Posted: 4/26/2007 6:52:11 AM
Mất nước Frederick UniformsPhạm Văn Bản Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, trại tù hàng binh của Việt Nam Cộng Hoà ở U Minh ăn được chén cháo là ra sân tập họp theo lệnh quản giáo, vệ binh với súng AK, để vào rừng lấy móp. Móp là loại rễ trông giống ngà voi, c̣n gọi là cây bấc, hay lậu dùng làm nón cối cho công an bộ đội. Ngà voi cắm sâu trong rừng tràm śnh lầy hoang dại, quấn chằng chịt bởi giây choại hoặc mây rừng. Muốn khai thác người ta phải cắt cây móp và dọn dẹp xung quanh gốc, rồi đào sâu tận rễ khoảng 4 đến 5 thước và lặn xuống thủy phủ mà bẻ rễ. Vô phúc cho ai đang bơi mà bị ngà voi đă cắt chân, với sức tống lên, mạnh đến nỗi đâm bể bụng! T́nh đồng đội giờ thư 25 (Sài G̣n 28/4/1975) Nguồn: UPI/CorbisBettmann Xung quanh lao trường th́ bộ đội nón cối dép râu và canh gác nghiêm mật. Mặt người nào người nấy th́ lạnh như tiền, bạc t́nh quê hương, bội nghĩa đồng bào… và trông tựa như ôm nỏ thần trên tay và nhả đạn giết sạch người tù. Muỗi ṃng như trấu, đỉa lền bánh canh, trời lạnh như cắt, tôi rét run lập cập và nói chuyện cùng bạn: Nếu giặc ngày xưa bắt dân ta lên rừng lấy ngà voi, th́ giặc ngày nay cũng bắt dân ta vào rừng lấy móp. Ôi, chuyện Mất Nước, th́ ngàn đời trước sau vẫn thế! Xét dưới khía cạnh làm người, th́ xă hội hôm nay con người đang đánh mất chính tâm hồn ḿnh, chớ không chỉ mất dân, mất nước. Điều đáng sợ, là diễn tiến của cái ngày 30 tháng tư này nó xảy ra rất tuần tự, rất hiển nhiên, cho nên nhiều khi đánh mất chính ḿnh, ḿnh trở thành giặc, ḿnh làm hại ḿnh, mà ḿnh không ngờ… Mất Nước cũng đă từng xảy ra trong lịch sử vào cuối thời Hùng, khi quân Bắc phương do Triệu Đà thống lĩnh để xâm chiếm nước ta. Và An Dương Vương xây thành pḥng thủ, nhưng bị sập nhiều lần. Ông vua cũng thuộc ḍng “Hùng gia chi phái” đă không cầu Tổ, mà lại đi cầu Thần Kim Quy tới giúp, và xây xong thành. Thành Cổ Loa cách Hà Nội khoảng 15 cây số và ngày nay c̣n di tích; thành h́nh trôn ốc với chu vi gần 8 cây số, bề dày của chân thành từ 20 đến 30 thước, cao 4 đến 5 thước, mặt rộng 12 thước; ngoài thành có hào sâu và ăn thông với các sông. Sau đó, Thần Kim Quy, tự xưng là Sứ gỉa Thanh Giang từ Biển Đông, c̣n để lại cho An Dương Vương một cái móng chân để làm lăy nỏ, bắn một phát là giết cả vạn người, được gọi là nỏ thần. Ngoài ra, ông thần Kim Quy (rùa vàng) cũng tiếp tay với An Dương Vương xa ĺa truyền thống văn hóa Việt. H́nh như ông cũng không muốn thực sự, hay có ḷng để giúp cho An Dương Vương giữ nước, chỉ đợi cho tới khi mất nước mới chỉ điểm nội tuyến. Thế th́ mọi sự đă xong! Ngày 30 tháng 4 đen đă xập tới! Triệu Đà biết chuyện nỏ thần, liền bày mưu kế và sai hoàng tử Trọng Thủy đến cầu hôn công chúa Mỵ Châu của An Dương Vương. Thời gian ở Loa Thành, Trọng Thủy được Mỵ Châu cho coi cái nỏ thần, và chàng đánh tráo lẫy nỏ. Lấy được nỏ thần Trọng Thủy về nước, rồi cùng cha đem quân qua đánh Loa Thành. Khi phát giác nỏ thần hết linh nghiệm, An Dương Vương đem Mỵ Châu lên ngựa chạy trốn. Dọc đường Mỵ Châu nhổ lông ngỗng nơi chiếc áo đang mặc, làm dấu cho Trọng Thủy t́m theo. Thấy thế, An Dương Vương rút gươm chém chết công chúa, và máu nàng chảy xuống biển trai ăn hóa ngọc. Trọng Thủy chiếm được Loa Thành, dầu thành công trong mưu đồ xâm chiếm, nhưng thương nhớ vợ, chàng nhảy xuống giếng mà chết. Đă v́ ôm mộng xâm lăng, mà phụ nghĩa vợ chồng, th́ chàng cũng phải chết. Đă v́ danh lợi mà không trọn t́nh nhà, th́ cuộc đời cũng không đáng sống, và không có quyền sống! Mặt khác, đă v́ t́nh nhà mà hại nước th́ cũng phải chết. Và đă v́ quyền lực mà hại nhà, th́ cũng phải chết. Tất cả đều chết! Và từ đó lấy nước giếng ấy mà rửa, th́ ngọc trai trở thành sáng đẹp. 1. Giữ Nước Muốn giữ nước th́ phải giữ hồn nước, giữ dân nước, giữ sức nước, và giữ đất nước. Hồn nước được giữ bằng việc sống thực và phát huy truyền thống cao quư của dân tộc. Dân nước có được là nhờ chăm sóc đời sống người dân và để dân chia sẽ trách nhiệm giữ nước. Sức nước mạnh được là nhờ các cơ cấu xă hội, chính trị, kinh tế, và tổ chức quân sự thích đáng và hữu hiệu. Đất nước chỉ c̣n khi thực sự được các yếu tố trên bảo vệ một cách trọn vẹn. Nhưng câu chuyện nàng công chúa làm mất nước