tại măi trong ḷng tôi, trong ḷng các anh em và trong ḷng người dân Miền Nam chiến đấu cho lư tưởng Tự Do. Thiếu tá Thanh ngừng lại giây lát, thêm một lần nữa ông đưa mắt nh́n khắp hàng quân. Mọi người đều đứng im cúi mặt lắng nghe. Ông nói tiếp: - Tất cả chúng ta hăy đồng một ḷng ngước mắt nh́n lên cột cờ, tưởng như lá cờ vàng ba sọc đỏ đang tung bay phất phới. Chúng ta vẫn có thể đồng hát bản Quốc Ca, nhưng lời ca tiếng hát giờ đây có c̣n gây hưng phấn cho dân chúng như mọi ngày không? Hay nó đem lại cho họ sự lo sợ? V́ vậy, chúng ta sẽ hát Quốc Ca thật lớn, nhưng...hát ở trong ḷng. Lại thêm một lần nữa Thiếu Tá Thanh ngừng nói, như để từng lời ông tâm t́nh, ngấm sâu vào ḷng mỗi người lính. Ông lại đảo mắt nh́n khắp hàng quân rồi ban lệnh: - Bây giờ anh em chuẩn bị làm lễ chào Quốc Kỳ. Theo như thường lệ, sĩ quan Trực là người điều khiển buổi lễ chào cờ. Nhưng hôm nay, Thiếu tá Thanh trực tiếp làm mọi chuyện. Ông hô to: - Nghiêm! Hàng quân đồng loạt làm theo lệnh ông. - Lễ chào Quốc Kỳ bắt đầu! Chào tay! Chào! Thượng kỳ! Quốc Ca! Mọi người đứng im phăng phắc, mắt ngước nh́n lên cột cờ. Tôi như thấy lá cờ vàng ba sọc đỏ đang từ từ kéo lên. Tôi trút bỏ hết những ưu tư trong người, để ḷng ḿnh ḥa vào từng câu hát. Lời ca không được phát ra bên ngoài nên tôi nuốt trọn nó vào ḷng. Nh́n sang hàng quân đối diện, môi ai cũng đang mấp máy. Tôi quay về thực tại khi tiếng hô dơng dạc của ông Tiểu Đoàn Trưởng vang lên: - Phất! Thao diễn nghỉ! Một phút mặc niệm các chiến sĩ đă hy sinh cho Tổ Quốc! Nghiêm! Chào tay! Chào! Bầu không khí linh thiêng bao phủ khắp sân cờ. Tôi như thấy hồn thiêng sông núi đang lẩn khuất đâu đây. Tôi cúi đầu nhận tội với tiền nhân v́ không làm tṛn trách nhiệm với quê hương đất nước. Tâm tư tôi thoáng hiện h́nh ảnh bạn bè, đồng đội và những người đă hy sinh trong cuộc chiến, nghĩ đến nỗi đau khổ của Quân Dân Miền Nam...Trong người tôi không c̣n chỗ chứa những niềm đau, những nỗi uất hận. Tôi nghe tiếng nấc nghẹn đâu đó trong hàng quân, tiếng khóc cứ lan dần, lan dần...đến lúc này th́ tôi không c̣n kềm hăm nổi ḿnh nữa, để mặc nước mắt tuôn trào. Hầu như mọi người đều khóc. Phút mặc niệm qua đi, Thiếu tá Tiểu Đoàn Trưởng đứng nghiêm chào đoàn quân rồi nói trong nghẹn ngào: - Thôi các anh em tan hàng. Thiếu tá Thanh cúi mặt bước vội vào văn pḥng, mọi người cũng lặng lẽ rời sân cờ. * Trong đơn vị tôi ngoài anh em cơ hữu ra c̣n có hơn ba mươi khóa sinh do các đơn vị thuộc Vùng IV Chiến Thuật gởi đến thụ huấn chuyên môn về Truyền Tin. Tuy là lính mới, nhưng tất cả đều tuân hành kỷ luật hết sức nghiêm minh. Lúc tôi đang thơ thẩn đếm bước đi không định hướng. Anh trưởng lớp đến chào tôi rồi lên tiếng hỏi: - Thưa Trung úy, hôm nay tụi em có phải vào lớp học không? Tôi lắc đầu bảo: - Không có học hành ǵ nữa cả, anh cho anh em về pḥng sửa soạn đồ đạc, sẵn sàng rời đơn vị sau khi bàn giao cho Việt Cộng. Người khóa sinh đi rồi, tôi lê bước trở về ban ḿnh. Trên chiếc bàn làm việc thường ngày, chỉ c̣n hai cái điện thoại đen nằm trơ trọi. Căn pḥng hôm nay như hoang phế, chẳng c̣n ǵ ngoài vài bộ bàn ghế và mấy cái tủ hồ sơ trống không. Ngay như cái bảng nhỏ: “Trung Uư Nguyễn Văn Hưởng Sĩ Quan An Ninh - Chiến Tranh Chính Trị” mới đặt làm mấy tháng trước, tôi cũng cho quăng luôn vào lửa đốt tối hôm qua. Thượng sĩ Thanh, với hơn 20 năm quân ngũ, từng là cựu tù binh Cộng Sản, đang ngồi cúi mặt, chống tay lên cằm. C̣n Thượng sĩ Mẫn, chẳng biết làm ǵ, lại lôi mấy bộ quần áo sơ vin ra xếp đi xếp lại. Phần tôi, ngồi một chỗ không yên, bước ra đứng giữa khung cửa, đưa mắt nh́n vài ba anh em binh sĩ ngồi bệt giữa sân cờ tṛ chuyện. |
| Thượng Viện California Dành Một Phút Mặc Niệm Cho 30 Tháng Tư 4/28/2007 Tin Sacramento - Thượng Viện tiểu bang California trong phiên họp ngày hôm qua đă dành một phút mặc niệm cho ngày 30 Tháng Tư, qua lời yêu cầu của Nghị Sĩ Lou Correa, theo tin từ văn pḥng nghị sĩ này. Đúng một tuần sau khi Nghị Sĩ Lou Correa cùng một số đồng viện nỗ lực ngăn chặn sự hiện diện của phái đoàn Cộng Sản Việt Nam cũng như sự treo cờ đỏ sao vàng tại Thượng Viện California, vào sáng ngày hôm qua ông Lou Correa đă long trọng kêu gọi một phút mặc niệm để tưởng nhớ đến ngày 30 Tháng Tư Đen trên diễn đàn của Thượng Viện tiểu bang California. Phát biểu trước diễn đàn Thượng Viện, Nghị Sĩ Lou Correa nói ngày 30 Tháng Tư là ngày tưởng niệm Tháng Tư Đen vào năm 1975. Ông xin phép yêu cầu một phút mặc niệm để ghi nhớ sự hy sinh v́ lư tưởng tự do của hơn 58,000 chiến sĩ Hoa Kỳ cũng như 2 triệu người Việt Nam. Ngày 30 Tháng Tư cũng đánh dấu sự ra đi của hằng trăm ngàn người Việt Nam tỵ nạn. Nhiều người Việt Nam đă chọn tiểu bang California là quê hương thứ hai. Ông cho biết ông rất vinh dự được đại diện và phục vụ cho cộng đồng Việt hải ngoại lớn nhất tại Hoa Kỳ ở nơi được gọi là Little Saigon. Sau hơn 30 năm, cuộc tranh đấu cho tự do vẫn c̣n tiếp tục. Để vinh danh và ghi ơn các chiến sĩ Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Ḥa, và người Việt Nam, ông xin yêu cầu một phút mặc niệm. Chủ Tịch Thượng Viện California Don Perata, người chủ tọa buổi họp, đă thỏa thuận lời yêu của Thượng Nghị Sĩ Lou Correa, và đồng ư ngày 30 Tháng Tư là thời điểm tốt để vinh danh tập thể các chiến sĩ Việt Mỹ và sự hy sinh anh hùng của họ. Đây là lần đầu tiên Thượng Viện California dành một phút mặt niệm cho ngày 30 Tháng Tư. Trước đây, vào năm 2003, Hạ Viện California cũng long trọng dành một phút mặc niệm ngày 30 Tháng Tư với sự yêu cầu của ông Lou Correa khi ông phục vụ trong chức vụ dân biểu tiểu bang. Năm nay, Nghị Sĩ Lou Correa đă yêu cầu Thượng Viện tưởng niệm 30 Tháng Tư Đen trước ngày 30 Tháng Tư v́ Thượng Viện sẽ không có phiên họp chính thức vào ngày đó. |
| Trong đàn áp mù quáng : Ngôi sao Thanh Thủy thêm chói sáng Một chiến dịch đàn áp mù quáng và thô bạo đang diễn ra trong cả nước Việt nam. Một cuộc truy lùng các chiến sỹ dân chủ và nhân quyền rộng khắp. Có thể nói đây là cuộc chiến tranh một phía, một bên là chính quyền độc đảng dùng cảnh sát, công an, vũ khí, luật pháp được họ giải thích tùy tiện, ṭa án do họ giật dây, báo chí do họ nắm chặt – nghĩa là những công cụ đen tối chà đạp luật pháp của chính họ - , c̣n một bên là các chiến sỹ dân chủ và nhân quyền tay không , thông minh và dũng cảm, chủ trương không bạo động, vững tin vào lẽ phải và chính nghĩa. Lực lượng của 2 bên khác nhau, trái ngược hẳn nhau về mọi mặt. Một bên đông đảo, dựa vào quyền lực vũ phu, ỷ vào thế cầm quyền, bất chấp lẽ phải và đạo lư, bịt chặt mồm bị cáo, bịt mồm xă hội, tổ chức những phiên ṭa kiểu phát xít và thời trung cổ, không có công chúng, không có luật sư, không có phản biện, ngang nhiên biểu diễn luật rừng ngay sau khi được hội nhập quốc tế, giữa thế giới văn minh. Bên kia là các chiến sỹ yêu nước, thương dân, đ̣i dân chủ và nhân quyền cho nhân dân, cho đồng bào ḿnh, cho dân oan bị bọn tham quan ô lại ức hiếp, có ư chí bất khuất, có lập luận vững vàng, được đồng bào thương mến và khâm phục, được cả loài người tiến bộ quư mến và cổ vũ. Nhà giáo – nhà báo – nhà văn Trần Khải Thanh Thủy vừa bị công an của chế độ bắt trưa ngày 21 tháng 4 , bị c̣ng tay đưa về trại giam, mặc dù cô bị bệnh, ho ra máu, đang được chữa trị bệnh lao phổi. Lẽ ra, trong một xă hội dân chủ có luật pháp nghiêm minh, cô giáo - nhà văn Thanh Thủy đă có thể kiện nhiều quan chức và nhân viên chính quyền đă liên tiếp phạm luật trong hành xử với cô : vu cáo, xâm phạm thô bạo thân thể, nhà cửa, gây tai nạn tông xe, xông vào nhà cô gây hỗn loạn và đấu tố, tước đoạt nhiều tài sản có giá trị, đặc biệt là hàng trăm bài thơ và hàng chục bản thảo văn chương quư giá. Họ đă hàng mấy chục lần dùng luật rừng như thế với một nữ văn nhân liễu yếu đào tơ , một tâm hồn nhạy cảm với công bằng xă hội, từng nhiều lần nhỏ lệ trước thảm cảnh bà con dân oan hị hà hiếp bởi cường quyền; họ từng thô bạo xấn xổ xô đẩy thân thể, khám xét áo quần trên người cô, lăng mạ, hành hạ cả chồng cô và cháu Thủy Tiên con gái cô, nay họ c̣n lao thêm vào tội lỗi là bắt giam cô và c̣n đưa ra những bài báo đầy vu cáo dọn đường đưa cô ra ṭa để kết tội kiểu phát xít, như họ vừa làm với Linh mục Nguyễn Văn Lư. Những người cầm quyền cần nhớ rằng luật pháp hiện hành có ghi rơ việc đền bù danh dự và vật chất cho những người bị xét xử sai lầm. Hăy nhớ kinh nghiệm ở Balan, Bungari, Liên xô cũ, sau khi chế độ độc đảng sụp đổ, một số vụ án đă được xem xét lại và đă có cuộc đổi ngôi ngoạn mục, kẻ cầm quyền cũ ra trước vành móng ngựa và các bị cáo cũ trở thành nguyên đơn. Chính quyền độc đảng quen thói hà hiếp người ngay thật hăy nhớ rằng dù họ c̣n nắm chính quyền nhưng thời thế hiện tại tuyệt đối không cho phép họ ngang nhiên thục hiện luật rừng xanh như xưa được. Việc đối xử độc ác, có thể nói là hèn hạ với nhà báo – nhà văn Thanh Thủy trên thực tế chỉ làm cho ngôi sao này thêm rực sáng, tấm gương dấn thân này thêm hấp dẫn gấp bội đối với phụ nữ và trí thức cả nước ta. Chính quyền đàn áp đă tuyên truyền đắc lực nhất - và không công, cho các chiến sỹ dân chủ : Nguyễn văn Lư, Nguyễn văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Lê Quốc Quân, Bùi Kim Thành… và nay là ngôi sao sáng Thanh Thủy. Vài tờ báo tay chân dơ dáy của chế độ lu loa về tội lỗi ‘’tuyên truyền bôi xấu chế độ ‘’ và ‘’kêu gọi nhân dân tổng nổi dậy‘’ của cô Thanh Thủy trong khi đông đảo bà con ta đều biết rơ chế độ này tự bản chất đàn áp độc đoán của nó đă xấu xa v́ tham nhũng vô độ, quan liêu nặng nề đến đâu và nỗi uất ức căm hờn đối với chế độ đă chất chứa chẳng cần ai kêu gọi. Bà con ta thương yêu quư mến cô Thanh Thủy chính là do tấm ḷng nhân ái nhạy cảm với mọi oan ức bất công, nghị lực kiên cường đương đầu với mọi đàn áp đe dọa của bộ máy bạo lực vũ phu, c̣n ở nét hỏm hỉnh lạc quan đặc sắc và tài ứng đối thông minh sâu sắc tính văn học của cô. Trong thời thông tin nhanh nhậy toàn cầu, việc làm mù quáng vũ phu chỉ làm cho chính quyền cảnh sát bị mất to thể diện, mất hết niềm tin, mất đứt thế pháp lư trong bang giao kinh tế quốc tế ; và như vậy họ đă làm thiệt hại cho đất nước, cho đồng bào ta không sao kể xiết. Không có ǵ dại dột hơn. Một phong trào quy mô toàn thế giới đang diễn ra nhanh và mạnh để đáp lại cuộc đàn áp lớn của chính quyền cảnh sát. Thượng nghị sỹ Mác Kên tùng ủng hộ mạnh mẽ bang giao và giao thương Mỹ - Việt đă lên tiếng . Tổ chức Phóng viên không biên giới đă vinh danh và đứng ra bảo vệ nhà báo mạng (cybernaute) Trần Khải Thanh Thủy. Hội nghị nhân quyền quốc tế ở Bồ Đào Nha vừa ra nghị quyết lên án mạnh mẽ chính quyền Hànội trong đợt khủng bố hiện tại. Một ủy ban Bảo vệ Trần Khải Thanh Thủy ở hải ngoại được thành lập. Nhiều luật gia dân chủ quốc tế t́nh nguyện sẵn sàng vào Việt nam để bảo vệ cô. Ông Nguyễn Minh Triết, ông Nguyễn Tấn Dũng, bộ trưởng ngoại giao, bộ trưởng tư pháp Hà nội không trốn tránh được yêu cầu sớm mở phiên ṭa để xét xử cô Trần Khải Thanh Thủy, hoặc là theo đúng như cách đă xử ‘’bịt miệng’’ cha Lư, hoặc là theo đúng luật, có luật sư, có tranh biện, công khai, có thân nhân, có giới báo chí trong nước và báo chí quốc tế tham dự, như ở bất cứ một nước b́nh thường nào. Sự lựa chọn nào cũng khó, cũng gay. Không lẽ ỳ ra, ù lỳ, buông trôi. Trước mắt, cô Thanh Thủy đang lâm bệnh, ho ra máu, một yêu cầu tối thiểu khẩn cấp là cô cần chữa bệnh. Và ḷng yêu thương, chia sẻ, đùm bọc của bà con ta trong và ngoài nước xin hăy dành cho cháu Đỗ Thủy Tiên, dù chỉ một lời an ủi; chưa đến tuổi trưởng thành, cháu Thủy Tiên đă phải nếm đủ mùi cay đắng từ một chính quyền cảnh sát - độc đảng chỉ đổi mới ở đầu lưỡi sau khi nếm được hương vị đồng đôla . Bùi Tín Paris 26-4-2007. |