và An Dương Vương xây Loa Thành, đă trở thành đề tài suy tư cho nhiều thế hệ. Trải qua bao ngàn năm lịch sử, câu chuyện được tích lũy truyền đạt về kinh nghiệm mất nước của Tổ Tiên. Đây chính là bài học hiếm quư cho dân tộc ta trong công cuộc Giữ Nước ngày nay. Và với khía cạnh bài học làm người, th́ truyền thuyết mất nước mô tả diễn tiến cuộc sống của một con người làm mất chính ḿnh, để bị tha hóa, và mất tất cả. a. Hồn Nước Truyền thống dân tộc Nguồn: adventure-tours-vietnam.com Hồn Nước là tinh thần dân tộc, là truyền thống dân tộc để hướng dẫn mọi người trong nước hành động hữu hiệu cho lợi ích chung của toàn dân. Hồn Nước bao gồm toàn thể lịch sử, tinh hoa văn hóa… tạo nên tinh thần sống của một dân tộc, c̣n gọi là Đạo Sống Việt. Hồn Dân Tộc là hồn thiêng của Ông Bà Tổ Tiên. Các Ngài đă qua đi, nhưng Hồn Thiêng các Ngài vẫn vĩnh tồn ở thế giới bên kia, và có thể phù trợ cho con cháu. Và trong tinh thần văn hóa Việt, An Dương Vương biểu trưng cho phần Rồng/ phần chính trị trong công cuộc giữ nước. Mặt khác, công chúa Mỵ Châu khoác áo lông ngỗng thuộc phần Tiên, tức đại phận văn hóa dân tộc. - Bỏ Hồn Nước. Để chống Triệu Đà, vua An Dương khởi công xây thành mà không chăm sóc, tu chỉnh hay phát triển hệ thống làng thôn. Điểm đặc biệt, trong suốt ḍng lịch sử chưa bao giờ có việc xây thành cho vua chúa. Từ ngày lập quốc, trải qua mấy ngàn năm nước ta không có chuyện xây thành. Các Vua Hùng luôn luôn sống gần dân, như dân, cùng dân chia sẻ trách nhiệm giữ nước, và kiến thiết đất nước. Để thấy rơ hậu qủa khủng khiếp của thành tŕ trên người dân, chúng ta có thể t́m hiểu về các lâu đài ở Châu Âu… Tất cả đều bắt nguồn, hoặc dẫn tới đàn áp, bóc lột, nô lệ. Bởi v́ kẻ có gươm, có súng, có lính, có quyền mà lại có thêm thành lũy che chở th́ trở thành độc tài toàn trị; đang khi người dân tay không, đơn độc, th́ không cả nơi trú ẩn, và biến thành nô lệ. Và dưới mọi h́nh thức hoặc mọi thời, thành tŕ có thể là những thể chế, những điều luật, những cơ cấu của một xă hội do nhóm đặc quyền tạo ra và bảo vệ. Do đó, giai cấp quư tộc chính là nhóm đặc quyền trong mọi thời đại, và trên mọi phương diện. Tuy rằng các đời sau thời Hùng, vua chúa ta cũng xây thành nhưng không phải là nơi tập trung bạo lực. Thủ đô, thủ phủ của nước ta cũng chỉ là những cái làng lớn, trang bị một số cơ sở thích ứng cho nhu cầu hành chính, ngoại giao, nghi lễ mà thôi. Bởi thế, khi nguy cấp vua quan ta sẵn sàng bỏ thủ đô mà chạy qua các làng khác. Mất thủ đô đă không có nghĩa là mất nước, như quan niệm đang có của Tây phương thời nay. Bởi thế, với An Dương Vương th́ việc xây Loa Thành đă tố cáo ông, và đánh dấu quan niệm suy thoái trong việc giữ nước của ông. Xây thành mà không xây làng, là đi ngược với truyền thống ngàn xưa của dân tộc, do đó, xa lạ với nếp sống của người dân trong nước. Ngoài ra, sự kiện thành sập nhiều lần, chứng tỏ hoàn cảnh đất nước ta lúc ấy không đủ khả năng, nhân lực, vật lực, tài lực mà cung ứng cho việc xây thành. Thứ đến, nó chứng tỏ rằng ông không chỉ sống xa ĺa tinh thần dân tộc, mà c̣n xa ĺa đời sống thực tế và thực trạng hiện hữu của đất nước. Khi thành sập nhiều lần, đáng lẽ ra ông phải t́m hiểu, phải thay đổi kế hoạch để ứng hợp với hiện trạng, phải tận dụng sức mạnh thiết thực của toàn dân trong công cuộc giữ nước. Nhưng ông lại đi cậy nhờ người ngoài, cầu tài trí của thần Kim Quy, và từ đó, Loa Thành nói lên khuynh hướng vọng ngoại của người lănh đạo. Việc ĺa bỏ tinh thần dân tộc của ông lại qúa lộ liễu và rơ ràng, đang khi vua quan ta phải nhớ luôn cầu khẩn Tổ, và được Tổ về, chỉ dạy việc nước. Th́ ở đây, ông không cầu Tổ mà lại cầu người xa lạ, cầu Thần Kim Quy.Và Kim Quy chẳng những giúp ông xây Loa Thành, mà c̣n cho thêm cái móng chân để làm lăy nỏ. Nỏ thường đă trở thành nỏ thần, bắn một phát giết vạn người. Với chiếc nỏ thần này, th́ cái tài thiện xạ nổi tiếng của người dân Lạc Việt chúng ta đă trở thành vô dụng, hoặc có thể nói, cả cái tài oanh kích như Thần Báo cũng đă bị coi thường… Từ đó, toàn bộ khả năng dân nước trở thành vô dụng, không cần thiết trong đại cuộc giữ nước. Giờ đây, An Dương Vương đang có hai vũ khí lợi hại và an toàn: thành vững để thủ, nỏ thần để công. Bởi thế từ nay, việc giữ nước chỉ c̣n tùy thuộc vào ngài cố vấn Kim Quy, chớ không cần dân. b. Hồn Giặc Đă xa ĺa nếp sống dân tộc, chỉ cậy nhờ người ngoài ông lại đem công chúa Mỵ Châu mà gả cho Trọng Thủy. Công chúa Mỵ Châu là biểu tượng của tinh thần Việt, đang khi Trọng Thủy con của giặc Triệu Đà, là hiện thân của tham vọng thống trị phương Bắc. Đang là một tên xâm lăng hung dữ khiến cho An Dương Vương phải xây thành để chống cự. Nhưng bỗng nhiên, Trọng Thủy được hiên ngang bước vào tung hoành tận thâm cung Loa Thành. Đang là một tên giặc nguy hiểm, Trọng Thủy trở thành người đầu gối tay ấp của nàng tiên Mỵ Châu. Cái đau của dân tộc ta là điểm này! Từ cái chỗ tùy thuộc vào người ngoài, ông đă bước tới giai đoạn rước giặc vào nhà. Và Mỵ Châu, biểu trưng cho tâm hồn Việt, cũng đă chấp nhận giặc, ôm ấp giặc. Và việc bán nước tiến hành như thế, Mỵ Châu cũng c̣n tiến thêm một bước, và chiều chồng đến nỗi đưa nỏ thần, vũ khí tối mật quốc pḥng, ra khoe cho Trọng Thủy. Tuy không hoàn hảo, nhưng đất nước cũng c̣n tạm thời sống trong yên ổn, nhờ thành vững và nỏ thần. Thế mà, sau khi giặc phá thủng thành vững, Trọng Thủy chui vào cung cấm, th́ giờ đây, nàng làm theo ư giặc, trao luôn cho giặc nỏ thần. Bởi thế nàng coi trọng giặc hơn cả sự an toàn của quê hương dân tộc ta. Nàng yêu qúy giặc hơn cả đồng bào, hơn cả đất nước! Thế th́ c̣n ǵ… là Nước, là Dân? - Nhưng nàng vẫn thấy chưa cho là đủ. Trên lưng ngựa cùng cha chạy trốn, Mỵ Châu c̣n nhổ lông ngỗng nơi chiếc áo đang mặc, để ghi dấu cho Trọng Thủy t́m theo. Thật là chua chát! Thật là đắng cay! Nàng tiên Việt của chúng ta đă hoàn toàn quên ḿnh v́ giặc. Người nàng chỉ c̣n chiếc áo lông ngỗng, h́nh ảnh cuối cùng của Tiên, mà nàng cũng nhẫn tâm dứt bỏ để làm dấu dẫn đường cho giặc. C̣n h́nh ảnh phũ phàng nào đau nhức hơn? Thân phận của những kẻ ĺa xa tinh thần dân tộc, chối bỏ cội nguồn, th́ chúng đem chính bản thân, đem máu thịt của Tổ Tiên, để làm phương tiện lót đường cho giặc cướp nước. - Lông đă nhổ, lớp áo tiên mỏng manh bên ngoài cũng đă hết, không c̣n, và nàng gục chết. Lâu nay, tuy tâm hồn đă đổi thay, nhưng nàng vẫn c̣n giữ được chiếc áo Tiên, hay vỏ Việt dầu chỉ là h́nh thức bề ngoài… Giờ đây nàng lộ nguyên h́nh làm giặc, là giặc. Nàng là biểu trưng cho tinh thần, cho ư thức văn hóa trong việc giữ nước. Nhưng nay mất Tiên, th́ mất nước. Mất theo nàng, mất theo cha nàng, đau đớn thay đă kéo theo cả một dân tộc! 2. Mất Nước Thế là nàng cùng cha làm cho nước mất nhà tan. Cũng chỉ v́ từ nguyên nhân Rồng An Dương Vương từ bỏ truyền thống, xa ĺa hiện trạng dân nước, để rồi chính ông đi cậy nhờ và lệ thuộc vào người nước ngoài. Bởi đó mà Tiên Mỵ Châu chấp nhận kết thân với giặc, rồi làm theo ư giặc, và chết cho giặc. An Dương Vương để Hồn Nước dần dần tiêu hao với những quyến rũ vật chất hào nhoáng và lợi ích hời hợt bên ngoài. Khi nền tảng dân tộc bị phai lạt nơi bất cứ dạng thức nào trong đời sống dân nước, th́ tại phần đó, nơi đó, nước bắt đầu mất. Hồn mất trước, Nước mất sau. - Bỏ Dân. Việc bỏ mất hồn nước luôn luôn kéo theo việc bỏ dân, làm mất dân. Khi giới quyền chức đă tin tưởng và ỷ lại vào người ngoài, th́ người dân trong nước bị rẻ rúng, bị khinh khi, và bị coi là phương tiện để phục vụ cho quyền lợi riêng tư của nhóm người thống trị. Sự kiện ông quyết định xây thành, th́ nó đă tố cáo ông bỏ quên trách nhiệm chăm sóc đời sống cho toàn thể mọi người dân trong nước. Trước đây mọi người đều là con dân, đều được ông chăm sóc. Nhưng từ nay, với quyết định xây thành của ông, th́ những kẻ ngoài thành sẽ bị phó mặc cho bất trắc. Thành lại hư sập nhiều lần. Gánh nặng đó lại đổ xuống người dân. Dân phải chịu sưu cao thuế nặng, mưa nắng dăi dầu đi công tác đắp đập xây thành. Gia đ́nh ly tán, vợ con nheo nhóc. Ruộng nương thiếu người cấy cày. Đă chẳng lo cho dân, ông lại hành hạ dân, và bắt dân phục vụ cho ông. - Xây Thành. Khi xây xong thành, ông thực sự sống xa cách dân. Trong suốt mấy ngàn năm thời Hùng, vua quan Việt đă không hề dám xây thành, không hề dám sống xa dân… trái lại để sống với dân, chia sẻ cuộc sống hạnh phúc với toàn dân. Nhưng hôm nay ông tự ư rút ḿnh vào ốc đảo. Đối với ông, dân bây giờ chỉ c̣n có nghĩa là bao gồm nhóm người