| LIÊN MINH DÂN CHỦ NHÂN QUYỀN VIỆT NAM Alliance for Democracy and Human Rights for Viet Nam vplmdcnqvn@gmail.com Thông báo về t́nh trạng hiện nay của anh Đỗ Nam Hải Như chúng ta đă biết, ngày 16-3-2007 vừa qua, công an CSVN đă dùng áp lực t́nh cảm gia đ́nh để ép anh Đỗ Nam Hải từ bỏ cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ mà anh đang dấn thân theo đuổi, đồng thời ép anh rút tên ra khỏi Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam mà anh đang là một thành viên Ban Điều Hành. Chúng ta cũng biết gia đ́nh anh Đỗ Nam Hải là một gia đ́nh có “truyền thống cách mạng” (nói theo từ của CSVN): cha mẹ anh là đảng viên CSVN kỳ cựu nên ít nhiều ǵ cũng hănh diện v́ quá khứ đóng góp cho “cuộc cách mạng đánh Pháp đánh Mỹ cứu nước” của đảng CSVN; các anh chị em của anh cũng ít nhiều chịu ảnh hưởng cha mẹ. V́ thế, khi anh Hải lên tiếng đấu tranh cho tự do dân chủ đa nguyên, tức đi ngược lại tính cách truyền thống của gia đ́nh, anh đă phải chịu đựng rất nhiều sự phản đối cũng như áp lực từ phía gia đ́nh. Thêm vào đó, công an CSVN c̣n t́m đủ mọi cách tiếp xúc với cha mẹ anh để vừa động viên hai ông bà ngăn cản cuộc tranh đấu của anh Hải, vừa đe dọa hai ông bà rằng họ sẽ bắt bỏ tù anh nếu anh cứ tiếp tục đấu tranh như hiện nay. V́ thế, trong suốt cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ, anh Hải luôn luôn phải đấu tranh với sự cản trở của chính cha mẹ và anh chị em ḿnh. Thỉnh thoảng anh tâm sự: đấu tranh với gia đ́nh nhiều khi c̣n mệt mỏi và gay go hơn cả đấu tranh với công an nữa. Nếu không giải quyết một lần cho xong chuyện gia đ́nh, cứ tiếp tục như thế này măi, th́ đường chiến đấu c̣n dài, anh sẽ phải tốn phí rất nhiều năng lực vô ích vào việc đấu tranh với gia đ́nh. V́ thế, ngày 16-3-2007, khi CA dùng gia đ́nh anh để áp lực anh từ bỏ cuộc tranh đấu, anh đă h́nh dung ra đây là cơ hội tốt để anh giải quyết chuyện gia đ́nh một lần cho xong; đành rằng anh phải hy sinh uy tín của anh trước những đồng đội đang tin tưởng hết lw nơi anh và cùng chiến đấu với anh trên cùng trận tuyến, đồng thời làm cho nhiều người thất vọng về anh. Kết quả ra sao? Anh cho biết: sau hơn một tháng qua, kể từ 16-3-2007, ngày anh bị công an dùng áp lực t́nh cảm gia đ́nh đối với anh, gia đ́nh anh đă thấy rơ bộ mặt xảo trá và phản bội của công an CSVN khi thấy họ không thực hiện những ǵ họ đă cùng cam kết với anh hôm ấy. Nhờ đó, cha mẹ và anh chị em của anh đă hiểu rơ bộ mặt thật của CSVN. Anh hy vọng nhờ đó, gia đ́nh anh sẽ: nếu không tích cực ủng hộ cuộc tranh đấu của anh th́ ít ra cũng không cản trở anh như trước đây. Và đây là cách hành xử của công an CSVN sau ngày 16-3: Nói chung, họ đă không thực hiện những điều họ đă cùng anh cam kết. Khi chấp nhận rút tên ra khỏi Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam và từ bỏ cuộc tranh đấu này, anh yêu cầu họ những điều sau đây như là những điều kiện để anh thực hiện điều cam kết: − Trả lại những máy vi tính đă tịch thu của anh để anh có phương tiện làm việc, − Không được cho công an ch́m theo dơi anh suốt ngày như trước đây, − Không được phiền nhiễu anh bằng cách mời đi “làm việc” với công an, để anh c̣n th́ giờ làm ăn sinh sống. − Không được phiền nhiễu hay áp lực cha mẹ và gia đ́nh anh. Nhưng kể từ 16-3-2007 tới nay, công an CSVN đă không đếm xỉa ǵ đến những điều ấy. − Họ đă không trả lại anh những máy vi tính đă tịch thu. − Họ vẫn cho công an ch́m tiếp tục theo dơi anh suốt ngày, bất kể anh đi đâu... − Họ vẫn tiếp tục sách nhiễu anh bằng cách mời đi làm việc rất nhiều lần, nếu không ở CA Phú Nhuận, th́ ở số 4 Phan Đăng Lưu, B́nh Thạnh. − Họ vẫn cho người đến gặp cha mẹ anh để tác động hai ông bà trong những việc liên quan đến anh. V́ thế, ngày 26-3-2007 vừa qua, anh đă viết một lá thư cho bộ công an Sàig̣n đề nghị họ: − Chấm dứt ngay những hành động vi phạm nhân quyền ấy đối với anh, − Tôn trọng quyền tự do đi lại của anh, − Trả lại cho anh tất cả những tài sản đă tịch thu trước đây, Nếu không th́ tất cả những ǵ anh đă cam kết ngày 16-3, khi công an dùng gia đ́nh anh để áp lực anh, đều không c̣n giá trị nữa; và anh sẽ lại tiếp tục đấu tranh cho tự do dân chủ và trở lại với Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam 2006 của anh. Từ ngày 16-3 đến nay (27-4-2007), anh đă bị công an CSVN mời làm việc hàng chục lần. Do đó, anh quyết định tuần tới, tức kể từ đầu tháng 5, anh sẽ không chịu đi làm việc nữa, dù có giấy mời hay giấy triệu tập. Nếu công an dùng áp lực buộc anh phải đi “làm việc”, th́ anh sẽ dùng chính sách “bốn không” với họ, là không nói, không viết, không kư, không ăn. Sở dĩ cho tới nay anh phải nhượng bộ họ mà chấp nhận đi làm việc như thế không phải là anh chấp nhận đầu hàng hay đầu thú với họ, v́ anh chưa hề khai báo với họ bất lợi điều ǵ cho ai, cũng không hề làm điều ǵ có hại cho công cuộc tranh đấu chung, mà chỉ là để chứng minh cho cha mẹ và gia đ́nh anh thấy CSVN không có thiện chí. Hy vọng gia đ́nh anh sẽ hiểu và không cản trở anh tranh đấu nữa dù có bị áp lực đê hèn của công an CSVN. Do đó, việc anh trở lại tranh đấu − nghĩa là lời cam kết của anh không c̣n hiệu lực buộc anh phải giữ nữa − là do công an CSVN gây ra chứ không phải do anh. Khi thấy anh có vẻ muốn trở lại với cuộc tranh đấu, một trung tá công an vốn thường xuyên “làm việc” với anh đă lên tiếng đe dọa anh đại khái như sau: “V́ anh đă cam kết với chúng tôi (tức công an) không tranh đấu nữa và rút tên ra khỏi Liên Minh, nên những người Việt hải ngoại chống cộng cách cực đoan sẽ thù ghét anh. Do đó, họ có thể hại anh khi anh đi ngoài đường”. Nghe vậy, anh Hải nhận ra ngay ư đồ của họ là họ có thể làm hại anh rồi vu khống hành vi đê tiện ấy cho người Việt hải ngoại. Theo anh, chẳng người Việt hải ngoại nào, dù chống cộng cực đoan tới đâu, cũng chẳng bao giờ thù ghét anh đến mức độ muốn hại anh caa. Chỉ có những người cộng sản muốn tiêu diệt tiếng nói đấu tranh trong nước mới có ư muốn ấy mà thôi. Do đó, anh nghĩ họ có thể dàn cảnh một tṛ như thế để hăm hại anh, điều này hoàn toàn nằm trong khả năng của họ và quá khứ cho thấy những chuyện tương tự như thế đă từng xảy ra trong chế độ cộng sản. Anh báo trước cho chúng tôi biết điều ấy để cảnh giác và đề pḥng. V́ thấy sự việc này có thể xảy ra, nên chúng tôi xin thông báo điều này đến với các cộng đồng người Việt hải ngoại, nhất là những tổ chức đấu tranh của người Việt hải ngoại để có biện pháp thích ứng và đối phó nếu sự việc bất hạnh ấy xảy ra. Trân trọng kính chào. Việt Nam, ngày 27 tháng 4 năm 2007. I. Ban Cố vấn : 1 - Cựu Sĩ quan Phạm Quế Dương, Hà Nội. 2 - Linh mục Nguyễn Hữu Giải, Thừa Thiên-Huế. 3 – Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, Hà Nội. 4 - Cựu Chủ tịch Tổng Công đoàn Nguyễn Hộ, Sài G̣n. 5 - Hội trưởng Lê Quang Liêm, Trung Ương GHPGHH TT, Sài G̣n. 6 - Linh mục Phan Văn Lợi, Huế (Cố vấn thường trực). 7 - Linh mục Nguyễn Văn Lư, Huế. 8 - Mục sư Ngô Hoài Nở, Sài G̣n. 9 - Mục sư Nguyễn Hồng Quang, Sài G̣n (Cố vấn thường trực). 10 - Cựu sĩ quan Vũ Cao Quận, Hải Pḥng. 11 - Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Chủ Tịch Cao Trào Nhân Bản Việt Nam, Sài G̣n. 12 - Cư sĩ PGHH Lê Văn Sóc, Vĩnh Long. 13 - Linh mục Chân Tín, Sài G̣n. 14 - Nhà văn Hoàng Tiến, Hà Nội. II. Ban Điều hành : 1 - Giáo sư Nguyễn Chính Kết, Sài G̣n. 2 - Cựu Sĩ quan Trần Anh Kim, Thái B́nh. 3- Ông Nguyễn B́nh – Hoa Kỳ |
| vplmdcnqvn@gmail.com Thông báo về t́nh trạng hiện nay của anh Đỗ Nam Hải Như chúng ta đă biết, ngày 16-3-2007 vừa qua, công an CSVN đă dùng áp lực t́nh cảm gia đ́nh để ép anh Đỗ Nam Hải từ bỏ cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ mà anh đang dấn thân theo đuổi, đồng thời ép anh rút tên ra khỏi Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam mà anh đang là một thành viên Ban Điều Hành. Chúng ta cũng biết gia đ́nh anh Đỗ Nam Hải là một gia đ́nh có “truyền thống cách mạng” (nói theo từ của CSVN): cha mẹ anh là đảng viên CSVN kỳ cựu nên ít nhiều ǵ cũng hănh diện v́ quá khứ đóng góp cho “cuộc cách mạng đánh Pháp đánh Mỹ cứu nước” của đảng CSVN; các anh chị em của anh cũng ít nhiều chịu ảnh hưởng cha mẹ. V́ thế, khi anh Hải lên tiếng đấu tranh cho tự do dân chủ đa nguyên, tức đi ngược lại tính cách truyền thống của gia đ́nh, anh đă phải chịu đựng rất nhiều sự phản đối cũng như áp lực từ phía gia đ́nh. Thêm vào đó, công an CSVN c̣n t́m đủ mọi cách tiếp xúc với cha mẹ anh để vừa động viên hai ông bà ngăn cản cuộc tranh đấu của anh Hải, vừa đe dọa hai ông bà rằng họ sẽ bắt bỏ tù anh nếu anh cứ tiếp tục đấu tranh như hiện nay. V́ thế, trong suốt cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ, anh Hải luôn luôn phải đấu tranh với sự cản trở của chính cha mẹ và anh chị em ḿnh. Thỉnh thoảng anh tâm sự: đấu tranh với gia đ́nh nhiều khi c̣n mệt mỏi và gay go hơn cả đấu tranh với công an nữa. Nếu không giải quyết một lần cho xong chuyện gia đ́nh, cứ tiếp tục như thế này măi, th́ đường chiến đấu c̣n dài, anh sẽ phải tốn phí rất nhiều năng lực vô ích vào việc đấu tranh với gia đ́nh. V́ thế, ngày 16-3-2007, khi CA dùng gia đ́nh anh để áp lực anh từ bỏ cuộc tranh đấu, anh đă h́nh dung ra đây là cơ hội tốt để anh giải quyết chuyện gia đ́nh một lần cho xong; đành rằng anh phải hy sinh uy tín của anh trước những đồng đội đang tin tưởng hết lw nơi anh và cùng chiến đấu với anh trên cùng trận tuyến, đồng thời làm cho nhiều người thất vọng về anh. Kết quả ra sao? Anh cho biết: sau hơn một tháng qua, kể từ 16-3-2007, ngày anh bị công an dùng áp lực t́nh cảm gia đ́nh đối với anh, gia đ́nh anh đă thấy rơ bộ mặt xảo trá và phản bội của công an CSVN khi thấy họ không thực hiện những ǵ họ đă cùng cam kết với anh hôm ấy. Nhờ đó, cha mẹ và anh chị em của anh đă hiểu rơ bộ mặt thật của CSVN. Anh hy vọng nhờ đó, gia đ́nh anh sẽ: nếu không tích cực ủng hộ cuộc tranh đấu của anh th́ ít ra cũng không cản trở anh như trước đây. Và đây là cách hành xử của công an CSVN sau ngày 16-3: Nói chung, họ đă không thực hiện những điều họ đă cùng anh cam kết. Khi chấp nhận rút tên ra khỏi Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam và từ bỏ cuộc tranh đấu này, anh yêu cầu họ những điều sau đây như là những điều kiện để anh thực hiện điều cam kết: − Trả lại những máy vi tính đă tịch thu của anh để anh có phương tiện làm việc, − Không được cho công an ch́m theo dơi anh suốt ngày như trước đây, − Không được phiền nhiễu anh bằng cách mời đi “làm việc” với công an, để anh c̣n th́ giờ làm ăn sinh sống. − Không được phiền nhiễu hay áp lực cha mẹ và gia đ́nh anh. Nhưng kể từ 16-3-2007 tới nay, công an CSVN đă không đếm xỉa ǵ đến những điều ấy. − Họ đă không trả lại anh những máy vi tính đă tịch thu. − Họ vẫn cho công an ch́m tiếp tục theo dơi anh suốt ngày, bất kể anh đi đâu... − Họ vẫn tiếp tục sách nhiễu anh bằng cách mời đi làm việc rất nhiều lần, nếu không ở CA Phú Nhuận, th́ ở số 4 Phan Đăng Lưu, B́nh Thạnh. − Họ vẫn cho người đến gặp cha mẹ anh để tác động hai ông bà trong những việc liên quan đến anh. V́ thế, ngày 26-3-2007 vừa qua, anh đă viết một lá thư cho bộ công an Sàig̣n đề nghị họ: − Chấm dứt ngay những hành động vi phạm nhân quyền ấy đối với anh, − Tôn trọng quyền tự do đi lại của anh, − Trả lại cho anh tất cả những tài sản đă tịch thu trước đây, Nếu không th́ tất cả những ǵ anh đă cam kết ngày 16-3, khi công an dùng gia đ́nh anh để áp lực anh, đều không c̣n giá trị nữa; và anh sẽ lại tiếp tục đấu tranh cho tự do dân chủ và trở lại với Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam 2006 của anh. Từ ngày 16-3 đến nay (27-4-2007), anh đă bị công an CSVN mời làm việc hàng chục lần. Do đó, anh quyết định tuần tới, tức kể từ đầu tháng 5, anh sẽ không chịu đi làm việc nữa, dù có giấy mời hay giấy triệu tập. Nếu công an dùng áp lực buộc anh phải đi “làm việc”, th́ anh sẽ dùng chính sách “bốn không” với họ, là không nói, không viết, không kư, không ăn. Sở dĩ cho tới nay anh phải nhượng bộ họ mà chấp nhận đi làm việc như thế không phải là anh chấp nhận đầu hàng hay đầu thú với họ, v́ anh chưa hề khai báo với họ bất lợi điều ǵ cho ai, cũng không hề làm điều ǵ có hại cho công cuộc tranh đấu chung, mà chỉ là để chứng minh cho cha mẹ và gia đ́nh anh thấy CSVN không có thiện chí. Hy vọng gia đ́nh anh sẽ hiểu và không cản trở anh tranh đấu nữa dù có bị áp lực đê hèn của công an CSVN. Do đó, việc anh trở lại tranh đấu − nghĩa là lời cam kết của anh không c̣n hiệu lực buộc anh phải giữ nữa − là do công an CSVN gây ra chứ không phải do anh. Khi thấy anh có vẻ muốn trở lại với cuộc tranh đấu, một trung tá công an vốn thường xuyên “làm việc” với anh đă lên tiếng đe dọa anh đại khái như sau: “V́ anh đă cam kết với chúng tôi (tức công an) không tranh đấu nữa và rút tên ra khỏi Liên Minh, nên những người Việt hải ngoại chống cộng cách cực đoan sẽ thù ghét anh. Do đó, họ có thể hại anh khi anh đi ngoài đường”. Nghe vậy, anh Hải nhận ra ngay ư đồ của họ là họ có thể làm hại anh rồi vu khống hành vi đê tiện ấy cho người Việt hải ngoại. Theo anh, chẳng người Việt hải ngoại nào, dù chống cộng cực đoan tới đâu, cũng chẳng bao giờ thù ghét anh đến mức độ muốn hại anh caa. Chỉ có những người cộng sản muốn tiêu diệt tiếng nói đấu tranh trong nước mới có ư muốn ấy mà thôi. Do đó, anh nghĩ họ có thể dàn cảnh một tṛ như thế để hăm hại anh, điều này hoàn toàn nằm trong khả năng của họ và quá khứ cho thấy những chuyện tương tự như thế đă từng xảy ra trong chế độ cộng sản. Anh báo trước cho chúng tôi biết điều ấy để cảnh giác và đề pḥng. V́ thấy sự việc này có thể xảy ra, nên chúng tôi xin thông báo điều này đến với các cộng đồng người Việt hải ngoại, nhất là những tổ chức đấu tranh của người Việt hải ngoại để có biện pháp thích ứng và đối phó nếu sự việc bất hạnh ấy xảy ra. Trân trọng kính chào. Việt Nam, ngày 27 tháng 4 năm 2007. I. Ban Cố vấn : 1 - Cựu Sĩ quan Phạm Quế Dương, Hà Nội. 2 - Linh mục Nguyễn Hữu Giải, Thừa Thiên-Huế. 3 – Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, Hà Nội. 4 - Cựu Chủ tịch Tổng Công đoàn Nguyễn Hộ, Sài G̣n. 5 - Hội trưởng Lê Quang Liêm, Trung Ương GHPGHH TT, Sài G̣n. 6 - Linh mục Phan Văn Lợi, Huế (Cố vấn thường trực). 7 - Linh mục Nguyễn Văn Lư, Huế. 8 - Mục sư Ngô Hoài Nở, Sài G̣n. 9 - Mục sư Nguyễn Hồng Quang, Sài G̣n (Cố vấn thường trực). 10 - Cựu sĩ quan Vũ Cao Quận, Hải Pḥng. 11 - Bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Chủ Tịch Cao Trào Nhân Bản Việt Nam, Sài G̣n. 12 - Cư sĩ PGHH Lê Văn Sóc, Vĩnh Long. 13 - Linh mục Chân Tín, Sài G̣n. 14 - Nhà văn Hoàng Tiến, Hà Nội. II. Ban Điều hành : 1 - Giáo sư Nguyễn Chính Kết, Sài G̣n. 2 - Cựu Sĩ quan Trần Anh Kim, Thái B́nh. 3- Ông Nguyễn B́nh – Hoa Kỳ |