đang lo phục dịch cho ông ở trong thành. Đang khi toàn dân lại sống ở ngoài thành, ngoài sự chăm sóc của ông, họ trở thành mục tiêu, vùng oanh kích tự do, cho nỏ thần của ông sát hại. Chuyện khác hẳn với ông là cả ngàn năm sau, Đức Lê Đại Hành đi chân đất ra bờ hồ câu cá. Dân chúng Việt bao lại xung quanh, vỗ tay cổ vơ mỗi khi cá cắn câu. Sự kiện vua quan Việt sống gần với dân, vui với dân như thế, đă làm cho sứ gỉa Trung Hoa phải ngạc nhiên và thừa nhận sự khác biệt với văn hóa Hán tộc. - Thêm vào, thành ốc và nỏ thần trở thành vũ khí quốc pḥng hiện đại, th́ lại càng khiến cho ông sống xa dân hơn. Đă không gần dân, ông cũng chẳng cần dân. Một phát nỏ thần đă có thể giết hàng vạn giặc, nên sự góp sức của dân trong việc giữ nước là không cần thiết. Trong công cuộc kiến thiết và bảo vệ đất nước, người dân trở thành kẻ thừa thăi, thành người ngoại cuộc. Ông coi dân như giặc! - Thành Giặc. Từ chỗ đối xử với dân như giặc, ông đem công chúa gả cho Trọng Thủy, hoàng tử của giặc. Việc làm thông gia giữa hai ḍng vua, ông tạo ra giai cấp tư bản đặc quyền đặc lợi. Ông muốn từ nay, cả gia đ́nh ông phải trở thành một ḍng họ, một đảng phái chính trị độc quyền, và không c̣n liên hệ với nhân dân. Ông hoàn toàn tách rời dân, tách rời truyền thống của văn hóa Việt từng đặt nền tảng trên bài học: Công chúa Tiên Dung lấy dân cùng khổ Chữ Đồng! Thế mà ông dám rước giặc vào cung. Ông hủy bỏ công dụng của Loa Thành trong mục đích chống giặc, và ông bỏ quên cả những quân dân đang chiến đấu ở trong thành. Ông đă chỉ cần biết có gia đ́nh ông. Quanh ông giờ đây chỉ c̣n có hai dân: một là con dân Mỵ Châu đă tiết lộ bí mật quốc pḥng, hai là chàng rể Trọng Thủy làm gián điệp nằm vùng. Như thế, ông chỉ c̣n Mỵ Châu là con, là dân, người dân cuối cùng. Ông đă giao Mỵ Châu trách nhiệm quản trị và điều hành nỏ thần, một thứ báu vật bạo lực trong công cuộc kháng chiến thần thánh. Ông tập trung quyền lực vào gia đ́nh hay đảng độc tài toàn trị, với những người thân của ông. Việc tập trung quyền lực, từ nay dân trở thành miếng mồi ngon cho tham vọng không đáy của nhóm quyền chức, giúp chúng mặc t́nh hà hiếp, bóc lột và tham nhũng hối lộ. Ai làm chủ bạo lực nỏ thần, người đó đương nhiên có toàn quyền trên sinh mạng và tài sản của dân. Nhóm đặc quyền tranh nhau xương máu của dân. Toàn dân trở thành mối lợi, thành món hàng của bọn người chỉ biết tư lợi và quyền lực. Thời nào cũng thế! Kết qủa của tranh chấp quyền lực là tai họa giáng xuống toàn thể dân tộc Việt Nam. Và rồi ách thống trị cũng theo chân Triệu Đà và Trọng Thủy trùm lên toàn thể đất nước Việt Nam. Giặc bắt dân ta lên rừng lấy ngà voi, xuống biển ṃ ngọc trai. 3. Dân Nước Bỏ trách nhiệm chăm sóc dân, rồi lại hành hạ dân, xa lánh dân, coi dân như thù địch… và ông chỉ dựa vào thành lũy, chỉ dựa vào bạo lực nỏ thần, chỉ dựa vào nhóm đặc quyền của ông ở trong nước mà cấu kết với bọn tư bản nước ngoài để mà làm giàu, mà áp bức bóc lột nhân dân… th́ việc giữ nước chỉ c̣n là những thủ đoạn tranh quyền đoạt lợi. Nhân dân Việt Nam trở thành mục tiêu cho bất công, cho bóc lột, cho bạo hành. Giữ nước trở thành cướp nước! Theo truyền thống văn hóa Việt, giữ nước là việc của toàn dân. Dân không giữ nước th́ giặc giữ dùm! Không cho dân giữ nước th́ chỉ là cướp nước! a. Sức Nước - Sức do dân. Dưới khía cạnh sức nước, ông từ bỏ truyền thống và xa ĺa cuộc sống người dân, để quyết định xây thành, chính là lúc ông làm băng họai sức mạnh xă hội của nước. Việc xây thành làm hao tổn của cải, tài năng và nhân lực của nước. Vậy mà thành c̣n bị hư sập nhiều lần, nên sức mạnh kinh tế lại càng suy sụp thêm. Khi sống trong thành, xa dân, không c̣n biết đến đời sống người dân, ông bỏ mất sức mạnh chính trị. Khi được nỏ thần, khi không c̣n vận dụng sức dân, khi làm cho dân thấy ḿnh trở thành người ngoại cuộc thừa thăi, chính là lúc ông đánh mất sức mạnh tinh thần trong công cuộc giữ nước. - Sức chiến đấu. Làm mất dân ông bỏ mất những sức mạnh nền tảng của việc giữ nước. Nhưng ông cũng chưa thấy nguy cơ v́ ông đặt trọn niềm tin vào Loa thành và Nỏ thần. Loa thành bảo đảm thế thủ an toàn, và Nỏ thần đang làm mọi người khiếp sợ. Loa thành và Nỏ thần là biểu trưng của sức mạnh quân sự, khả năng giữ nước cuối cùng của An Dương Vương. Nhưng rồi ông thua kém trên mặt trận ngoại giao, khi bị rơi vào thủ đoạn của giặc. Sau khi hao tốn biết bao công qũy để xây thành ngăn giặc, ông lại long trọng rước giặc vào tận thâm cung. Chính ông đă loại bỏ công dụng của sức mạnh pḥng thủ của ông. Thành đă bị phá lũng, ông chỉ c̣n cái nỏ thần. Nhưng ông lại bị tiếp tục thua trên mặt trận gián điệp, và Trọng Thủy biến con dân ông thành nội tuyến, và nàng đă tiết lộ bí mật quốc pḥng. Khi để Trọng Thủy đánh tráo lăy nỏ, trao vũ khí giữ nước cuối cùng vào tay giặc, An Dương Vương đă để mất luôn sức mạnh kỹ thuật. Không sức mạnh, lấy ǵ giữ nước? b. Đất Nước Công cuộc giữ nước bộc lộ rơ ràng nhất trong việc bảo vệ từng tấc đất của quê hương. Thế mà ông dám bỏ mất dần. Nếu trước kia chưa xây Loa thành, ông c̣n để tâm chăm sóc toàn thể đất nước. Nhưng khi xây thành, ông chỉ c̣n giữ lại mảnh đất trong thành. Đối với ông, đất nước ta không c̣n dải h́nh chữ S và trải rộng ra khắp bờ cơi, hải đảo… mà thu hẹp lại trong các hào lũy. Ông chểnh mảng trong việc giữ nước, để chỉ chú tâm tới cái làng ông đang ở. Thế nhưng khi lo cưới chồng cho Mỵ Châu, rước tên giặc Trọng Thủy vào nội cung, ông lại v́ t́nh nhà mà hủy bỏ sự pḥng thủ của thành. Rút cuộc, ông chỉ c̣n thấy cái nhà của ông. Và rồi, khi để Mỵ Châu trao nỏ thần vào tay giặc, ông đă không có khả năng giữ nổi mấy chục thước đất cuối cùng. An Dương Vương thực sự không c̣n đất sống. c. Ảo Tưởng Giữ Nước Thế là hết, ông đă để mất hồn nước, để mất dân nước, để mất sức nước, và cũng đă mất đất nước. Tuy nhiên ông lại không ngờ, ông lại vẫn tưởng ḿnh đang giữ nước. Thực vậy, dầu hồn nước có mất, cũng chỉ có nghĩa là ông đă thực hiện quan niệm cá nhân của riêng ông; dầu người dân có bị loại ra khỏi việc giữ nước, nhưng cũng chính nhờ đó mà ông lại dễ dàng thống trị hơn; dầu chàng rể là con giặc, nhưng trước mắt đă trở thành con ông; dầu công chúa nằm trong tay giặc, nhưng nàng vẫn c̣n mặc áo lông ngỗng; dầu giặc có tung hoành ở thâm cung, nhưng ṿng thành bên ngoài vẫn kiên cố vô song; và dầu lẫy thần đă bị tráo, chiếc nỏ vẫn c̣n nguyên dạng như cũ. Tất cả đều cho An Dương Vương cái ảo tưởng là đất nước vẫn an toàn, và ông là một người lănh đạo và hoàn thành nhiệm vụ giữ nước một cách “đỉnh cao trí tuệ!” Nhưng qủa thực, sở dĩ đất nước c̣n và ông vẫn c̣n như đang giữ nước, không phải v́ ông pḥng thủ hữu hiệu, mà v́ giặc chưa xua quân tiến chiếm. V́ vậy, khi Triệu Đà xua quân tới, An Dương Vương chỉ c̣n cách lên ngựa chạy trốn. Ông không c̣n ǵ. Tất cả đă bị giặc chiếm. Cả đứa con ngồi sau lưng cũng đă thuộc về giặc, cũng đă là giặc. Ôi dân tộc đồng bào! Ôi giang sơn gấm vóc! 4. Vấn Đề Giữ Nước Trong công cuộc giữ nước, người giữ nước tuyệt hảo là người cùng với toàn dân chia sẻ cuộc sống. Mọi người đều chung phần trách nhiệm giữ nước. Tuy ở tầm độ khác nhau, nhưng mọi chức vụ đều là trách nhiệm. Nhưng đàng này, chính An Dương Vương ĺa bỏ truyền thống dân tộc mà quyết định xây thành. Chính ông nhờ thần Kim Quy, van xin nỏ thần. Chính ông hành hạ dân, từ khước dân. Ông cũng đón rước Trọng Thủy, đặt nỏ thần trong tay Trọng Thủy. Chính ông cho Triệu Đà mọi điều kiện để đặt ách nô lệ lên toàn dân. Trong diễn tiến đó, chúng ta có thể thấy tất cả đều chỉ là những giai đoạn của con người An Dương Vương. Từ vị trí của người lănh đạo là phải biết chăm lo cuộc sống an dân thịnh nước, An Dương Vương lại để tham vọng cho ông một ảo tưởng giữ nước, ông là thần là thánh. Qua việc ông cấu kết với thần Kim Quy, qua việc xây xong thành và làm chủ chiếc nỏ thần. Ông đă bỏ nguyên tắc nền tảng đầu tiên của người làm việc nước, là phải xác tín Thân Phận Là Người của ḿnh. Từ chỗ coi ḿnh là thần thánh, An Dương Vương khinh rẻ người dân, không c̣n nhớ tới điều kiện thứ hai của người làm việc nước, là ḿnh đang Mang Nặng Trách Nhiệm. Ông dùng thành lũy để bảo vệ ông, và dùng nỏ thần để uy hiếp mọi người. Ông quyết tâm hưởng thụ, và bắt toàn dân phục vụ ông. Thay v́ cùng với toàn dân chia sẻ gánh nặng giữ nước, ông chỉ c̣n chuyên dùng bạo lực của thành ốc và nỏ thần. Cũng từ đó, ông tạo ra giai cấp đặc quyền. Ông chọn một hoàng tử để làm pḥ mă, dầu đó là con của giặc. Ông c̣n tập trung quyền lực vào gia đ́nh của riêng ông. Ông giao trọn việc giữ nước, giờ đây chỉ c̣n cái nỏ thần vào tay đứa con gái ngờ nghệch của ông. Từ đây, đối với ông, dân chỉ là một thứ nô lệ phải luôn luôn cúi đầu khuất phục ông. Thế là, đối với nước, đối với dân, ông không c̣n là người giữ nước, mà đă trở thành tên giặc cướp nước, trở thành một loại Triệu Đà thứ hai. Làm vua, làm việc nước, nhiều khi c̣n có nghĩa là giặc nước. - Thời suy thoái, khi An Dương Vương xây thành và đặt dân dưới sự ḱm tỏa của nỏ thần. Đó là chế độ, dầu dưới bất cứ danh xưng cao quư nào, mà xây dựng trên vơ lực, trên pháp lư của kẻ mạnh, th́ cũng mạnh được yếu thua. - Khi An Dương Vương tiếp nhận hoàng tử ngoại bang và trao nỏ thần cho con gái, chính là lúc thành lập chế độ gồm giai cấp đặc quyền, nắm giữ mọi quyền hành, và hưởng thụ trên xương máu người dân. - An Dương Vương biến ḿnh thành giặc Triệu Đà thứ hai, là h́nh thức lộ liễu nhất của thống trị, thủ đoạn, mỵ dân. 5. Kết Luận Vịnh Hạ Long Nguồn: mmail.com.my Mỵ Châu và Trọng Thủy đều đă chết. Nhưng chúng ta cảm động nh́n những viên ngọc do máu Mỵ Châu trở thành sáng đẹp khi rửa trong nước giếng chôn xác chồng nàng là Trọng Thủy. Nàng đă yêu thương và tin tưởng chồng đến giao phó cả nước non, đưa nỏ thần cho chàng xem. Nàng đă yêu chàng trong tuyệt vọng đến liều lĩnh, khi nhổ lông ngỗng làm dấu hiệu trên đường chạy trốn chàng. Và giờ đây, cả những giọt máu của nàng cũng tươi sáng lên khi được tắm trong nước tẩm xác chàng. Ôi t́nh nghĩa nàng tiên Việt! Nàng đă sống trọn t́nh yêu. Dầu vậy, với cái chết của Mỵ Châu, Tổ Tiên đă xử tử các chủ thuyết cá nhân vị kỷ. Với việc Trọng Thủy nhảy xuống giếng, th́ các chủ nghĩa tập thể bá quyền cũng bị nhận ch́m chết theo. Bởi thế, chúng ta chỉ có thể sống xứng đáng, trọn vẹn và hạnh phúc, khi thể hiện đầy đủ các đặc tính bẩm sinh vừa cá thể vừa xă hội của ḿnh. Có nhà mà cũng có nước! Có nước mà cũng có nhà! Lynnwood, ngày 23 tháng 4 năm 2007 © DCVOnline
Posted: 4/26/2007 7:27:55 AM
Bỏ trách nhiệm chăm sóc dân, rồi lại hành hạ dân, xa lánh dân, coi dân như thù địch… và ông chỉ dựa vào thành lũy, chỉ dựa vào bạo lực nỏ thần, chỉ dựa vào nhóm đặc quyền của ông ở trong nước mà cấu kết với bọn tư bản nước ngoài để mà làm giàu, mà áp bức bóc lột nhân dân… th́ việc giữ nước chỉ c̣n là những thủ đoạn tranh quyền đoạt lợi. Nhân dân Việt Nam trở thành mục tiêu cho bất công, cho bóc lột, cho bạo hành. Giữ nước trở thành cướp nước! Theo truyền thống văn hóa Việt, giữ nước là việc của toàn dân. Dân không giữ nước th́ giặc giữ dùm! Không cho dân giữ nước th́ chỉ là cướp nước!
Posted: 4/26/2007 7:44:17 AM
Làm vua, làm việc nước, nhiều khi c̣n có nghĩa là giặc nước. - Thời suy thoái, khi An Dương Vương xây thành và đặt dân dưới sự ḱm tỏa của nỏ thần. Đó là chế độ, dầu dưới bất cứ danh xưng cao quư nào, mà xây dựng trên vơ lực, trên pháp lư của kẻ mạnh, th́ cũng mạnh được yếu thua. - Khi An Dương Vương tiếp nhận hoàng tử ngoại bang và trao nỏ thần cho con gái, chính là lúc thành lập chế độ gồm giai cấp đặc quyền, nắm giữ mọi quyền hành, và hưởng thụ trên xương máu người dân. - An Dương Vương biến ḿnh thành giặc Triệu Đà thứ hai, là h́nh thức lộ liễu nhất của thống trị, thủ đoạn, mỵ dân. 5. Kết Luận Vịnh Hạ Long Nguồn: mmail.com.my Mỵ Châu và Trọng Thủy đều đă chết. Nhưng chúng ta cảm động nh́n những viên ngọc do máu Mỵ Châu trở thành sáng đẹp khi rửa trong nước giếng chôn xác chồng nàng là Trọng Thủy. Nàng đă yêu thương và tin tưởng chồng đến giao phó cả nước non, đưa nỏ thần cho chàng xem. Nàng đă yêu chàng trong tuyệt vọng đến liều lĩnh, khi nhổ lông ngỗng làm dấu hiệu trên đường chạy trốn chàng. Và giờ đây, cả những giọt máu của nàng cũng tươi sáng lên khi được tắm trong nước tẩm xác chàng. Ôi t́nh nghĩa nàng tiên Việt! Nàng đă sống trọn t́nh yêu. Dầu vậy, với cái chết của Mỵ Châu, Tổ Tiên đă xử tử các chủ thuyết cá nhân vị kỷ. Với việc Trọng Thủy nhảy xuống giếng, th́ các chủ nghĩa tập thể bá quyền cũng bị nhận ch́m chết theo. Bởi thế, chúng ta chỉ có thể sống xứng đáng, trọn vẹn và hạnh phúc, khi thể hiện đầy đủ các đặc tính bẩm sinh vừa cá thể vừa xă hội của ḿnh. Có nhà mà cũng có nước! Có nước mà cũng có nhà!
Việt Nam Cộng Ḥa Muôn Năm !!