| Thư gởi Ông Vơ Văn Kiệt cựu Thủ Tướng CSVN. Thưa Ông Vơ Văn Kiệt, T́nh cờ được nghe ông phát biểu ư kiến trên diễn đàn đài phát thanh BBC. Tôi không hiểu ông muốn nói đùa, nói chơi hay nói giởn theo kiểu văn chương huề vốn, văn chương dân gian hoặc là lối văn chương của một đảng viên cộng sản ? Ông cho rằng...người cộng sản có thể khép lại quá khứ và không hận thù những kẻ cựu thù củ như thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tại sao không thể làm việc đó với phía bên kia (tức phía VNCH) Thưa ông Kiệt, ông có thể nói quên hận thù với Pháp và Mỹ th́ có thể đúng theo quan niệm của ông, nhưng với VNCH ông không thể ghép luôn với hai kẻ thù nêu trên của đảng ông,v́ VNCH không hề gây hận thù với CSVN mà ngược lại CSVN là kẻ gây chiến và gây hận thù với đồng bào Miền Nam bằng sự xâm lược,tàn bạo, dă man, vô nhân đạo, các ông đă nhân danh đủ mọi loại..."chuyên chính vô sản" để tận t́nh chém giết và "khủng bố" chúng tôi bằng đủ mọi loại đẫm máu thảm khốc và ác liệt nhất trong lịch sử chiến tranh huynh đệ tương tàn !!! Thưa Ông Kiệt ! Nợ máu của CSVN đối với nhân dân của cả hai phía Quốc Cộng, không thể "đơn giản" tuyên bố khép lại quá khứ thế là xong.Đảng CSVN phải chính thức xin lỗi nhân dân ViệtNam, phải hoàn trả tài sản cho họ, phải đền bù thiệt hại xứng đáng cho các nạn nhân cộng sản.Ông cần suy nghỉ nhiều hơn trước khi phát biểu. Chào Ông. Văn Thanh Ḥa |
| Thư gởi Ông Vơ Văn Kiệt,cựu Thủ Tướng CSVN. Thưa Ông Vơ Văn Kiệt, T́nh cờ được nghe ông phát biểu ư kiến trên diễn đàn đài phát thanh BBC. Tôi không hiểu ông muốn nói đùa, nói chơi hay nói giởn theo kiểu văn chương huề vốn, văn chương dân gian hoặc là lối văn chương của một đảng viên cộng sản ? Ông cho rằng...người cộng sản có thể khép lại quá khứ và không hận thù những kẻ cựu thù củ như thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tại sao không thể làm việc đó với phía bên kia (tức phía VNCH) Thưa ông Kiệt, ông có thể nói quên hận thù với Pháp và Mỹ th́ có thể đúng theo quan niệm của ông, nhưng với VNCH ông không thể ghép luôn với hai kẻ thù nêu trên của đảng ông,v́ VNCH không hề gây hận thù với CSVN mà ngược lại CSVN là kẻ gây chiến và gây hận thù với đồng bào Miền Nam bằng sự xâm lược,tàn bạo, dă man, vô nhân đạo, các ông đă nhân danh đủ mọi loại..."chuyên chính vô sản" để tận t́nh chém giết và "khủng bố" chúng tôi bằng đủ mọi loại đẫm máu thảm khốc và ác liệt nhất trong lịch sử chiến tranh huynh đệ tương tàn !!! Thưa Ông Kiệt ! Nợ máu của CSVN đối với nhân dân của cả hai phía Quốc Cộng, không thể "đơn giản" tuyên bố khép lại quá khứ thế là xong.Đảng CSVN phải chính thức xin lỗi nhân dân ViệtNam, phải hoàn trả tài sản cho họ, phải đền bù thiệt hại xứng đáng cho các nạn nhân cộng sản.Ông cần suy nghỉ nhiều hơn trước khi phát biểu.Chào Ông. Văn Thanh Ḥa |
| Hôm nay nhân ngày 30 tháng 4 năm 2007.Kính chúc quư vị đang tranh đấu v́ tự do dân chủ và đồng bào VIỆT NAM được dồi dào sức khoẻ để trường kỳ chống cộng sản đến ngày toàn thắng. ĐẢ ĐẢO CỘNG SẢN...ĐẢ ĐẢO CỘNG SẢN...ĐẢ ĐẢO CỘNG SẢN...ĐẢ ĐẢO...ĐẢ ĐẢO...ĐẢ ĐẢO. (B40) |
| 32 năm nh́n lại Frederick Uniforms Lữ Giang Tính đến ngày 30 tháng tư này, nóii chung người Việt đă sống trên đất Mỹ 32 năm. Nhưng từ ngày Miền Nam hợp tác với Mỹ để chống cộng sản đến nay là đă 52 năm. Ngồi đọc lại vài chục ngàn trang tài liệu về chiến tranh Việt Nam từ 1954 đến 1975 do chính phủ Hoa Kỳ giải mă, người ta khám phá ra rất nhiều bí ẩn lịch sử mà chúng ta chưa từng biết đến, kể cả vụ đảo chánh lật đổ và giết Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm năm 1963 đến vụ mất miền Nam năm 1975. Mặc dầu c̣n một số văn kiện chưa được công bố, nhưng với chừng đó tài liệu, người ta cũng có thể hiểu được người Mỹ đă đi vào cuộc chiến Việt Nam như thế nào, điều hành cuộc chiến đó ra làm sao, và tại sao họ đă quyết định số phận của miền Nam nghiệt ngă như thế, v.v... "Anh Hai Nhân Quyền"! Nếu nói vể cơ hội để biết và hiểu người Mỹ cũng như chính sách của chính quyền Mỹ, có lẽ không ai bằng người Việt trên đất Mỹ, v́ họ đă chiến đấu với người Mỹ 20 năm và đă sống trên đất Mỹ 32 năm. Thời gian 52 năm đồi với lịch sử không nghĩa lư ǵ, nhưng đối với đời người, đó là một khoảng thời gian khá dài và đủ để rút ra được nhiều bài học. Gần như người Việt nào cũng thuộc câu “Tri bỉ tri kỷ, bách chiến bách thắng”, tức biết người biết ḿnh trăm trận trăm thắng, và một số người Việt lưu vong c̣n gọi chính quyền Mỹ là “Siêu Cộng Sản”, nên chúng ta tưởng họ đă biết khá rơ người Mỹ, nhưng nh́n lại cuộc đấu tranh chống cộng của người Việt hải ngoại trong suốt 32 năm qua, chúng ta nhận thấy rất nhiều người và nhiều tổ chức chưa hiểu về người Mỹ và chính sách của Mỹ từng giai đoạn một cách chính xác. Thế giới đă đổi thay và đang tiến tới giai đoạn toàn cầu hoá, vượt qua biên giới của nước nọ nước kia, nhưng nhiều người Việt đấu tranh vẫn cứ tưởng thế giới đang ở trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Họ vẫn coi chính quyền Mỹ là Anh hai chống cộng và Anh hai nhân quyền , nên nhât định tiếp tục lội ngược ḍng. Tuần này, nhân kỷ niệm 32 năm ngày miền Nam thất thủ, chúng tôi xin ghi lại dưới đây một số sự thật lịch sử với ước mong những người đang chống cộng có thể rút ra được những bài học lịch sử. Chuyện Tổng Lănh sự Francis Trong cuốn “Can trường trong chiến bại, hành tŕnh của một thủy thủ” mà chúng tôi đă giới thiệu kỳ trước, ở Chương 26, Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại có kể lại rằng sau khi rút khỏi Đà Nẵng, ông đưa hải đội về đến Vũng Tàu rồi dùng trực thăng về tŕnh diện Đô Đốc Chung Tấn Cang và làm phúc tŕnh về cuộc hành quân vừa qua. Sau đó ông được chỉ định ra Vũng Tàu thay thế Phó Đề Đốc Vũ Đ́nh Đào đang đi chỉ huy lực lượng Hải Quân tại Phan Rang. Trong thời gian đó, một vài sự kiện lạ xẩy ra đă làm ông ngạc nhiên. Trước hết là chuyện Tổng Lănh Sự Đà Nẵng Albert Francis muốn gặp ông. Ông kể lại câu chuyện này như sau: Trước khi tôi về Sài G̣n để tŕnh diện Đô Đốc Chung Tấn Cang, ông Albert Francis, Tổng Lảnh Sự Hoa Kỳ Đà Nẵng, có đến nhà Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn tại khu sĩ quan Hải Quân nhờ Đại Tá Sơn trao lại cho tôi ba hộp thuốc Amphora, loại cho ống vố, mà ông Francis biết tôi rất thích. Ông nhắn với Đại Tá Sơn là khi tôi về Sài G̣n phải liên lạc ngay với ông. Khi tôi gọi điện thoại cho ông tại Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ th́ ông mời tôi lên văn pḥng ông nói chuyện chơi. Khi tôi tới pḥng khách Ṭa Đại Sứ th́ tôi gặp ông Lê Văn B́nh, nhân viên ṭa Tổng Lănh Sự Hoa Kỳ ở Đà Nẵng đang ngồi tại đó. Một lúc sau ông Francis ra pḥng khách gặp tôi và đưa tôi vào thang máy lên luôn tới nóc Ṭa Đại Sứ. Trên đó có một trực thăng của Air America, có phi hành đoàn ngồi chờ sẵn trong phi cơ. Tôi không hiểu chuyện ǵ hết. Ông Francis đă biết tôi thắc mắc nhưng vẫn không nói ǵ hết mà lại ra dấu hiệu cho tôi lên trực thăng. Khi chông chóng trực thăng quay, tiếng rất ồn, ông Francis xoay qua tôi từ trên ghế trực thăng nói qua máy vô tuyến của trực thăng: “Tôi muốn anh chỉ cho trực thăng biết cái trailer nào vợ con anh đang ở trong Hải Quân Công Xưởng và một chút nữa chúng ta sẽ bay ra Vũng Tàu, tôi muốn anh chỉ cho phi công từ trên nh́n xuống chỗ nào là văn pḥng làm việc của anh.” Lúc bấy giờ tôi mới hiểu ư ông Francis, một người đă đến phút chót vẫn t́m mọi cách giúp tôi. Khi trực thăng bay trên Hải Quân Công Xưởng tôi chỉ trailer vợ con tôi đang ở, ông Francis nói là tốt lắm v́ kế bên đó có sân quần vợt nên trực thăng sẽ đáp dễ dàng. Khi chúng tôi bay từ Sài G̣n ra Vũng Tàu, nh́n xuống thành phố Sài G̣n và cảnh bến tàu, và con sông Ḷng Tảo mà tôi rất quen thuộc trong thời gian phục vụ trên chiến hạm, con sông mà tôi thuộc ḷng từng khúc quanh, từng lùm cây mà tôi thường quan sát từ chiến hạm, sợ nơi địch có thể đặt súng bắn vào chiến hạm. Đất nước miền Nam sao mà quen thuộc và dễ thương! Sống hơn 40 năm trên mảnh đất mà ḿnh lớn lên, lặn lội với đời sống với binh nghiệp, để rồi đến giờ phút này trên một trực thăng Mỹ nh́n xuống, ḿnh mới thật sự thưởng thức cái đẹp của quê hương. Đến Vũng Tàu, trực thăng bay lượn trên căn cứ Hải Quân Cát Lở, tôi chỉ văn pḥng làm việc của tôi và của Phó Đề Đốc Vũ Đ́nh Đào cho phi công và ông Francis. Chiều hôm đó tôi trở ra Vũng Tàu để chỉ huy các đơn vị Vùng I Duyên Hải di tản vào Nam. Vài ngày sau tôi được tin từ Đại Tá Sơn ở Bộ Tư Lệnh Hải Quân cho biết là ông bà Francis đă được lệnh rời Việt Nam... Hai người bí mật... Ngày 26 tháng 4, tôi đến Bà Rịa mượn trực thăng của Tướng Hinh và bay ra biển để xem t́nh h́nh ngoài khơi Vũng Tàu. Phía ngoài xa khoảng 6 tới 10 hải lư th́ rất nhiều chiến hạm Mỹ sẵn sàng nhưng không nhận ai cả lên chiến hạm. Trong lănh hải th́ có một số chiến hạm Việt Nam hải hành tới lui chờ lệnh. Gần bờ hơn th́ thấy mấy trăm chiếc ghe chở đầy người những ở sát bờ và không ghe nào đi đâu cả. Một cảnh tượng hết sức cảm động cho thấy các người trên các ghe này đă sẵn sàng nhưng không muốn rời bỏ xứ sở nếu quân đội c̣n giữa được quê hương của họ, họ chờ tới phút chót khi không c̣n hy vọng ǵ nữa họ mới khởi hành. Ngày 29 tháng 4, quân đội Bắc Việt bắt đầu tấn công Vũng Tàu th́ các ghe này bắt đầu chạy ra các chiến hạm của Đệ Thất Hạm Đội Mỹ. Chiều ngày Chúa Nhật 27 tháng 4, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn 3, đi cùng Đại Tá Tạo, Tỉnh Trưởng Vũng Tàu, đến căn cứ Hải Quân Cát Lở thăm tôi. Sau đó Tướng Toàn mời tôi lên xe Jeep chính ông lái để cùng đi với ông mà ông không nói với tôi ông sẽ đi đâu. Xe chạy một lúc lâu th́ ngừng lại trước một nhà riêng sát bờ biển. Trước khi xuống xe, Tướng Toàn xoay qua tôi và nói: “Anh Thoại, tôi có hai người thân nhất của tôi, đến giờ phút này tôi chỉ nhờ anh một việc cuối cùng xin anh giúp tôi, v́ tôi và anh không biết c̣n gặp nhau nữa không. Nếu anh có phải ra đi th́ anh cho hai người này đi theo anh, tôi sẽ mang ơn anh lắm.” Giọng nói rất buồn của Tướng Toàn làm cho tôi đoán c̣ lẽ là cha mẹ của ông, v́ nếu chỉ có hai người th́ không thể là vợ con được. Ông Toàn và tôi bước vào nhà, tôi chuẩn bị tư tưởng nhưng không cách nào đoán được hai người đó là ai. Khi vào trong, nh́n ra cửa ngó ra biển có hai người mà tôi chỉ thấy từ phía sau, ngối trên ghế xếp bằng vải bố, đang nh́n ra biển. Khi nghe tiếng ông Toàn, hai người này đứng dậy quay lại phía chúng tôi, tôi bị bất ngờ v́ không đoán trước được, đó là cựu Tướng Hoàng Xuân Lăm và Chuẩn Tướng Phan Hoà Hiệp mà tôi đă từng phục vụ chung ở Quân Khu I, cả hai thuộc binh chủng thiết giáp. Ông Toàn biết tôi rất thân với Tướng Lăm và Hiệp nhưng muốn làm cho tôi bị bất ngờ. Tướng Lăm và Hiệp cùng rời Vũng Tàu với tôi trên cơ xưởng hạm Vĩnh Long trong ngày cuối cùng. Những tiếng nổ bất thường Tối đêm 28 tháng 4, 1975, tại căn cứ duyên đoàn ở Vũng Tàu, Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh, Chẩn Tướng Trần Văn Nhựt và tôi, đang bàn tính việc phối trí lực lượng và duyệt xét t́nh h́nh địa phương, th́ có một quân xa chở một sĩ quan cấp tá Không Quân vào căn cứ duyên đoàn xin gặp tôi. Vị sĩ quan không quân vào duyên đoàn lúc tôi và các tướng lănh đang ngồi ngoài sân sau căn cứ. Vị này cho biết hiện có một số trực thăng đang đậu ở phi trường Vũng Tàu, trong đó có Chuẩn Tướng Huỳnh Bà Tính, Sư Đoàn Trưởng Sư Đoàn 3 Không Quân đóng tại Biên Hoà. Vị đại diện này hỏi chúng tôi có cho phép vị Chuẩn Tướng này đến gặp được không để ông ấy tŕnh bày một sự việc quan trọng. Tôi nói với sĩ quan này là tại sao ông lại quá cẩn thận, cùng là tướng lănh với nhau sao lại có vụ xin gặp. Tôi nói với ông ta trở ra phi trường mời Chuẩn Tướng Tính và các sĩ quan trong phái đoàn cứ vào gặp chúng tôi. Độ nửa tiếng sau, một quân xa chở Chuẩn Tướng Tính vào kể chuyện xẩy ra tại căn cứ Sư Đoàn 3 Không Quân với vẻ mặt rất bi thảm. Ông không biết lệnh từ đâu mà bổng nhiên một