Posted: 4/26/2007 3:54:26 PM
TRẦN Đ̀NH NGỌC Cụ ở cùng lều với tôi, tại Subic Bay – Phi luật Tân - từ những ngày đầu tháng 5 năm 1975, sau khi tôi rời khỏi Sàig̣n bằng đường biển vào trưa ngày 30-4-1975 ngay sau khi Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng Cộng Sản Không biết cụ tới đây lúc nào, chỉ biết khi tôi đặt chân lên ḥn đảo tuyệt đẹp này th́ đă thấy cụ ở đây rồi. Tên cụ là Tường - Lê văn Tường - người huyện Phú Thọ, tỉnh Thanh Hoá, Bắc Việt. Dáng người gầy nhưng trông c̣n khang kiện, năm đó cụ vào khoảng 65, 66 tuổi với những nét nhăn trên trán, trên má và cḥm râu bạc trắng như cước. Ngày ba bữa cụ rủ tôi đi lấy cơm từ một nhà ăn rộng lớn do Chính Phủ Hoa Kỳ đài thọ, với số người làm bếp đủ để phục vụ mười lăm ngàn đến hai mươi ngàn người trên đảo mà tất cả toàn là người Việt tị nạn, sau khi đă đào thoát khỏi Việt Nam trước hoặc sau ngày 30-4-75. Mỗi buổi chiều, khi lấy đĩa cơm xong, tôi với cụ Tường thường mang ra bờ đá trước nhà ăn, sát chân sóng, vừa ăn vừa nói chuyện, có khi tới tối mịt mới trở về lều. Trong câu chuyện cụ kể cho tôi nghe, có câu chuyện vô cùng thương tâm của chính gia đ́nh cụ mà hôm nay tôi viết lên đây để cống hiến bạn đọc. Và sau đây là lời cụ Tường. “Thanh Hóa được kể là một trong những tỉnh Chính phủ Cộng Sản Hà nội dùng làm thí điểm trong những đợt người Cộng Sản gọi là “Đấu tranh chính trị, đấu tố địa chủ, cường hào ác bá” hay “Cải cách ruộng đất” tại Bắc Việt. Trước Hiệp Định Genève năm 1954, nghĩa là trước khi Cộng Sản hoàn toàn làm chủ đất Bắc từ vĩ tuyến 17 trở ra, trong khi những vùng khác không có th́ tại Thanh Hoá cũng đă có những cuộc đấu tố, hiến điền rầm rộ rồi. Trong những cuộc đấu tố đó, biết bao nhiêu lương dân đă gục ngă, biết bao gia đ́nh đă tan nát chỉ v́ chính sách quá thâm độc, dă man của Cộng Sản. Cộng Sản không muốn bị mang tiếng là cướp ruộng đất của dân nên chúng đánh thuế thật nặng qua những cuộc “lượng giá” ruộng tốt, ruộng xấu để đóng nhiều hoặc ít lúa cho Chính phủ mà những nông dân ngồi b́nh nghị là chính những người được chúng huấn luyện để làm công việc đó. V́ vậy, nhiều gia đ́nh, nhất là những gia đ́nh địa chủ trước kia, đă phải “lậy” mà dâng ruộng đất cho chính phủ, Cộng sản gọi là “hiến điền”. Số lương dân bị đấu tố và bị chết trong vùng rất nhiều, tôi không thể nhớ hết. Chỉ xin kể ra vài trường hợp điển h́nh trong đó có một linh mục Công giáo, cha Phạm Tần - sau này lên Giám mục - và thân phụ tôi, một người tôi kính yêu suốt đời. Cha Tần ở xứ Phúc Lăng, huyện Quảng Xương, bị Cộng Sản đưa ra đấu tố v́ Cộng sản muốn diệt ngài, diệt một người có uy tín với giáo dân, có thể kích động giáo dân nổi lên chống Cộng Sản, chống những sự tham tàn, độc ác của Cộng Sản. Dù là một người không Công giáo, tôi cũng biết rơ điều đó. Bọn Cộng Sản đánh cha hai trận bằng tầu lá cọ có gai nhọn và cứng dài đến hai đốt ngón tay, đánh từ chập tối đến nửa đêm, cho đến khi cha ngất đi không c̣n biết ǵ nữa mới thôi. Trong trận đấu tố này, chúng dùng một đứa con gái tên Chữ, khoảng 21, 22 tuổi. Bố mẹ con Chữ đang là câu, săi cho nhà xứ Phúc Lăng, từ lâu vẫn sống nhờ sự giúp đỡ của các cha. Bọn cán bộ Cộng sản dạy con Chữ cách căm thù cha Tần. Đầu tiên chúng nhồi vào đầu óc đứa con gái ngu dại này rằng chính cha Tần và các linh mục trong nhà xứ đă bóc lột sức lao đông của cha con nó từ bao lâu nay. Lẽ ra gia đ́nh nó phải được ăn sung mặc sướng, có nhiều tiền, nhiều thóc như nhà xứ Phúc Lăng. Nhưng v́ cha Tần tham lam, không trả công tương xứng nên cha Tần chỉ làm giầu cho chính ḿnh trong khi gia đ́nh nó nghèo túng, thiếu ăn, thiếu mặc. Bọn cán bộ c̣n bắt con Chữ phải dựng đứng câu chuyện bỉ ổi là trước mặt dân chúng, con Chữ phải nói rằng chính cha Tần đă bắt nó phải ngủ với ông bao nhiêu lần, đă trêu ghẹo nó, làm tầm bậy tầm bạ làm sao vv... Cán bộ Cộng Sản cũng bắt con Chữ và mọi người phải gọi là “thằng Tần” chứ không được gọi là cha Tần như trước. Đến ngày đấu tố, bọn cán bộ vào nhà xứ lôi cha Tần ra trước sân cuối nhà thờ, ở đó dân chúng đă bị thúc đẩy đi dự đấu tố đông nghẹt một sân rộng. Con Chữ đă làm tất cả những ǵ bọn Cộng sản muốn, kể cả việc nó trùm váy của nó lên đầu cha. Và sau đó là những trận đ̣n cho đến khi ngất đi. Cần phải để ư là bọn cán bộ không dùng những người ngoài Công giáo để đấu tố các cha. Chúng dùng ngay những người Công giáo và dùng ngay chính những kẻ xưa nay được tiếng là thân tín với các cha để đấu tố các cha. Như cha Tần, sau khi bị đánh lần thứ hai, chúng tưởng ngài chết rồi nên