số phi cơ phát nổ, sau đó được biết có lệnh của Saigon cho phá hủy các phi cơ của Không Quân. Chuẩn Tướng Tính phân vân không biết phải làm ǵ. Ông không muốn về tŕnh diện Bộ Tư Lệnh Không Quân khi ông không biết chắc ai ra lệnh phá nổ phi cơ thuộc Sư Đoàn của ông. Tướng Hinh, Nhật và tôi đều đồng ư Chuẩn Tướng Tính phải nói chuyện thẳng với Trung Tướng Trần Văn Minh, v́ dù sao sự thật vẫn là sự thật. Chúng tôi thuyết phục Tướng Tính một lúc lâu th́ Tướng Tính đồng ư. Tôi bắt điện thoại gọi vể Bộ Tư Lệnh Không Quân và tôi nói với Trung Tướng Trần Văn Minh, Tư Lệnh Không Quân rằng Tướng Tính hiện có mặt tại căn cứ duyên đoàn ở Vũng Tàu có chuyện cần nói với ông. Tướng Minh hết sức ngạc nhiên v́ sao Tướng Tính lại đang ở Vũng Tàu. Tôi trao điện thoại cho Tướng Tính nói chuyện với Tướng Minh. Hai người nói chuyện rất lâu. Theo câu chuyện Tướng Tính kể và những câu trả lời của ông này với Tướng Minh, th́ tôi có thể đoán là lệnh phá hủy phi cơ không phải từ Tướng Minh. Hai người đang nói chuyện th́ tôi nghe Tướng Tính nói: “Thôi, chào Trung Tướng!” Tướng Tính quay lại chúng tôi và nói Trung Tướng Minh phải ngưng nói chuyện v́ dịch bắt đầu pháo vào Tân Sơn Nhứt. Ra khơi lần cuối Sáng hôm sau, địch pháo kích và tấn công vào thị xă Vũng Tàu. Đại Tá Nguyễn Công Hội, vị Tư Lệnh Phó của tôi, từ chiến hạm ngoài khơi, thi hành trách vụ cuối cùng của đời hải nghiệp của ông là chỉ thị một khinh tốc đỉnh PCF (Swift) vào một cái ponton (cầu nổi nhỏ của hăng RMK) neo ở giữa sông mà địch đang pháo vào bằng súng cối 60 ly từ bên kia sông, trên ponton đó chỉ có hai quân nhân, tôi và tướng Trần Văn Nhựt, một “cọp biển” và là “người hùng An Lộc”, để rước và đưa chúng tôi lên chiến hạm Vĩnh Long HQ 802 để ra khơi lần cuối của đời binh nghiệp của chúng tôi. Chiến hạm Vĩnh Long, HQ-802 Nguồn/Ảnh: Cyberus.ca Ngày 30 tháng 4, 1975, sau khi nghe đài phát thanh truyền lịnh của Tổng Thống Dương Văn Minh ra lệnh cho Quân Đội bỏ súng, Đô Đốc Chung Tấn Cang, Tư Lệnh Hải Quân cuối cùng, đích thân chỉ huy Hạm Đội Việt Nam Cộng Hoà, gồm khoảng 26 chiến hạm, hải hành trực chỉ căn cứ Hải Quân Hoa Kỳ tại Subic Bay, Phi Luật Tân, trong trật tự và kỷ luật theo đúng truyền thống của quân chủng. Cũng "Anh Hai Chống Cộng" luôn! Một vài câu chuyện nhỏ được Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại kể lại một cách trung thực trong cuốn “Can trường trong chiến bại” cho chúng ta thấy Anh Hai Chống Cộng đă tiên liệu mọi thứ và mọi chuyện đă xẩy ra như Anh Hai đă tiên liệu. C̣n sau hậu trường th́ sao? Câu trả lời cũng rất đơn giản: Anh Hai Chống Cộng quyết định luôn! Trong cuốn “Decent Interval” ở trang 382 và 383, Frank Snepp, một phân tinh viên của CIA ở Saigon lúc đó, đă ghi lại những kế hoạch mà các viên chức Hoa Kỳ ở Sài G̣n phải làm sau khi Tổng Thống Thiệu phải từ chức như sau: As I was busy at my typewriter, Polgar closeted himself with other Station officers to discuss aways of assuring a rapid transfer of power. Once Thieu was out, Vice-President Tran Van Huong must be prepared to give place immediatlely to “Big” Minh, and the National Assembly must be ready to approve the move, so it all could be done “constitutionally” (Martin’s emphasis) and “espeditionouly” (the Hungarians’). Tạm dịch: Khi tôi đang bận đánh máy bản báo cáo th́ Polgar ở trong pḥng riêng với các viên chức khác của Trạm T́nh Báo (Toà Đại Sứ) thảo luận về việc chuyển giao nhanh quyền hành. Một khi Thiệu từ chức, Phó Tổng Thống Trần Văn Hương phải trao quyền hành ngay lập tức cho Minh “Lớn”, và Quốc Hội phải sẵn sàng chấp thuận sự chuyển giao, để sự chuyển giao đó có thể được thực hiện “một cách hợp hiến” (nhấn mạnh của Đại Sứ Martin) và “nhanh chóng”. Để thúc đẩy Tổng Thống Thiệu ra đi, Đại Sứ Martin đă đến gặp ông ta và nói rằng ông muốn nói chuyện với tư cách cá nhân chứ không phải thay mặt Tổng Thống hay Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và cũng không phải với tư cách Đại Sứ Hoa Kỳ (1). Ông nói rằng t́nh h́nh quân sự cực kỳ xấu và dân chúng đổ cho ông ta. Những người cùng phe với ông Thiệu hay phe đối nghịch với ông ta đều nói ông bất lực trong việc đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng hiện nay. Các tướng lănh của ông ta, mặc dầu quyết tâm chiến đấu, đều cho rằng không c̣n hy vọng ǵ nữa nếu không có một cuộc đàm phán với phía bên kia. Các tướng sẽ yêu cầu ông ra đi nếu ông không chịu từ chức lúc này. Cuộc nói chuyện kéo dài một tiếng rưỡi. Khi ông từ biệt, ông Thiệu có nói “Ông ta sẽ làm điều mà ông ta nghĩ là có lợi nhất cho đất nước.” (He would do what he though was the best for the country). 21/4/1975, Tổng thống Thiệu từ chức, vĩnh biệt Sài G̣n! Nguồn/Ảnh: © Dirck Halstead Ngày 21/4/1975, Tổng Thống Thiệu đă lên hệ thống truyền thanh và truyền h́nh trong nước tuyên bố từ chức sau khi chửi Mỹ phản bội. Sau này khi ra điều trần trước Quốc Hội, khi được hỏi rằng “Ông đă đóng vai tṛ nào trong việc thúc đẩy Tổng Thống Thiệu từ chức?”, Đại Sứ Martin trả lời rằng “Không đóng vai tṛ nào cả”. Lại hỏi rằng “Có khi nào ông Thiệu hỏi ông có nghĩ ông ta phải từ chức không?”, Đại Sứ Martin nói: “Có, ông ta có hỏi... Tôi nói với ông ta rằng đó là điều ông ta phải quyết định tùy theo quyền lợi của dân chúng Sài G̣n, của toàn thể Việt Nam, của tất cả những cái mà ông ta đă bảo vệ, và theo t́nh cảm cũng như văn hoá của người Việt Nam”! Mục đích của Hoa Kỳ khi đưa Tướng Dương Văn Minh lên thay Tướng Thiệu là để tuyên bố đầu hàng cộng sản, nhưng để tránh rối loạn có thể xẩy ra trong lúc Hoa Kỳ thực hiện cuộc di tản, họ phải giả vờ tuyên bố đưa Dương Văn Minh lên để “nói chuyện với phía bên kia”, v́ Hà Nội chỉ chịu nói chuyện với Dương Văn Minh chứ không chịu nói chuyện với Nguyễn Văn Thiệu! 30/4/1975, 11g30 Đại sứ Graham Martin trên chiến hạm USS Blue Ridge Nguồn/Ảnh: © Dirck Halstead Để làm cho việc “nói chuyện với phía bên kia” có vẻ thật, sáng 20/4/1975, Đại Sứ Martin đă đi gặp Đại Sứ Mérillon của Pháp và xin tiếp một tay. Ông nói với Đại Sứ Mérillon rằng ông được phái bộ CIA cho biết t́nh h́nh không c̣n cứu văn được. Nếu Hà Nội quyết định đánh nhanh, không giữ nổi một tháng, dù có bảo vệ tốt. Mặc dầu Hà Nội muốn chiếm Sài G̣n nguyên vẹn chứ không muốn thấy Sài G̣n đổ nát, nhưng không nên loại trừ khả năng thứ hai nếu không đi đến thương lượng. Đại Sứ Mérillon đă giúp rất tận t́nh trong vấn đề này. Frank Snepp nói rằng không ai tin đến giờ phút đó Việt Cộng c̣n chấp nhận đàm phán. Nhưng các chính khách của miền Nam, nhất là “thành phần thứ ba”, vốn có thói quen suy nghĩ và hành động theo cảm tính như đa số người Việt chống cộng ở hải ngoại ngày nay, tin rằng Dương Văn Minh có thể thương lượng được! Cái khó khăn mà người Mỹ đă gặp phải khi thi hành kế hoạch của họ sau khi Tổng Thống Thiệu từ chức là ông Trần Văn Hương không hiểu ǵ về t́nh h́nh, tưởng cờ đă đến tay nên nhất định đ̣i phất, không chịu trao quyền lại cho Tướng Dương Văn Minh. Frank Snepp mô tả như sau: Tổng Thống mới Trần Văn Hương, 71 tuổi, bị liệt, gần như mù, thề đứng vững cho đến khi “quân đội bị tiêu diệt hay là nước mất”! (tr. 396). Nhưng rồi mọi việc vẫn phải được tiến hành như kế hoạch đă dự tính. Câu chuyện này rất dài ḍng, chúng tôi chỉ xin tóm lược như sau: Do sự thúc đẩy của CIA, ngày 26/4/1975 lưỡng viện Quốc Hội họp tại Thượng Viện dưới quyền chủ toạ của ông Trần Văn Lắm, Chủ Tịch Thượng Viện, để đưa Tướng Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống. Có 136 trong số 219 nghị sỉ và dân biểu đến họp. Sau khi Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH, và Tướng Nguyễn Khắc B́nh, Tổng Giám Đốc CSQG tŕnh bày về t́nh h́nh, Quốc Hội bắt đầu thảo luận về việc trao quyền cho Tướng Dương Văn Minh. Có rất nhiều sự bất đồng về việc trao quyền, nhiều người cho rằng sự trao quyền này là bất hợp hiến. Nhưng các nhóm vận động hậu trường đă hoạt động rất ráo riết. nên cuối cùng, lúc 20 giờ 54 phút, Quốc Hội đă biểu quyết chấp thuận trao quyền cho Tướng Dương Văn Minh với số phiếu 147/151. Ngày 28/4/1975, Tướng Dương Văn Minh đă nhận chức Tổng Thống. Chiều hôm đó, lễ bàn giao được diễn ra tại Pḥng Khánh Tiết, Dinh Độc Lập, lúc 17 giờ 1 phút. Tướng Minh cử Luật sư Vũ Văn Mẫu thuộc “thành phần thứ ba” làm Thủ Tướng. Đáng lẽ ra chính phủ Vũ Văn Mẫu làm lễ ra mắt trong ngày 29/4/1975, nhưng Bác Sĩ Hồ Văn Minh coi bói và cho biết ngày 30/4/1975 ra mắt chính phủ mới tốt, nên cả Tướng Dương Văn Minh lẫn Luật sư Vũ Văn Mẫu đồng ư như vậy! (...) Tính lại, Dương Văn Minh đă làm Tổng Thống được 40 tiếng đồng hồ. Rút được bài học ǵ? Trước hết, chúng tôi cám ơn Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại đă cho chúng tôi biết thêm một số sự kiện lịch sử mà từ trước chúng tôi chưa hề biết đến. Qua một vài sự kiện lịch sử được chúng tôi ghi lại nói trên, chúng ta có thể thấy rơ kể từ khi Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm bị giết, "Anh Hai Chống Cộng" đă điều khiển hoàn toàn cuộc chiến Việt Nam và điều hành luôn cả chuyện đầu hàng! Trong 32 hai năm sống trên đất Mỹ, không ngày nào người Việt hải ngoại ngưng tranh đấu cho một nước Việt Nam tự do dân chủ. Nhưng cuộc tranh đấu này cũng lại do "Anh Hai Chống Cộng" và "Anh Hai Nhân Quyền" lănh đạo và lèo lái, c̣n chúng ta cũng chỉ “ăn theo”. Số phận của người “ăn theo” như thế nào, ai cũng thấy rơ, nhưng không ai nghĩ phải làm thế nào để có thể tiến dần tới chủ động đấu tranh. Đạo Phật có 84.000 pháp môn, hay nói đúng hơn, có vô lượng pháp để giải phóng con người khỏi kiếp luân hồi. Người Tàu có “tam thục lục kế” mà ta thường gọi là “trente six modes”, trong đó có cả kế “dĩ đào vi thượng sách”. V́ thế, chúng ta thấy tại mỗi nơi, các nước Tây Phương cũng như Giáo Hội Thiên Chúa Giáo đă áp dụng những phương pháp khác nhau, tùy theo hoàn cảnh, để loại bỏ dần các chế độ áp bức trên thế giới. Chẳng hạn như ở Zimbabwe, các nước Tây phương đă áp dụng các biện pháp rất cứng rắn để gây áp lực. Giáo Hội Thiên Chúa Giáo cũng đă chọn con đường đó. Trong Thư Chung Lễ Phục Sinh vừa qua, với tiêu đề “Thiên Chúa nghe tiếng kêu của những người bị áp bức”, các Đức Giám Mục Zimbabwe kêu gọi dân chúng ăn chay và tham gia vào buổi lễ cầu nguyện cho đất nước này cho đến khi tổng thống Robert Mugabe bị lật đổ. Sau đó, bất chấp những đe dọa của cảnh sát Zimbabwe, Đức Tổng Giám Mục Pius Ncube và các Đức Giám Mục Zimbabwe đă tổ chức hai buổi canh thức cầu nguyện cho tự do dân chủ tại Zimbabwe. Một buổi cầu nguyện thứ nhất đă được tổ chức hôm thứ năm 12/4/2007 tại Vương Cung Thánh Đường Đức Maria tại Bulawayo vào lúc 5 giờ 30 chiều. Trong buổi cầu nguyện này có sự hiện diện đông đảo của các đảng đối lập và các nhân vật chính trị tại Zimbabwe. Hai vị Giám Mục Nam Phi đă đồng tế với Đức Tổng Giám Mục Pius Ncube. Trong bài giảng, Đức Tổng Giám Mục Buti Tlagale của tổng giáo phận Johannesburg đă so sánh t́nh trạng của Zimbabwe với thời kỳ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc tại Nam Phi và nhận định rằng Giáo Hội có nghĩa vụ đấu tranh giành tự do dân chủ cho người dân được sống xứng với phẩm giá con người. Đức Giám Mục Kevin Dowling của giáo phận Rustenburg, Nam Phi, lên tiếng chỉ trích các nước phương Tây đă áp đặt cấm vận lên Zimbabwe mà không quan tâm đến t́nh trạng lầm than của dân chúng nước này. Theo ngài, lệnh cấm vận đó chưa làm sụp đổ được chế độ độc tài của Robert Mugabe th́ đă cướp đi mạng sống bao nhiêu người yếu thế và trẻ thơ tại quốc gia này. Trái lại, ở Trung Quốc, Việt Nam và Bắc Hàn, Hoa Kỳ và các nước trên thế giới lại áp dụng chiến thuật khác. Hai tay chống cộng can trường nổi tiếng ở Á Châu là Đài Loan và Nam Hàn đă đầu tư hàng trăm tỷ vào Trung Quốc. Cai thầu chống cộng của thế giới là Anh Hai Chống Cộng, cũng đă bỏ vào đó trên 150 tỷ. Hiện nay, Nam Hàn đang thương lượng để được đầu tư vào Bắc Hàn! Mặc dầu ở Zimbabwe, Giáo Hội Thiên Chúa Giáo đă cứng rắn như đă nói trên, tại Trung Quốc và Việt Nam, Giao Hội đang tiếp tục thương lượng để tái lập bang giao. Có thể dự đoán rằng, tất cả những hành động nói trên đều có tính toán với mục tiêu cuối cùng là làm biến mất dần các chế độ cộng sản c̣n lại. Nhiều người Việt hải ngoại chỉ có một chiêu duy nhất là “đánh phèng la” và lúc nào cũng nhất quyết phải “đánh cho chúng nó sặc máu”. Nhưng tiếng phèng la của người Việt chống cộng lại quá nhỏ nên lúc nào cũng phải nhờ "Anh Hai Hoa Kỳ" tiếp ứng. Nhưng "Anh Hai" lại thuộc loại “Siêu Cộng Sản” nên thỉnh thoảng chơi đá gị lái những đ̣n rất đau khiến phong trào chống cộng của người Việt lưu vong cứ bị đẩy lui dần. (...) Cho thế hệ tới Làm chính trị là tiêu liệu. Chúng tôi không làm chính trị, nhưng “viết mà chơi” cũng phải nh́n thấy được mặt sau của từng biến cố xẩy ra mới có thể viết đúng được. Từ trước đến nay, những cái nh́n của chúng tôi lúc đầu bao giờ cũng bị phản đối, có khi rất mạnh mẻ, nhưng từ vụ Trần Trường với “thùng tiền chính nghĩa”, vụ Đảng Nhân Dân Hành Động của Nguyễn Sĩ B́nh, vụ chính phủ Việt Nam Tự Do của Nguyễn Hữu Chánh, vụ Liên Đảng Cách Mạng Việt Nam của Hoàng Việt Cương, vụ Linh mục Lư, vụ Ải Nam Quan... đến vụ Đảng Dân Chủ Nhân Dân, Đảng Thăng Tiến, Đảng V́ Dân, Liên Đảng Lạc Hồng... đều xẩy ra đúng như chúng tôi đă viết. Chỉ c̣n Linh mục Phan Văn Lợi vẫn c̣n là một ẩn số cần phảỉ t́m hiểu. Khi chúng tôi đang viết bài này th́ nhận được môt bản tin của con gái bà Trần Khải Thanh Thuỷ báo tin bà đă bị Công An Hà Nội bắt vào khoảng 12 giờ trưa ngày 21/4/2007 tại Bến xe Gia Lâm. Theo bản tin của đài BBC ngày 23/4/2007, khi bị c̣ng tay bắt đi, bà cũng hô “Đả đảo Công An!” và “Đả đảo Cộng Sản!” như linh mục Lư vậy. Chuyện bà Thủy sẽ bị bắt v́ “đấu tranh loạn xà ngầu” đă được chúng tôi cảnh báo nhiều lần, nhưng bắt chước linh mục Nguyễn Văn Lư, bà cho rằng “uy tín quốc tế” của bà lúc này đă lớn rồi, Công An không dám bắt! Nhiều người đă nói với chúng tôi rằng viết ǵ th́ viết, nói ǵ th́ nói, người Việt chống cộng không bao giờ chịu thay đổi cách tranh đấu của họ để có thể đem lại những kết quả tốt hơn, v́ mục tiêu của nhiều người là “biểu dương khí thế” để kiếm danh, chứ không cần kết quả. Nhưng chúng tôi thấy nhiều người và nhiều tổ chức cũng đă tự động tách khỏi con đường ṃn chống cộng và t́m ra con đường mới để đi. Đó là một triển vọng tốt. Vả lại, chúng ta tŕnh bày sự thật lịch sử để giúp cho thế hệ tới nhận ra được con đường bảo vệ và xây dựng đất nước hơn là cho thế hệ này. - Bài do tác giả gởi đến. DCVOnline biên tập và minh hoạ. Những chỗ (...) là do DCVOnline lược bỏ. Quan diểm của tác giả không nhất thiết phản ánh quan điểm của DCVOnline. - Chú thích của DCVOnline (1): Trong điều trần trước Ủy ban Quan hệ Ngoại giao Hạ viện Mỹ ngày 27 tháng 1, 1976, Đại sứ Graham Ạ Martin cho biết đă gặp Tổng thống Thiệu sáng ngày 20 tháng 4, 1975 để cho hay về t́nh h́nh quân sự (thông tin từ Tuỳ viên Quân sự và CIA) rất bi quan. Sài G̣n sẽ chỉ cố thủ được thêm nhiều nhất là 3 tuần. Cộng sản muốn chiếm Sài G̣n nguyên vẹn nhưng cũng không loại bỏ được khả năng Sài G̣n bị san bằng nếu không có những bước tiến tới hiệp thương. Tổng thống Thiệu đặt câu hỏi về khả năng có thêm quân viện; Đại sứ Martin trả lời nếu nhờ phép mầu nào thêm quân viện được chấp thuận, ông cũng để dùng làm con bài thương lượng với cộng sản nhưng mọi việc đă quá trễ rồi và hiện h́nh quân sự là thế. Dĩ nhiên Đại sứ Martin gặp tổng thống Thiệu sáng ngày 20/4/1975 với tư cách Đại sứ Mỹ tại Sài G̣n. Chỉ ở phần "The Whole Truth", ĐS Martin cho biết ông nói chuyện với Tổng thống Thiệu như một cá nhân khi bàn về lănh đạo thế giới ở Pháp, Anh, Sô Viết, Trung Quốc có thể biết hết về "tất cả những sự thật". Bốn trang trích từ điều trần của Đại sứ Martin, 27 tháng 1, 1976 (Part III: Vietnam Evacuation: Testimony of Ambassador Graham A. Martin. Hearing of January 27, 1976.) |
| Ngày 30/4 tới rồi...Nhớ tới ngày nầy bồi hồi tâm tư.....32 năm qua rồi Ư....Sao tôi c̣n thấy bao ḍng ngụi đi...Buồn đau uất ngẹn bờ mi...Nhớ thuong chiến hữu ngụi đi không vê...Anh em ơi ! Nhớ lời thề....Nếu c̣n CS ta thề không lui...30/4 trời tối thui..Đời dân từ ấy tối thui luôn rồi...32 năm đảng đổi đời...Đuơc. ǵ ? hay mất cả đời Tự Do....Sự tự do chăng? ai cho...Cũng không ai đuợc đoạt quyền tự do.. Sự tự do trời ban cho...Do đâu Dân mất tự do bao ngày...? Tranh đấu tiếp tục dài dài...?Cho toàn dân Việt đuọc ngày tự do..Năm nầy hợp sức chung lo...Để sang năm mới tự do hoàn toàn...Đây là lẻ sống sinh tồn....Ai Oi cuong quyết diệt đoàn Cộng Nô....NÊN NHỚ LÀ = C̣n CS ta c̣n tranh đâu...CS đă gieo thù kết oán...Th́ Đảng CS phải giải tan..Oán thù kia tự nó sẻ tan...Đất nuóc Dân Tộc hết lầm than...VIET. NAM chuyển sang nền Tự Do...Mọi ngụi sẻ chung lo tái thiết...Quyết chí sẻ phát triển phú cụng...Đó là con đụng VIÊT NAM tiến...VIETVOICE Kính Bút |
| DCVOnline phỏng vấn Bùi Tín Frederick UniformsMạc Việt Hồng - thực hiện Việt Hồng: Thưa ông, nhân dịp ngày 30/4, DCVOnline chúng tôi muốn có cuộc trao đổi cùng ông với tư cách là một cựu đại tá quân đội Nhân dân Việt Nam, một nhà báo, về cuộc chiến đă qua. Xin ông cho biết, ông thường hay nghĩ về cuộc chiến 32 năm trước không và cảm giác của ông khi nghĩ về nó như thế nào? Bùi Tín (11/2006) Nguồn/Ảnh: DCVOnline Bùi Tín: (cười) Chiến tranh kết thúc đă lâu lắm rồi nhưng làm sao có thể quên được. Cảm giác của tôi là Đảng Cộng Sản (ĐCS) đă bỏ lỡ một cơ hội sau khi ḥa b́nh thống nhất đất nước, bỏ lỡ cơ hội ḥa hợp, ḥa giải dân tộc để xây dựng một đất nước giầu đẹp hơn. Đó là điều hết sức đáng tiếc v́ đó là cơ hội ngàn năm một thuở. Lúc đó chúng ta có điều kiện ḥa giải dân tộc, thống nhất anh em sau nhiều năm chia rẽ. Việt Hồng: Ông muốn nói tới những sai lầm của ĐCS sau khi thống nhất đất nước? Bùi Tín: Đúng. Nếu ĐCS khôn ngoan, thông minh, có trách nhiệm với dân tộc th́ phải tận dụng cơ hội này để thực hiện ḥa giải ḥa hợp dân tộc, thống nhất ḷng người, xóa bỏ hận thù, không được áp đặt chính sách ta – địch, chính – tà nữa... ĐCS phải chịu trách nhiệm về chính sách "học tập cải tạo” đối với những người thất trận mà thực chất là giam cầm không xét xử hàng mấy trăm ngàn người, rồi sự ra đi của cả cả triệu người Việt Nam mà hàng trăm ngàn người đă chết ch́m dưới biển cả. Càng nghĩ tôi càng lấy làm tiếc v́ ĐCS đă tin vào một học thuyết vô lư, đề cao sự đối kháng giai cấp dẫn đến chia rẽ dân tộc, chia rẽ ḷng người, chia rẽ gia đ́nh... Nếu ĐCS biết tận dụng cơ hội đó th́ đâu đến nỗi chúng ta thua kém Thái Lan, thua kém Đại Hàn... đến như vậy. Tôi mong lănh đạo sẽ tỉnh lại để "c̣n nước c̣n tát”, nh́n thẳng vào những sai lầm trước kia mà sửa chữa để hàn gắn lại đoàn kết dân tộc. Việt Hồng: Thưa ông, những người Việt Nam vượt biên vào những năm sau khi chiến tranh kết thúc, trước kia bị Đảng cho là "con cháu của tàn quân Ngụy", là đám đĩ điếm chây lười lao động, chạy theo cơm thừa, sữa cặn của Đế Quốc Mỹ... Nay, tuy ĐCS không nói lời xin lỗi nhưng trên thực tế Nghị quyết 36 đă gọi họ là những Việt Kiều, là "bộ phận không thể tách rời của dân tộc”. Sắp tới đây, có thể Đảng c̣n miễn visa, chấp nhận song tịch... Vậy có thể nói là ĐCS đang sửa chữa sai lầm? Bùi Tín: Tôi không thấy thế đâu cô à. Cách đặt vấn đề của ĐCS vẫn là kiểu trịch thượng của người chiến thắng, không thấy hết múc độ sai lầm đáng tiếc của ḿnh. Đó là thái độ ban ơn, coi người Việt Nam ở nước ngoài ở một tầm rất thấp, chủ yếu nh́n vào cái túi Đô-la của họ thôi. V́ vậy có được bao nhiêu người hưởng ứng lời kêu gọi của đảng đâu. Theo thống kê chính thức của Hà Nội, bà con Việt Kiều mới đầu tư được trên 200 triệu Đô-la. Đó là chưa kể tới hàng mấy trăm ngàn trí thức Việt Kiều mà không mấy ai hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng cả. Bởi v́, đa số bà con Việt Kiều thấy không chấp nhận được nghị quyết 36 này. Việt Hồng: Xin phép ông được quay lại với ngày 30/4 của chúng ta. Cách đây 32 năm, ông đang say sưa với niềm vui chiến thắng, cảm giác của ông khi đó như thế nào? Bùi Tín: Vâng, ngày 30/4 khi chúng tôi vào Sài G̣n có thể nói là vui vô cùng. V́ sau mấy chục năm bao nhiêu hy sinh, nay ḥa b́nh, thống nhất, đất nước đứng trước bao nhiêu triển vọng làm sao không vui được. Việt Hồng: Khi nào th́ ông bắt đầu thấy thất vọng hay thấy kém vui đi? Bùi Tín: Từ khi tôi thấy những người lính miền Nam hay những người làm việc cho chế độ cũ bị đi "học tập cải tạo”. Là một nhà báo nên tôi đến các trại cải tạo đó. Thực chất đó là những trại giam do Cục Quản lư Trại giam của Bộ Công an quản lư. Ở đó có cả xà lim, pḥng giam... Lúc đó tôi cũng nông nổi. Tôi nghĩ chắc chỉ học tập vài ba tháng, tôi biết đâu là người ta dử vào đó rồi không xét xử, bỏ tù vô thời hạn... Nếu là học tập th́ phải tiếp thu một cách tự do, b́nh đẳng chứ. Từ đó tôi bị hẫng, hàng triệu người bị hẫng. Hiện nay ĐCS vẫn không muốn nói một điều đáng tiếc về chuyện đó. Ngay cả ông Vơ Văn Kiệt cũng không dám nói ra, mặc dù những người chủ trương đường lối phi dân tộc, phi nhân tính đó đều đă chết. Rồi việc giải thể không kèn không trống Chính phủ Lâm thời, Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam... Đáng ra nên để lại để giữ quan hệ với phương Tây để giữ sự ḥa hợp giữa hai miền Nam- Bắc. Tôi đă từ bỏ tất cả những huân huy chương của tôi v́ tôi cho rằng nó không có ǵ là vinh hạnh cả. Mấy triệu người VN chết mà toàn là anh em giết lẫn nhau. Cuộc chiến vừa qua là một trang đen tối trong lịch sử VN, không có ǵ để kiêu ngạo, để hănh diện cả. Việt Hồng: Để có những huân huy chương đó, ông đă tham gia những công việc cụ thể ǵ trong chiến tranh? Bùi Tín: Tôi vào quân đội lúc 19, 20 tuổi, lúc đó c̣n hăng hái lắm. Lúc đầu là lính thôi, rồi tham gia cách mạng Tháng Tám, hoạt động ở mặt trận trong những năm 1945-1949. Sau Điện Biên Phủ tôi vào Hà Nội, rồi chuyển sang làm báo chí tuyên truyền. Sau đó tôi về báo Nhân Dân. Trong những năm chiến tranh (1965- 1975), tôi làm báo là chính, tôi cũng vẫn tiếp tục làm báo cho tới năm 1990 khi tôi sang Pháp. Sau 44 năm trong ĐCS, hơn 37 năm trong quân đội, bây giờ tôi là nhà báo tự do để tham gia một cuộc đấu tranh mới giành lại tự do dân chủ cho đất nước ḿnh. Việt Hồng: Thưa ông, thế hệ của các ông, thế hệ của những người: "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước Mà ḷng phơi phới dậy tương lai”. Là một người cầm bút, một nhà báo, ông đă cổ vũ động viên những nam thanh nữ tú đó đi vào chiến trường mà thực chất là đi vào nơi chết chóc với ḷng "phơi phới”. Chắn chắn trong sự viết lách của các ông khi đó, có những thông tin sai sự thật. Ông có thấy ḿnh phải chịu trách nhiệm ít nhiều trong sự "phơi phới” đó hay không? Bùi Tín: Có chứ, cô Việt Hồng. Cho nên tôi vừa là nạn nhân, vừa là tác nhân tham gia vào những hướng sai lầm đó. Một con người không thể thoát khỏi hoàn cảnh lịch sử được. Nếu tôi ở Miền Nam, có khi số phận tôi đă khác. Ở Miền Bắc, tôi phải theo cái xu hướng lịch sử như thế. Lúc đó, tôi nghĩ rằng cuộc kháng chiến là đúng đắn, rằng ḥa b́nh, thống nhất sẽ có độc lập, tự do... Dù sao cũng may mắn là tôi đă tỉnh lại! Việt Hồng: Kư ức mănh liệt nhất về cuộc chiến của ông là ǵ? Bùi Tín: Tôi thường hay nghĩ tới những người đồng đội của ḿnh. Đồng đội của tôi chết nhiều lắm! Tôi vuốt mắt cho hàng trăm người, khi tôi là Đại đội trưởng, Tiểu đoàn trưởng. Thương lắm! Đau lắm! Tôi cứ suy nghĩ măi, những người chết h́nh như là những người thông minh nhất, dũng cảm nhất... Nhiều anh trong đó đă thi đỗ đầu vào các trường đại học vậy mà vẫn xung phong vào chiến trường, rồi 10 đi th́ 7, 8 không trở lại. Cả hai bên đều là những người đă xả thân v́ lá cờ của ḿnh, về những giá trị mà ḿnh cho là thiêng liêng. Việt Hồng: Thưa ông, ông vừa nhắc tới những người lính phía bên kia chiến tuyến. Ở chiến trường ông đă coi họ là những kẻ thù. Vậy xin ông cho biết từ khi nào nhận thức của ông về họ thay đổi? Bùi Tín: Đó là khi tôi gặp họ trong các trại giam, tôi hỏi kỹ họ. Dần dần tôi nhận ra. Đến khi tôi ra nước ngoài, tôi gặp họ và bây giờ tôi kết thân với nhiều người lắm. Ví dụ như tướng Nguyễn Trọng Bá, rất thân với tôi và c̣n nhiều anh em tướng tá khác. Do hoàn cảnh lịch sử thôi, nếu tôi ở Miền Nam, chắc tôi cũng cùng cầm súng với họ. Nếu họ ở Miền Bắc, có khi cũng cùng cầm súng với tôi. Nhưng một số người th́ có quan điểm cực đoan, quá khích, họ không tin tôi, cho tôi là cộng sản nằm vùng... Việt Hồng: C̣n với vong linh của những người lính đă mất, ông có muốn nói điều ǵ không? Bùi Tín: Tôi coi họ ngang nhau, không hơn không kém với cả hai phía. Tôi thương khóc họ như nhau. Tôi tôn trọng tất cả các liệt sỹ của cả hai miền Nam - Bắc, cả những đồng bào đă mất trong cuộc chiến, dù Nam hay Bắc đều là những người ruột thịt của tôi. Việt Hồng: Tôi nghĩ rằng, lịch sử của một dân tộc cũng giống như số phận của một con người. Đặt ra vấn đề "nếu như thế này...”, "giá như thế kia...” đều không giải quyết được ǵ cả. Nhưng nhiều người vẫn cho rằng, nếu ông Hồ Chí Minh (HCM) không đem học thuyết cộng sản vào Việt Nam th́ đă không xảy ra một cuộc chiến mấy chục năm, thiệt hại vài triệu mạng người như vậy. Ông nghĩ sao về giả định này? Bùi Tín: Đúng là ông Hồ đă đem chủ nghĩa Cộng Sản tới Việt Nam, nhuộm đỏ cả Bắc Việt Nam, muốn nhuộm đỏ cả Lào và Miên..., rồi c̣n muốn nhuộm đỏ cả Đông Nam Á, châu Á và tham gia vào việc nhuộm đỏ cả Thế giới. Đó là mục tiêu của ĐCS lúc bấy giờ, một mục tiêu được cho là rất cao cả (cười). Việc đánh giá về ông Hồ phải rất thận trọng. Về việc này th́ tôi có viết trong một cuốn sách. Việc coi ông Hồ là tội đồ của dân tộc, ngu dốt... hay việc đề cao ông quá đều không đúng. Nhưng nếu ông Hồ không tiếp thu chủ nghĩa CS từ Lenine, Stalin, không sang tận Nga để học tập... th́ sẽ không có đảng CSVN, không có mặt trận Việt Minh, có thể cũng không có cuộc chiến tàn khốc và nước Việt Nam không bị nhuộm đỏ tới bây giờ. Chúng ta có thể sẽ như Thái Lan, Philippines..., tức là một nước dân chủ. Nhưng những sai lầm đó, tôi cho rằng HCM không cố t́nh mà đó là sai lầm mang tính lịch sử. Ông Hồ đă tưởng rằng chủ nghĩa Marx-Lenine là tốt đẹp Trên h́nh thức th́ ĐCS đă lănh đạo kháng chiến thành công nhưng thực tế th́ họ áp dụng học thuyết CS, thực hiện cương lĩnh của Quốc Tế III. Trong đó sai lầm nhất phải kể tới việc đấu tranh giai cấp. Từ việc theo học thuyết này, VN tự đặt ḿnh đối lập với thế giới dân chủ.... Việt Hồng: Xin được hỏi ông một câu cuối cùng, hơi riêng tư một chút. Việc ông từ bỏ hàng ngũ ĐCS, tranh đấu cho tự do dân chủ, ĐCS cho ông là phản bội, c̣n ngay ở hải ngoại, một số người không tin tưởng ở ông, cho ông là nằm vùng... dùng những lời lẽ có thể nói là xúc phạm tới ông. Ông có buồn không? Bùi Tín: Ồ, tôi cũng không có ǵ buồn cả v́ khi dấn thân, tôi đă lường trước những khó khăn rồi. Sẽ có lúc tôi bị kẹt giữa 2 làn đạn. Trong nước họ bảo tôi là bất măn, phản động nhưng tôi rất mừng là số đó ít thôi và ngày càng ít đi, chỉ có một số trong bộ máy tuyên truyền của công an, ban tư tưởng thôi. C̣n tôi nhận được không biết bao nhiêu thư từ, e-mail của đồng bào trong nước, của thế hệ trẻ, người ta bày tỏ sự thông cảm, chia sẻ với tôi. Ở ngoài nước có một số người họ nh́n tôi cũng quá đáng, họ cho rằng tôi vẫn mang lập trường CS. Thậm chí cho rằng tôi là nhân viên t́nh báo làm việc cho CS, dân chủ cuội, nhưng tôi tin rằng đông đảo mọi người hiểu tôi. Tôi có ngày càng nhiều bạn, những người bạn tốt họ thông hiểu ḿnh. Rồi những bài báo mà tôi viết ra, trong và ngoài nước họ thi nhau phổ biến đó cũng là an ủi lớn với tôi khi xa những người ruột thịt. Việt Hồng: Xin cám ơn ông về cuộc phỏng vấn mà ông đă dành cho DCVOline. Bùi Tín: Cám ơn Đàn Chim Việt đă đăng rất nhiều những bài viết của tôi. Tôi cũng đă đi dự cuộc gặp mặt ĐCV năm ngoái và được gặp anh em toàn những người trẻ tuổi khắp 5 châu. Xin cám ơn cô về những câu hỏi rất thú vị hôm nay. © DCVOnline |
| Không Có Tự Do Ứng Cử -- Không Bầu Cử! HUỲNH TẤN PHONG . Việt Báo Thứ Hai, 4/30/2007, 9:56:00 PM Ngày 20/5 tới đây là ngày bầu cử Quốc Hội khoá 12 của nước CHXHCNVN, một chủ đề mà dư luận trong cũng như ngoài nước hết sức quan tâm chú ư. Nhiều vấn đề được đưa ra thảo luận và phân tích. Hàng trăm câu hỏi đă được nêu lên như: Cuộc bầu cử Quốc Hội khoá 12 có ǵ đổi mới; sẽ là một cuộc bầu cử dân chủ tự do hay không; những ai sẽ ra ứng cử; có sự tham gia ứng cử của Việt kiều và các chính đảng đối lập với ĐCS hay không; v.v... Thực tế đă lần lượt giải đáp bằng những câu trả lời khá rơ ràng, cụ thể, dù rằng có lắm sự thất vọng, bẻ bàng. Vào khoảng hai tháng trước đây, dư luận đă ít nhiều phấn khởi khi có nhiều người ghi danh tham gia ứng cử, trong đó số lượng ứng cử viên trẻ khá cao so với từ trước đến nay. Điều này mở ra một tia hi vọng rằng ư thức trách nhiệm của người dân Việt Nam đối với cộng đồng xă hội có bước chuyển biến đáng mừng. Bước đầu đó nhen nhúm lên niềm vui cho người dân về một sự đổi mới chính trị. Những hi vọng đó vừa lóe th́ tiếp đến là tin hàng loạt ứng cử viên độc lập xin rút đơn ra khỏi danh sách tự ứng cử với những lư do khác nhau; như tổ chức không cử ra ứng cử, v́ sức khoẻ, v́ gia đ́nh, v.v… Những lư do "v́" kia thực ra là v́ đâu, v́ sao, v́ cái ǵ và những áp lực nào đă đến với họ? Số c̣n lại phải qua 3 ṿng hiệp thương để lựa chọn tư cách, tiêu chuẩn để có danh sách chính thức trước khi được bầu chọn. Ṿng hiệp thương có đúng với nghĩa là để người dân đánh giá về mọi tiêu chuẩn của các ứng cử viên sẽ được bầu hay không, hay đó chỉ là một h́nh thức nguỵ biện trong kế hoạch chọn người ửng cử của đảng CS? Chính xác hơn, đó chính là ṿng tuyển chọn ra các ứng cử viên mà đảng CS sẽ quyết định đưa vào danh sách bầu chính thức. Điều đó thấy rất rơ sau các ṿng hiệp thương. Con số đại biểu chính thức đại diện cho nhân dân sau cuộc bầu cử khoá 12 sẽ cũng vẫn như từ trước đến nay: "Đảng cử Dân bầu", hay cũng vẫn là đảng cứ chọn rồi nhân dân theo đó mà bỏ phiếu. Đến nay, bên cạnh Trung quốc, Cuba và Bắc Hàn, Việt Nam cũng là một là nước chưa dám tin vào sự ủng hộ của quần chúng. V́ vậy, cả bốn nước này đều có chính sách dàn dựng, kiểm soát ứng và bầu cử một cách nghiêm nhặt. Hơn 60 năm cầm quyền, đảng CSVN tuy luôn cho rằng được nhân dân thương yêu, tín nhiệm nhưng trong thực tế họ chưa bao giờ dám để cho nhân dân sử dụng quyền làm chủ xă hội của họ. T́nh trạng "một ḿnh một sân, một bóng, vừa đá vừa thổi c̣i" của đảng CS đă tự định cho họ tính chất độc tài toàn trị. Ngày nay người dân đă hiểu được sự song hành của cuộc sống và nhân quyền. Sự cần thiết của sự tự do và các quyền căn bản, bao gồm quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội và tự do ứng bầu cử, là những yêu cầu lớn của cuộc sống trong bối cảnh thời đại mới. Sự thiếu vắng những nhân quyền căn bản cũng không khác ǵ sự vi phạm quyền tự quyết của người dân. Việt Nam sau hai mươi năm "đổi mới" đă khác nhiều hơn thời kỳ lụn bại của xă hội chủ nghĩa. Sự tự do kinh tế, dù chưa hoàn toàn, cũng đă cứu đất nước thoát khỏi cảnh đói kém thê thảm. Những tiến bộ của xă hội bây giờ là kết quả tự nhiên của sự hồi phục kinh tế, sau khi nó không c̣n bị đè nén bởi những chính sách "phản động" của đảng. Thực tế xă hội đặt ra một câu hỏi khẩn trương là tại sao đảng CSVN không chấp nhận "đổi mới" các lănh vực quan yếu khác, nhất là như chính trị, để toàn xă hội có thể vươn lên, giúp đất nước có điều kiện cất cánh trong trào lưu mới. Tại sao đảng CSVN cứ bảo thủ ôm chặt quyền hành một ḿnh khiến cho công cuộc phát triển đất nước bị ngập ngừng, khập khễnh bởi các chính sách bất cập? Tại sao đảng CSVN lớn tiếng là đảng của nhân dân mà lại để cho chính đảng viên của họ ḅn rút của công và cưỡng đoạt tài sản của nhân dân? Nếu đảng thật sự v́ tổ quốc th́ tại sao để cho nạn tham nhũng lan tràn khắp các cơ quan công quyền một cách công khai từ trên xuống dưới? Con đường duy nhất để giải quyết những vấn nạn của đất nước là dân chủ hóa đất nước, để những người tài đức từ nhiều đoàn thể, tổ chức ngoài đảng CSVN có thể cùng nhau tham gia lănh đạo, điều hành đất nước. Chỉ khi nào nước ta có được một chính phủ dân cử đúng nghĩa, th́ t́nh trạng lạm dụng quyền lực mới có cơ hội chấm dứt. Dưới chế độ dân chủ, sự cạnh tranh phục vụ đất nước của các thành phần chính trị khác nhau sẽ tự tác động việc theo dơi, kềm chế nhau để ngăn chận và tiêu diệt sự quan liêu, tham nhũng. Với bao nhiêu năm bị khống chế và sống trong cảnh thiếu thốn mọi mặt, nhân dân Việt Nam có thể cần có thời gian để nâng cao dân trí hầu có thể hành xử đúng đắn và hữu hiệu quyền dân chủ của ḿnh. Tuy nhiên, sự khiếm khuyết đó không có nghĩa là Việt Nam phải tiếp tục sống dưới sự cai trị độc tài độc đảng. Việt Nam cần có một cuộc Tổng Tuyển Cử tự do với sự giám sát của các cơ quan nhân quyền quốc tế, để quyền làm chủ đất nước của nhân dân được tôn trọng và thực thi một cách cụ thể. Cuộc bầu cử dân chủ đó cần có thời gian và điều kiện chuẩn bị để việc ứng và bầu cử có thể được thực hiện một cách công bằng và hữu hiệu. Trong hoàn cảnh hiện nay, nếu như đảng CSVN không độc tài bảo thủ để các ứng cứ viên độc lập có thể tự ứng cử tự do, th́ đó cũng là một bước thay đổi cần thiết để làm nền tảng cơ bản cho một cuộc bầu cử dân chủ toàn diện hơn trong vài năm tới. Tiếc rằng, v́ ích kỷ và bảo thủ, đảng CSVN đă từ khước nh́n nhận thiện chí của hơn 200 ứng cử viên và kỳ vọng của nhân dân Việt Nam. Cuộc bầu cử Quốc hội năm nay đă không c̣n là một cơ hội vận động dân chủ hoá đất nước một cách ôn hoà nữa. Đây là một điều đáng tiếc cho lịch sử và đáng trách cho đảng CSVN. Vậy th́ nhân dân Việt Nam cần phải phản đối một cách cụ thể và tích cực là tẩy chay cuộc bầu cử ngày 20-5 sắp tới, bằng cách không đi bầu hoặc bỏ phiếu trắng, để khẳng định nguyện vọng có được đất nước thật sự dân chủ tự do đúng nghĩa./. Huỳnh Tấn Phong (ĐVD/VN) |
| Thủy Triều Đen, Hay Hỏa Công Dầu Lửa VI ANH . Việt Báo Thứ Bảy, 4/28/2007, 12:02:00 AM Thông tấn xă Pháp AFP, nhiều đài phát thanh có chương tŕnh tiếngViệt như RFA của Mỹ và TFI của Pháp sau nhiều lần, mới đây lại một lần nữa, trong ngày Chủ Nhựt 22 tháng Tư, nói đến lớp dầu đang lan ra ở bờ biển VN, suốt từ Nam chí Bắc. Truyền thông ngoại quốc mô tả lớp dầu làm ô nhiễm môi sinh này là thủy triều đen v́ đó là dầu lửa tiếng gọi ở Miền Nam và dầu mỏ tiếng gọi ở Miền Bắc, c̣n ở dạng dầu thô. Lớp dầu làm ô nhiễm bờ và biển cận duyên này đă xuất hiện không phải mới đây, mà đă 3 tháng rồi. Theo báo chí trong nước, th́ nguồn gốc xuất phát có thể ở đảo Bạch Long vĩ, thuộc Hải Pḥng, gần đảo Hải Nam của Trung Cộng. Nó lan dần ra các tỉnh ven biển miền Bắc, miền Trung, và miền Nam, nhiều nhứt là miền Trung, thiệt hại nặng ở 13 tỉnh. Theo Bộ Tài Nguyên và Môi trường của Nhà nước CS đợt dầu mới xuất hiện này, Bộ đội và dân quân đă vớt được 1,600 tấn. Nhưng chưa kiểm kê, chưa đánh giá được thiệt hại. Nhiều băi biển bị ô nhiễm, dơ dáy không thể sử dụng được. Nhiều khu nuôi trồng thủy hải sản bị tàn phá, chết rụi và khó phục hồi được. Cũng như ở Cà Mau, Côn đảo vùng cực Nam VN chỉ trong một khu bảo tồn thiên nhiên, Bộ đội đă vớt được 40 tấn dầu thô, như vậy hỏi rong rêu, cá tôm, ngao ṣ, san hô nào chịu nổi. Lớp dầu đă bắt đầu tấp vào băi biển Nha Trang là băi biển đẹp nhứt VN. Làm sạch lại rất tồn kém. Và VN chưa có phương tiện cần thiết để phục hồi lại môi sinh. Thủ Tướng VC đă hơn một lần đi thị sát, mở cuộc họp, đánh công điện khẩn cho các Ủy ban Tỉnh, Thành t́m cách "khắc phục". "Khắc phục" đa số bằng kiểu tiểu thủ công là chánh. Nhà cầm quyền CS nhờ tổ chức của Liên hiệp quốc giúp đỡ. Điều hợp viên của tổ chức bảo vệ mội sinh của Liên hiệp quốc trong vùng, và chuyên viên chống nhiễm dầu trên biển của Nhựt đến VN t́m hiểu. Đă lấy mẫu dầu phân tích để xem có phải do những dàn khoan dầu ngoài khơi VN làm ṛ rỉ khi thai thác không. Nhưng chưa t́m ra được nguyên do; nạn thủy triều đen này vẫn c̣n là một bí ẩn. Thủ Tướng Dũng của Việt Cộng khẳng định không phải do các dàn khoan dầu hay khai thác dầu ng̣i khơi của VN làm ṛ rỉ. Nên chỉ c̣n có cách đặt ra những giả thuyết thôi. Có thể do tàu dầu xúc rửa ngoài khơi nên lớp dầu trôi dạt vào. Có thể do thềm đáy biển cận duyên VN nứt nẻ, nên dầu thô trồi lên mặt biển, lan ra, và trôi dạt theo gió từ Bắc vào Nam. Có thể do các dàn khoan và khai thác dầu của TC ṛ rỉ gây ra. Tổ chức chuyên môn về môi sinh của Liên hiệp quốc chỉ c̣n có cách khuyên nhà cầm quyền CS phải chuẩn bị và tăng cường khả năng phát giác, đối phó nạn thủy triều đen. V́ ngoài khơi VN có nhiều dàn khoan và khai thác dầu. Và VN nằm trên đường hải lộ sầm uất Nam Bắc Thái b́nh dương, nhiều tàu dầu qua lại. Bờ biển VN dài trên 1200 cây số ngàn, đa số các tỉnh đều có bờ biển, nhứt là Miền Trung. Hàng thập niên nay, đất nước, nhân dân VN đang nơm nớp lo sợ Cửu Long cạn ḍng, Biển Đông dậy sóng. Lo sợ TC, một nước khổng lồ ở phương bắc mà tham vọng thuộc địa đă ba lần xâm lược và 1 000 năm thống trị VN. Đập Thủy điện của TC ở thượng nguồn sông Cữu Long đă làm lưu lượng sông Cửu Long yếu đi ở các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long ở VN. Nước mặn ngoài biển đă xâm nhập sâu vào đất liền ven sông của nhiều tỉnh, làm diện tích ruộng vườn các tỉnh teo dần lại. Đó là chưa nói khi TC đồng hè xả đập hay đập, bị bể th́ nạn lụt khó mà tránh khỏi ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Tin mới đây chính TC đang báo động nạn bể đập v́ cấu trúc của trên 85000 đập thủy điện không đúng tiêu chuẩn. C̣n tại Biển Đông th́ quần đảo Trường Sa là một điểm nóng, không biết chừng nào xảy ra xung động quân sự, giữa TC và một số nước xung quanh nhưng VN là nước thiệt tḥi nhứt nên sẽ phải phản ứng mạnh nhứt. Trước nạn thủy triều đen mà nguyên nhân c̣n bí ẩn, người ta không thể không liên tưởng đến thuật hỏa công của người xưa Trung Hoa. Các chiến lược gia đă dùng hỏa công để diệt đối thủ. Dầu mỏ, dầu thô, hay dầu lửa bản chất của nó là năng lượng hóa thạch, tức tạo ra nhiệt năng. Cứ phết dầu lửa lên da một thời gian, da sẽ bị đỏ lên, lâu hơn nữa sẽ lột da v́ phỏng: phỏng dầu lửa. Không cần cho cháy bùng, chỉ cần cho cháy ngầm do lớp dầu thô tràn lan ra, và chỉ cần một thời gian ngắn, tôm cá, ốc ṣ, phiêu sinh vật, rong rêu, san hô tức hải sinh vật không thứ ǵ sống nổi. Đó là chưa nói nước biển bị nhiễm dầu là một tai họa môi sinh. Bờ biển dơ dáy, lấm lem, nước biển hôi mùi dầu, cát biển dính dầu.Hết đợt này đến đợt khác, th́ đừng mong ǵ tẩy rửa, "cải tạo". Nguồn lợi biển cận duyên VN, du lịch VN nhờ biển xanh cát trắng coi như mất trắng. Điều đó không khó đối với TC. Trong Chiến tranh VN, TC có thể làm ông dẫn xăng dầu vào đến Tây Ninh. Bây giờ dẫn dầu dưới thềm biển từ đảo Hải Nam đến đảo Bạch Long vĩ là chuyện nhỏ. Hay cho dầu ṛ rỉ từ các dàn khoan của TC ờ ngoài khơi VN lại là chuyện nhằm nḥ ǵ ba cái lẻ tẻ, đối với TC. Người Việt không c̣n lạ ǵ những mưu sâu kế độc làm nông nghiệp VN chới với nhiều thời. Tiêu biểu, TC xuất cảng ốc bu vàng, rẻ như cho, lớn nhanh như thổi, ăn ngon hơn, lớn con hơn ốc bu, ốc lát VN. Cán bộ Nam tập kết về coi như vật quí hiếm mua nuôi trong hồ, để bán giống, và bán thịt như "đặc sản". Ốc này sinh sản rất nhanh, ăn rau cỏ như Tạ hầu đôn. Oc leo qua bờ bao, tràn qua ruộng. Hay trong nhà hết chỗ nuôi, bán hết được, cán bộ lén đem thả ra đồng bớt. Cây cỏ, trong đó có mạ và cây lúa, sâu rầy, ốc bu vàng TC ăn hết, cắn lúa chết rạp. Một thời nông dân chới với, nhà cầm quyền phải mở chiến dịch "diệt ốc bu vàng" mà không dám nói xuất phát từ Anh Cả Đỏ TC. C̣n một tṛ độc nữa của TC. TC ra giá thu mua mắc như vàng bộ móng nghé, giá gần bằng con nghé. Giết con nghé lấy móng bán bằng giá con nghé, lại dư thịt ăn, th́ quá lời theo kiểu tính gần. Nhưng không bao lâu sau, sức kéo cày, bừa đất trong ruộng đồng VN không đủ, nông nghiệp VN lao đao. Chuyên nhỏ con ốc, con nghé, TC cũng không từ để làm hại VN, làm liệt bại VN để dễ bề bành trướng. Th́ hỏa công dầu lửa làm bờ biển và biển cận duyên VN bị ô nhiễm, bị cháy ngầm cũng là một giả thuyết đáng đặt ra. Đó không hẳn là chuyện Phong Thần, chuyên ṿng vo Tam quốc của Trung Quốc ngày xưa. Đó có thể là chuyện Bắc Kinh bây giờ đang dạy cho đàn em CS Hà nội một bài học khi thấy phe đảng Đổi Mới, từ trong Nam ra muốn đi với Mỹ là đối thủ số 1 của TC trên thế giới và Mỹ muốn biến VN thành tiền đồn chống TC trên đường bành trướng ở Đông Nam Á. |
| Cộng đồng Việt Nam đồng loạt tưởng niệm ngày Quốc Hận 30 Tháng Tư Sunday, April 29, 2007 medium_ThangTu_1.jpg Đại diện Lực Lượng Quân Dân VNCH đặt ṿng hoa trong đêm thắp nến tưởng niệm ngày Quốc Hận được tổ chức tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ. (H́nh: Thanh Nguyên/Người Việt) medium_ThangTu_2.JPG Ban Tù Ca Xuân Điềm diễn vở kịch “Phiên Ṭa Bịt Miệng” tại đêm thắp nến được tổ chức tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ. (H́nh: Nguyên Huy/Người Việt) medium_ThangTu_3.JPG Đoàn xe “Diễn Hành Tự Do Dân Chủ Cho Việt Nam” chuẩn bị xuất phát trên đường Moran, trước ṭa soạn nhật báo Người Việt sáng ngày Chủ Nhật 29 Tháng Tư 2007. (H́nh: Nguyên Huy/Người Việt) medium_ThangTu_4.JPG Ban tổ chức chuẩn bị lễ tưởng niệm ngày Quốc Hận tại Tượng Đài Việt Mỹ, Westminster, trưa ngày Chủ Nhật 29 Tháng Tư 2007. (H́nh: Thanh Nguyên/Người Việt) Nguyên Huy & Thanh Nguyên/Người Việt WESTMINSTER, California (NV) - Trong ba ngày cuối tuần vừa qua, nhiều hội đoàn và tổ chức, đặc biệt là giới trẻ, trong cộng đồng Việt Nam đă đồng loạt tưởng niệm lần thứ 32 ngày Quốc Hận 30 Tháng Tư tại nhiều nơi trong vùng Little Saigon, đặc biệt tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, ủng hộ những nhà đấu tranh trong nước, diễn vở kịch “Phiên Ṭa Bịt Miệng,” diễn tiến vụ Linh Mục Nguyễn Văn Lư bị xử tại Huế, và tuần hành bằng xe hơi trên các trục lộ chính biểu thị sự ủng hộ tự do và nhân quyền cho Việt Nam. Vào lúc 7 giờ 30 chiều Thứ Sáu, ngày 27 Tháng Tư, hàng trăm đồng hương, quư lănh đạo tinh thần tôn giáo, cùng nhiều vị nhân sĩ, trí thức, đại diện các tổ chức chính trị, các cựu sĩ quan của QLVNCH, các tổ chức đoàn thể... đă đến tham dự Đêm Thắp Nến Tưởng Niệm ngày Quốc Hận tại Tượng Đài. Đây là một hoạt động không chỉ nhằm tưởng niệm lại biến cố lịch sử đau buồn 32 năm đă qua của đồng bào người Việt hải ngoại, mà c̣n nhấn mạnh chủ đề “Hải Ngoại Quyết Tâm Yểm Trợ Quốc Nội và Những Người Tranh Đấu Cho Tự Do Dân Chủ.” Mở đầu buổi lễ tưởng niệm, bác sĩ Nguyễn Xuân Vinh, chủ tịch Cộng Đồng Việt Nam Nam California (Vietnamese Community of Southern California), đă thay mặt ban tổ chức đọc diễn văn khai mạc. Ông nói: “Tất cả chúng ta đến đây hôm nay để dâng ḷng cung kính tưởng niệm các chiến sĩ trong QLVNCH, trong thời điểm đen tối nhất của lịch sử, họ đă chọn hành động can trường, bất khuất, đại diện cho nghĩa khí bất tử, họ đă hy sinh v́ lư tưởng tự do.” Tại tượng đài, ban tổ chức đă lập một bàn thờ tưởng niệm các vị tướng lănh của QLVNCH đă anh dũng tuẫn tiết trong thời điểm miền Nam rơi vào tay Cộng Sản Bắc Việt. Đại diện các tổ chức đoàn thể, tổ chức cựu quân nhân, các chính đảng, các vị dân cử địa phương và một số cá nhân... đă cung kính đặt ṿng hoa, thắp hương viếng trước di ảnh các vị anh hùng trong điệu kèn thương tiếc, tiếng trống vọng các anh linh, tạo nên một không khí trang nghiêm và đầy trầm lắng. Sau lễ đặt ṿng hoa và niệm hương trước bàn thờ, cô Đặng Xuân Mai, thay mặt ban tổ chức, đọc điếu văn truy điệu các anh hùng tử sĩ, các nạn nhân của 30 Tháng Tư và những đồng bào tử nạn trên đường vượt biển t́m tự do. Trong không khí của một buổi tối tưởng niệm có nhiều sương lạnh, mọi người tham dự tay cầm một ngọn nến cùng hướng về lễ đài, tất cả đều tâm niệm và nhớ về những mất mát đau thương. Vào thời điểm này ở trong nước liên tiếp có những vụ bắt bớ những nhà bất đồng chính kiến. V́ vậy, bên cạnh ư nghĩa của buổi lễ thắp nến tưởng niệm, ban tổ chức của Đêm Thắp Nến cũng kêu gọi mọi người trong cộng đồng cùng nhau kư tên vào kháng thư để phản đối chính quyền Cộng Sản Việt Nam đàn áp những tiếng nói đấu tranh của những nhà dân chủ ở trong nước. Cũng trong diễn từ khai mạc, ông Nguyễn Xuân Vinh kêu gọi: “Mọi người lắng ḷng ôn lại những ưu và khuyết điểm của ḿnh. Từ đó có cái nh́n chung cuộc để rút ra những bước đi đúng đắn, cùng nhau xây dựng một cộng đồng Việt Nam thống nhất, vững mạnh góp bàn tay ủng hộ đấu tranh quốc nội.” Cô Mai nói: “Người tha hương cho dù đi đâu cũng mang theo h́nh ảnh đất nước ở bên ḿnh, ḿnh đang ở đất nước tự do, cần phải cất lên tiếng nói cho những đồng bào đang gặp nghịch cảnh ở trong nước. Tự do không phải tự nhiên mà có mà cần phải đấu tranh. Chính những sự đấu tranh của người trong nước và sự ủng hộ của bà con ở hải ngoại sẽ tạo nên một làn gió mới đầy hy vọng cho t́nh h́nh dân chủ, tự do ở quê hương.” Tối ngày hôm sau, Thứ Bảy 28 Tháng Tư, khoảng 500 đồng hương trong đó giới trẻ chiếm tới gần nửa đă đến tham dự Đêm Tưởng Niệm Tháng Tư Đen tại Tượng Đài do Cộng Đồng Người Mỹ Gốc Việt miền Nam California, Tổng Hội Sinh Viên Nam California và Đoàn Thanh Niên Phan Bội Châu đứng ra tổ chức. Không khí sôi động và trẻ trung bắt đầu ngay khi cô Tâm Anh, sinh viên UCI, hát bài quốc ca Hoa Kỳ và các bạn trẻ nắm giữ những vai tṛ giới thiệu chương tŕnh cũng như phát biểu khai mạc. Sinh Viên Lư Vĩnh Phong, trong diễn văn khai mạc, đưa ra nhận định rằng: “Chúng ta tổ chức những buổi sinh hoạt đấu tranh như thế này trong bao nhiêu năm nay, đă đóng góp hữu hiệu vào tiến tŕnh dân chủ hóa cho Việt Nam.” Cô Nguyễn Ngọc Hiếu, Đoàn Thanh Niên Phan Bội Châu, cũng phát biểu rằng: “Tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại đă đạt được ít nhiều thành công nơi xứ người, nhưng trong tim vẫn nhói đau khi nh́n về Việt Nam thấy dân tộc c̣n bị nhiều khổ nạn. Từ đó mới hiểu được sự hy sinh của cha anh trong thời gian qua cho tuổi trẻ chúng ta và tuổi trẻ đă cảm thấy được sống trong tự do nơi đây thật là quư nên không thể không có trách nhiệm trong việc tranh đấu cho đất nước và dân tộc ḿnh cũng phải được sống trong tự do dân chủ và nhân quyền.” Giám Sát Viên Janet Nguyễn, đại diện Hội Đồng Giám Sát Quận Cam, cũng nói: “Trong ngày đau buồn 30 Tháng Tư này, tuổi trẻ phải nhớ đến những hy sinh mất mát lớn lao của cha anh mà cùng nắm tay nhau đẩy mạnh công cuộc tranh đấu tự do dân chủ cho đất nước và dân tộc ḿnh.” Trong khi đó nhiều quan khách Mỹ Việt cũng đă lên chia sẻ niềm thống hận 30 Tháng Tư với cộng đồng và tuổi trẻ Việt Nam. Dân Biểu Liên Bang Loretta Sanchez thú thực: “Cám ơn cộng đồng Việt Nam, qua những khổ nạn của quư vị, tôi đă được biết tự do giá trị như thế nào.” Sau một vài phát biểu của quan khách, buổi Tưởng Niệm đă chuyển ngay vào phần văn nghệ đấu tranh. Hoạt cảnh diễn lại những hoạt động đ̣i tự do tôn giáo và ngôn luận của Linh Mục Nguyễn Văn Lư do đoàn văn nghệ tù ca Xuân Điềm tŕnh diễn khá sôi nổi và thực đến độ trong khi hoạt cảnh diễn ra, khán giả đứng cả dậy ḥ la “Đả đảo Cộng Sản” vang rền. Một người đă nhảy lên sân khấu dang tay đập vào cái nón cối mà một bạn trẻ đang đóng vai công an đánh đập giáo dân trên sân khấu. Vị khán giả này được mọi người can ngăn mời xuống sân khấu. Đó là ông Nguyễn Th́n. Ông nói với báo Người Việt: “Không ngăn được uất ức ông ạ. Tuy nhiên đánh là đánh tượng trưng thôi v́ tôi biết tên công an đó là giả do con em chúng ta sắm vai đạt quá.” Màn liên khúc với hoạt cảnh tù đày của các nhà tranh đấu trong khối 8406 ở trong nước do các bạn sinh viên và Đoàn Thanh Niên Phan Bội Châu tŕnh diễn sau đó cũng rất đạt, gây được khá xúc động nơi người xem đang phải chịu cái giá lạnh bất chợt trong công viên Tượng Đài. Gần ba tiếng đồng hồ, buổi Tưởng Niệm đă diễn ra trong không khí bừng bừng lửa hận. Cô Tuyết Hà, Hoa Hậu Sinh Viên Nam California và là MC của buổi lễ, trong chiếc áo dài mỏng manh trước những luồng gió lạnh buốt, nói: “Không khí tưởng niệm làm máu trong người cháu sôi lên, hết cảm thấy lạnh chú ơi”. Năm nay, qua những sinh hoạt cộng đồng trong dịp Tưởng Niệm 30 Tháng Tư người ta thấy tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại có chủ động tham dự và sinh hoạt mạnh mẽ hơn mọi năm. Đó là nhận xét của nhiều người trong đêm Tưởng Niệm này trong đó ông Nguyễn Tiến, cựu Đại Úy QLVNCH, c̣n nhấn mạnh: “Cũng do từ những biến chuyển ở trong nước. Bức h́nh về Linh Mục Nguyễn Văn Lư bị bịt miệng trong phiên ṭa xử ông mới đây cũng sẽ như bức h́nh tự thiêu của Ḥa Thượng Thích Quảng Đức trước đây mở đầu sự sụp đổ một chế độ.” Tiếp tục các hoạt động tưởng niệm, sáng hôm Chủ Nhật 29 Tháng Tư, một đoàn xe vừa xe van vừa xe du lịch, khoảng 30 chiếc, treo đầy cờ vàng và cờ Hoa Kỳ cùng nhiều biểu ngữ viết trên xe đă xuất phát từ khuôn viên trước nhật báo Người Việt thẳng ra đại lộ Bolsa. Theo dự trù đoàn xe “Diễn Hành Tự Do Dân Chủ Cho Việt Nam” này sẽ chạy ba ṿng qua các con đường chính trong Little Saigon như Magnolia, Westminster, Brookhurst rồi trở về khu vực triển lăm tội ác Cộng Sản trước khu thương xá Phước Lộc Thọ. Được biết, đây là một trong những sinh hoạt của cộng đồng trong dịp tưởng niệm 30 Tháng Tư năm nay do Cộng Đồng Người Mỹ Gốc Việt miền Nam California phối hợp cùng đoàn Thanh Niên Phan Bội Châu và Tổng Hội Sinh Viên Nam California. Một chuỗi những sinh hoạt cũng đă diễn ra từ những tuần lễ trước như treo cờ vàng trong khu Little Saigon, giới trẻ thực hiện “biểu t́nh tịnh khẩu 24 giờ” và đeo nơ đen, Đêm Tưởng Niệm trước Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, hội thảo về biến cố lịch sử đau thương 30 Tháng Tư tại nhiều trường trung và đại học ở miền Nam California. Ông Ngô Chí Thiềng, Chủ Tịch Cộng Đồng Người Mỹ Gốc Việt miền Nam California, cùng các bạn trẻ trong Ban Tổ Chức cuộc diễn hành, cho chúng tôi biết: “Nhằm nói lên tiếng nói đ̣i hỏi tự do và dân chủ cho Việt Nam mà nhà cầm quyền Cộng Sản trong nước đang gia tăng áp bức, bịt miệng những tiếng nói đấu tranh ở trong nước. Cũng là nhằm nhắc nhở cộng đồng chúng ta gia tăng việc hỗ trợ cho công cuộc tranh đấu của Khối 8406 ở trong nước và những phong trào công nhân, người dân đ̣i quyền sống, đất đai đang bùng nổ khắp nơi ở trong nước. Cuộc diễn hành xe v́ Dân Chủ Tự Do Cho Việt Nam hôm nay được xướng xuất bởi các bạn trẻ và đă được nhiều đồng hương mang xe đến gia nhập”. Tất cả các xe đi trong đoàn đều treo cờ Việt Mỹ và kẻ đầy trên các kiếng xe những hàng chữ “Freedom for VietNam”, “We support the Bloc 8406” và h́nh ảnh Linh Mục Nguyễn Văn Lư bị công an Cộng Sản bịt miệng trong phiên ṭa tại Huế ngày 30 Tháng Ba vừa qua. Tiếp tục những hoạt động tưởng niệm Quốc Hận 30 Tháng Tư, vào lúc 12 giờ trưa cùng ngày Chủ Nhật, hàng ngàn đồng hương Việt Nam từ khắp nơi xa gần thuộc miền Nam California, các vị lănh đạo tinh thần các tôn giáo, các vị quan khách, các vị dân cử và đại diện chính quyền các cấp, cùng nhiều vị nhân sĩ, trí thức, đại diện các tổ chức chính trị, đảng phái, các vị cựu tướng lănh và các tổ chức cựu quân nhân QLVNCH, các tổ chức đoàn thể, các hội ái hữu đồng hương... đă đến tham dự một buổi lễ tưởng niệm khác tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ do 44 hội đoàn trong cộng đồng Việt Nam phối hợp tổ chức. Buổi lễ diễn ra trong không khí trang nghiêm với nghi thức rước cờ long trọng. Lá cờ Vàng VNCH và cờ Hoa Kỳ được kéo lên từ từ trước sự chứng kiến của hàng ngàn người cùng ḥa lên trong tiếng hát của hai bài quốc ca. Trong diễn từ mở đầu buổi lễ ông Trần Trọng Đạt, thay mặt ban tổ chức, đă nêu lên lư do và ư nghĩa của buổi lễ hôm nay. Ông nhấn mạnh: “Lịch sử dân tộc Việt Nam đă trải qua mấy lần quốc nạn, ngày 30-4-1975 là ngày khởi đầu của một quốc nạn mới đầy đau thương, nghiệt ngă, nhiều máu lệ đày đọa, hận thù. Ngày này là ngày thống hận của quốc dân.” Tại tượng đài, ban tổ chức cũng lập một bàn thờ tưởng niệm để các vị quan khách và mọi người đến dâng hương. Đồng thời các vị đại diện của các tổ chức đảng phái và hội đoàn đặt ṿng hoa viếng, v́ vậy, Tượng đài Chiến sĩ Việt Mỹ đă tràn ngập sắc hoa và hàng ngàn đồng hương đến viếng để tưởng nhớ và tri ân Quân Dân Cán Chính VNCH cùng lực lượng Đồng Minh đă chiến đấu và hy sinh v́ tự do và chính nghĩa. Sau lời phát biểu lư do của buổi lễ, ban tổ chức đă cho phát một đoạn băng ghi âm lời phát biểu của linh mục Phê Rô Phan Văn Lợi, từ Huế, nơi đă xảy ra bối cảnh của “Phiên Ṭa Bịt Miệng” Linh mục Nguyễn Văn Lư, khiến cho mọi người tham dự trong buổi lễ càng thấy rơ được ư nghĩa khi cùng nhau đứng dưới Tượng Đài, cùng thể hiện sự tôn kính và hướng ḷng về đất mẹ thương yêu. Lời phát biểu có đoạn: “Một nỗi đau buồn rộng lớn bao trùm từ quốc nội ra tới hải ngoại, phủ lên tất cả dân Việt chúng ta. Nỗi đau buồn đó chẳng đơn thuần là nỗi thương nhớ quê nhà hay nhớ nhung thân thuộc bên kia bán cầu, trùng khơi vạn dặm mà là một nỗi đoạn trường thấm thía...” Ông Bill Dalton, thị trưởng Garden Grove, đại diện quan khách, phát biểu: “Sự mất mát tự do dân chủ là sự mất mát lớn. Hằng năm chúng ta tưởng niệm cho những ǵ đă đi qua. Tưởng niệm để nhắc nhở và giáo dục cho thế trẻ. Hy vọng trong tương lai chúng ta sẽ ăn mừng cho tự do dân chủ ở Việt Nam nhân kỷ niệm Quốc Hận lần thứ 33.” Kết thúc buổi lễ là phần văn nghệ do nhiều anh chị em nghệ sĩ, ca sĩ và ban nhạc đóng góp. (N.H & T.N) |
| Bài QUỐC CA Hát Trên Đất Nước Ngày Cuối Cùng #1 Truyền Tin Joined: 2007/3/19 From Posts: 6 Bài QUỐC CA Hát Trên Đất Nước Ngày Cuối Cùng (CUỘC CHIẾN ĐẤU BI HÙNG của Thiếu Sinh Quân (Vũng Tàu) Đào Vũ Anh Hùng Bài ca biệt ly của quân lực VNCH được diễn tả bằng những hành động, những trận đánh ngoạn mục của người lính VNCH trong trận thư hùng với các binh đoàn Cộng Sản lần cuối vào những giờ phút hấp hối của miền Nam. Đó là những trận đánh cực cùng dũng cảm, bi thương, hùng tráng và tuyệt vọng, trước sự chứng kiến của cả trăm kư giả, phóng viên ngoại quốc, những nhà ngoại giao, nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu quân sử ... Đó là Thiên Anh Hùng Ca bất khuất của một quân lực trong suốt hơn hai mươi năm chống giữ và bảo vệ cái tiền đồn của thế giới tự do trước làn sóng xâm lăng cộng sản. Thiên anh hùng ca bất hủ đă được nhiều nhân chứng tôn vinh và ngưỡng phục. Sau cuộc tan hoang, miền Nam Viêt Nam bị mất về tay CS, nhiều người đă công khai nói lên ḷng cảm phục cùng sự thương tiếc cho một quân lực hùng mạnh và quả cảm đă gánh chịu một kết thúc đau thương, ngập tràn uất hận. Kư giả Peter Kahn của đại nhật báo The Wall Street Journal, dưới cái tựa "Truy Điệu Nam Việt Nam" ngày 2-5-75, nghĩa là hai ngày sau khi Sài G̣n sụp đổ đă ngậm ngùi kết luận: "Nam Việt Nam đă chống cự hữu hiệu trong 25 năm và không phải họ luôn luôn được người Mỹ giúp đỡ. Tôi nghĩ không có quốc gia nào có thể chịu đựng được một cuộc chiến dai dẳng và tàn khốc đến như vậy .... Rốt cuộc quân lực ấy đă tài giỏi hơn sự ước lượng của mọi người. David Halberstam, một kư giả Mỹ đầy thiên lệch khi nhận định về chiến tranh Việt Nam, nhưng khi chứng kiến sự sụp đổ của miền Nam th́ cũng phải phẫn nộ thú nhận trên tờ Newsweek, " Tất cả những sự thất bại lịch sử và những sự hèn nhát tồi tệ của biết bao nhà lănh đạo Tây phương đều chồng chất lên lưng những người lính Nam Việt Nam ... Thật là bất lương và bất công ! Sự nhục nhă là của chúng ta chứ KHÔNG PHẢI LÀ CỦA QUÂN ĐỘI VNCH !" Hầu hết các phóng viên báo chí, các kư giả ngoại quốc trước đây từng công khai bênh vực và nghiêng hẳn về phe VC, đă phản tỉnh đă xám hối khi chứng kiến cuộc kháng cự dũng mănh, hào hùng và bi thảm của những đơn vị quân đội ở lại chiến đấu cho đến người lính cuối cùng, đến giọt máu cuối cùng. Piere Darcourt đă nồng nhiệt ca tụng ḷng dũng cảm của quân lực VNCH ở Xuân Lộc, của một đơn vị Nhảy Dù ở Lăng Cha Cả, của anh em Biệt Kích 81 ở Bộ Tổng Tham Mưu và dành sẵn một đoạn dài mô tả cuộc chống trả hiên ngang của các Sinh Viên trường Vơ Bị Đà Lạt trên các đường phố Sài G̣n. Người ta đă nói rất nhiều đến những tấm gương tuẫn tiết của các vị Tướng anh hùng, những cuộc tự sát tập thể của những người lính vô danh VNCH không chịu đầu hàng kẻ thù, nói đến những kỳ tích chiến đấu của những đơn vị Quân Lực miền Nam. Một trong những trận đánh anh hùng ấy đă làm mủi ḷng biết bao nhiêu người, đă gây xúc động biết bao nhiêu con tim. Những gịng nước mắt đă dàn dụa đổ xuống khi chứng kiến cuộc chống trả tuyệt vời và ngoạn mục có thể nói trên thế giới, không một quân sử nước nào có thể có được. Đó là cuộc chống trả của các THIẾU SINH QUÂN ở Vũng Tàu trong đêm 29 và gần trọn ngày 30-4-75, khi cộng quân xâm nhập và chiếm đóng các vị trí trọng yếu trong Thị Xă.Vũng Tàu coi như bỏ ngỏ và rơi vào tay cộng quân. Ngoại trừ một cứ điểm duy nhất c̣n chống cự do những thiếu niên tuổi 12, 13 .... đến 17 tự lập pḥng tuyến quyết tâm tử thủ. Cứ điểm đó là trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu và những chiến sỹ gan dạ anh hùng đó là những thiếu sinh măng trẻ của trường. Địch đă tung hai tiểu đoàn xung kích bao vây cứ điểm cuối cùng này nhưng chúng đă gặp phải một lực lượng vũ trang đáng kể hiên ngang đương đầu với chúng. Cộng sản đă coi thường những chú lính sữa chưa bao giờ biết mùi trận mạc. Chúng bắt loa kêu gọi các em đầu hàng và buông lời hăm doạ ... Tiếng loa vừa dứt, Viêt Cộng nhận ngay một tràng đại liên thay cho câu trả lời, gọn gàng và cương quyết của gần 700 tay súng tí hon. Tiếp theo là hàng trăm mũi súng nhắm thẳng vào bọn VC bên ngoài, phẫn nộ lảy c̣. Vài tên Bộ Đội bị đốn ngă ngay trong loạt đạn đầu tiên. Bọn Viêt Cộng phải đứng khựng lại trước tinh thần quyết tử cuả 700 hậu duệ anh hùng Trần Quốc Toản. Chúng không giám tấn công ngay v́ các em quá nhỏ và v́ có sự hiện diện của đồng bào. Chúng lui ra xa tránh đạn, bắc loa ra lệnh các em phải đầu hàng đúng 9:30 sáng hôm sau, ngày 30 tháng Tư. Mặc VC kêu gọi và đe doạ, Thiếu Sinh Quân vẫn kiên tŕ tử thủ, khiêng chướng ngại vật làm lũy pḥng ngự, tổ chức giao liên, tiếp tế đạn dược, nước uống và lương khô, cứu thương và cứu hoả .... Anh lớn chỉ huy các em nhỏ, áp dụng tuyệt vời những bài học quân sự và kỹ thuật tác chiến đă được giảng dậy ở quân trường. Đúng 9:30 sáng ngày 30-4. Cộng quân ra lệnh gọi đầu hàng lần chót nhưng các chiến sỹ tí hon vẫn kiên quyết kháng cự, trả lời chúng bằng những loạt đạn dữ dội hơn. VC nổi cơn khát máu. Chúng khai hoả, mở cuộc tấn công ào ạt mong giải quyết chiến trường nhanh chóng. Nhưng chúng phải lập tức dội ngược lại, không ngờ sức chống cự quá mănh liệt và hoả lực từ bên trong bắn ra vô cùng chính xác vào những bia sống, những cái bia người "SINH BẮC TỬ NAM". Các em chưa bao giờ được bắn, nay đă bắn với tất cả căm thù, mong dành lại những ǵ sắp bị cướp mất. Thiếu Sinh Quân có đầy đủ vũ khí cá nhân và vũ khí cộng đồng. Ngoài ra c̣n có lợi điểm là các công sự trong trường, vừa đánh vừa di chuyển, ẩn núp, trong khi bộ đội VC lớ ngớ như bầy chuột chù ra ngoài ánh sáng. Lại có những thanh thiếu niên và Quân Nhân vỡ ngũ bên ngoài hào hứng và kích động, t́m cách lẻn vào tăng cường tay súng, nhập cuộc cùng các Thiếu Sinh Quân chiến đấu ngay trong sân trường, đột kích, đánh bọc hậu bọn bộ đội khiến chúng nao núng và hốt hoảng. VC đă bắn sập một khoảng tường nhưng không thể nào vượt qua được lưới đạn của các chiến sỹ nhỏ tuổi nhưng can trường. Các em đă chiến đấu thật gan dạ, nhanh nhẹn, khôn ngoan, phối hợp nhịp nhàng và KỶ LUẬT như những đơn vị tinh nhuệ, thiện chiến nhà nghề. Đây là trận đánh thực sự đầu tiên và cũng là trận đánh cuối cùng của các em c̣n đang giở khoá học. Trận đánh QUYẾT TỬ đă đi vào lịch sử. Các Thiếu Sinh Quân đă chiến đấu không nao núng dù có nhiều em ngă gục. Những đứa con bé bỏng của quê hương đă chết trong giờ phút cuối cùng của miền Nam, khi tóc c̣n xanh, mộng đời chưa trọn. Đồng bào chứng kiến cảnh bi thương này đă oà lên khóc. Có những bà mẹ kêu gào, lăn xả vào cản ngăn họng súng bọn bộ đội để che chở cho những thiếu niên ở bên trong. Tiếng nổ, tiếng ḥ hét, tiếng kêu khóc, tiếng loa uy hiếp của VC đă tạo nên một không khí chiến trường lạ lùng chưa từng thấy .... Các Thiếu Sinh Quân chiến đấu với tất cả nhiệt t́nh và sinh lực của tuổi trẻ hăng say hào hứng như đang tham dự một tṛ chơi lớn. Cuộc chống cự kéo dài đến 3:00 chiều. Cho đến khi kho đạn dược đă cạn và kho lương thực bị bốc cháy, các Thiếu Sinh Quân mới bằng ḷng cho VC thương thảo. Họ đ̣i hỏi VC chấp nhận một giờ ngưng bắn, sau đó sẽ buông súng và mở cổng ... Và các em đă dùng một giờ ngưng bắn để thu dọn chiến trường, săn sóc đồng đội bị thương, gói liệm thi hài những vị tiểu anh hùng đă gục ngă, và chuẩn bị làm lễ hạ kỳ. Họ KHÔNG ĐỂ CHO BỌN CS làm nhục lá cờ VÀNG BA SỌC ĐỎ, lá cờ biểu tượng thiêng liêng gói ủ hồn dân tộc mà họ đă thề nguyền PHẢI THƯƠNG YÊU và BẢO VỆ. Có chừng hơn một Trung Đội TSQ đă tập họp trước sân cờ, đứng trang nghiêm và thành kính nh́n lên lá Quốc Kỳ c̣n nguyên vẹn màu tươi thắm bay phất phới trên nền mây ngọc bích. Hai TSQ lớp 12 là Nguyễn Văn Minh và Nguyễn Văn Chung bước tới, đứng nghiêm trước kỳ đài theo lễ nghi quân cách, dơ tay chào. Họ từ từ nắm từng nấc giây, cho lá cờ hạ xuống thật chậm và từ tốn như cố kéo dài giây phút thiêng liêng cảm động này, nước mắt đầm đ́a. Tất cả TSQ từ trong các tầng lầu, từ các hố cá nhân, các giao thông hào, sau những gốc cây, bờ tường, sau những mái nhà...., không ai bảo ai, đồng loạt đứng bật dậy đồng thanh cất tiếng hát bài quốc ca. Gần 700 giọng hát hùng tráng cát lên, vang khắp sân trường. Bọn bộ đội nghe, ngơ ngác không phản ứng. Tiếng hát phủ tràn trên tuyến địch vang đến tận bến Dâu, bến Đ́nh............ Mọi người dân Vũng Tàu đă đều nghe và rung động. Tiếng hát bay ra biển khơi, bay lên trời cao, âm thanh lồng lộng theo gió chiều, đất trời cùng ngẩn ngơ rớm lệ theo tiếng hát. Các Thiếu Sinh Quân đă làm lễ mai táng đất nước, đă TRANG NGHIÊM RỬA SẠCH tấm bia DANH DỰ của Quân Đội VNCH, đă vuốt mắt cho Mẹ Việt Nam yên nghỉ qua lễ hạ kỳ lần cuối chỉ một không hai này. Họ hát bằng tiếng nấc thê lương và phẫn uất từ sâu thẳm trái tim, với những nghẹn ngào cùng dàn dụa của nước mắt. Đồng bào cùng thổn thức thương tủi và thổn thức hát theo. Thời gian như ngưng đọng lại trong giờ khắc thiêng liêng và bi thảm, xúc động cùng lẫm liệt đó. Cho đến bây giờ, 22 năm sau, nhiều người vẫn nghe văng vẳng trong sâu kín của buồng tim đă thắt nghẹn, tiếng bi thương hung tráng của các Thiếu Sinh Quân hát bài Quốc Ca trên đất nước, trong ngày cuối cùng của Tháng Tư Đen, ngày oan khiên định mệnh cho dân tộc Việt Đào Vũ Anh Hùng |
| Tự Do Dân Chủ th́ không ai cho dân tộc VN ta cả mà phải tranh đấu giành lại từ tay người CSVN mới có được . Việt Cộng đă và đang làm dùm ta cái mặt trái của tự do dân chủ . CSVN đă nói quá nhiều những danh từ " tuyệt cú mèo" như là : tự do, dân chủ, công bằng xă hội, nhưng các anh ấy đă và đang làm ngược lai??!! Dù sao trong suốt 50 năm qua chính họ đă giúp chúng ta hiểu được trọn vẹn ư nghĩa của hai chữ Tự Do và cái giá phải Trả cho sự tự do ấy phải là ư chí mạnh mẻ của toàn thể dân tộc VN ta cương quyết giành lại th́ mới chiến thắng được kẻ thù . Cuộc chiến cho chính nghĩa Tự Do Dân Chủ là một cuộc chiến đấu lâu dài, CSVN chỉ là một trong những đối trọng của người Việt Tự Do . Khi CSVN sụp đổ rồi đó mới là giai đoạn 1, dân ta c̣n phải xây dựng lại những ǵ đau thương mà dân tộc ta phải gánh chịu, biết bao nổi bất công đă và đang xảy ra trong xă hội VN hiện tại bắt nguồn ngay từ cuộc cải cách ruộng đất sai lầm của CSVN gây ra biết bao người VN bị giết oan uổng và c̣n rất nhiều yếu tố khác đang tiếp tục lan truyền như căn bịnh tham nhũng hết thuốc chữa đang góp phần cho sự băng hoại của xă hội và là động cơ đẩy mạnh cho đảng CSVN mau mau xuống đường hầm không lối thoát. C̣n ai là tội đồ của cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn rồi đây lịch sử VN sẽ làm sáng tỏ khi người dân VN có được tiếng nói tự do. |