gọi giáo dân đến khiêng về nhà xứ mà chôn. Lúc ngài được khiêng vào pḥng khách nhà xứ, một người đàn ông tên Mạnh và con Chữ qú xuống nắm lấy tay ngài khóc, nói: - Chúng con bị bọn cán bộ bắt buộc phải đấu tố cha, phải nói dựng đứng những chuyện cha không có. Chúng con đă đấu tố bậy. Xin cha tha lỗi cho chúng con. Nhưng cha Tần đă hôn mê, ngài c̣n biết ǵ nữa đâu. Tất nhiên sau đó bao nhiêu ruộng của nhà xứ Phúc Lăng mà chúng buộc là của cha Tần, bị xung công gần hết, chỉ c̣n để lại mấy sào không đủ nuôi vài miệng ăn trong nhà xứ. Sau đó đến cha Thước, xứ Thổ Ngơa. Cung cách chúng dùng để đấu tố cha Thước cũng y như những bài bản đă áp dụng cho cha Tần. Chúng muốn hạ uy tín các linh mục là những cán bộ ṇng cốt của Giáo hội để không một giáo dân nào tin tưởng và tuân phục mệnh lệnh các cha và chúng tiến đến dần đến chỗ tiêu diệt tôn giáo.” Cụ Tường nói một thôi không nghỉ. Giọng cụ lẫn vào tiếng gió và sóng biẻn vỗ vào bờ đá làm tôi có cảm tưởng những linh hồn oan khuất của những lương dân vô tội bị Cộng sản giết oan trong các đợt đấu tố dă man như đang hiển hiện về đây nói cho chúng tôi nghe những căm hờn uất hận khôn nguôi. Cụ Tường ngưng một lúc, lấy trong túi áo ra một cái ví nhỏ xíu như của đàn bà vẫn dùng. Cụ mở ví lấy ra một tờ giấy mỏng, lấy thuốc lá sắp đều lên tờ giấy. Cụ vấn thuốc hút. Tôi phải giúp cụ bằng cách ngồi che gió và bật quẹt cho cụ. Khi điếu thuốc đă cháy, cụ rít một hơi, thở khói, nói: - Tôi đă bỏ hết quần áo sau khi chuyển qua mấy chiếc tầu nhưng cố giữ ít thuốc vấn v́ tôi hút thuốc lá của Mỹ nóng lắm, chịu không được. Ông tính cuộc đời của tôi c̣n ǵ. Bố chết phải bỏ nằm đấy mà chạy. Hai lần bỏ vợ, bỏ con. Bây giờ trôi dạt ở đây một thân một ḿnh..” Tôi an ủi cụ: - Thôi cụ ạ, vận nước. Vả lại chẳng qua cũng cái số. Cụ có buồn cũng không ích ǵ. - Vẫn biết thế, ông Vũ ! Nhưng sao tôi vẫn cảm thấy buồn. Buồn cho nước, cho đồng bào bị cái khổ nạn không biết bao giờ mới qua. Buồn cho gia đ́nh, cho thân thế ḿnh, những người liên hệ với ḿnh, cả một cuộc đời long đong lận đận đầy khổ nhục và nước mắt. Rồi mai sau, với cái hiện tại như thế th́ con cháu ḿnh sẽ ra sao, sẽ là cả một cuộc đời tăm tối ở trước mặt, hết thế hệ này sang thế hệ khác. Thôi được, tôi nói tới đâu rồi, hả ông Vũ? - Dạ, thưa cụ đang nói đến chỗ bọn cán bộ đấu tố cha Thước cùng một kiểu như cha Tần ... Cụ Tường nâng ly nước vừa lấy từ nhà ăn lên nhấp một ngụm: - Ờ, ờ, tôi cũng cần phải thêm với ông rằng bọn cán bộ ghép cho các linh mục cái tội “phong kiến” để đem ra đấu tố. Ông có biết sau khi cha Tần bị đánh bằng cái tầu lá cọ, gai đâm vào người cha lấy ḱm nhổ ra được gần một chén ăn cơm. Gai đâm khắp ḿnh mẩy, chỉ trừ đầu là chúng chừa ra mà thôi v́ sợ đánh vào đầu sẽ chết mau. Ông thấy chúng dă man chưa? Các linh mục, như tôi nói, chúng dùng toàn người Công giáo để đấu tố; một số địa chủ th́ chúng dùng toàn người làm, tá điền và chúng bắt cả con cái phải đấu tố cha mẹ như trường hợp cụ Cai Bái ở làng Gia Đại. Cụ Bái có hai người con trai, một người làm tới chức Chủ tịch Tiểu khu, người kia là Cán bộ Liên khu 3, thế mà hai người này phải về đích thân đấu tố, chửi bố mẹ là địa chủ phú nông bóc lột vô sản, thậm chí nhổ nước miếng vào mặt bố mẹ, đứng nh́n cho những con vợ tá điền trùm váy vào mặt bố mẹ. Tôi hỏi ông, chủ nghĩa vô luân như thế th́ c̣n trời đất nào không? - Thưa cụ đúng. Chủ nghĩa nghịch ḷng dân, trái đạo trời làm sao đứng vững được. Tôi thấy gió bắt đầu lạnh, trời cũng đă muộn muộn mà ông cụ có vẻ không được khoẻ, bèn đề nghị: - Nghe chuyên cụ thâu đêm c̣n muốn nghe, nhưng có lẽ đă hơi lành lạnh. Mời cụ về nghỉ, mai lại xin cụ cho nghe tiếp. Thu nhặt chén đĩa giấy, tôi đem bỏ vào một cái thùng phuy lớn gần đó rồi cùng cụ trở về lều. Mặt biển đen thẫm mênh mông trước mặt với vài ngọn núi nhỏ trơ vơ. Tiếng sóng đập vào ghềnh đá bộp bộp thành một âm thanh đều dều nghe thật buồn nản. Nỗi kinh hoàng mới vài tuần trước đây tại Sàg̣n khi Sàig̣n rơi vào tay Cộng Sản cùng với nỗi đau đớn của cái cảnh quốc phá gia vong làm cho thần trí tôi nhiều lúc mê muội đi không c̣n nghĩ ḿnh đang sống hay đă chết, hoặc sống nhưng là sống với cái xác không hồn. Một phút bỗng tiêu tan hết, một phút sụp đổ hết. Số phân ḿnh cùng với số phận của đồng bào và cả quốc gia dân tộc. Đau đớn biết chừng nào! Những lời an ủi cụ Tường lúc năy cũng chính là những lời tôi tự an ủi. Tôi và cụ Tường chui vào lều. Đám trẻ đă rủ nhau đi coi xi-nê. Mỗi tối, quân đội Mỹ có ba, bốn chỗ chiếu phim để giải trí cho đồng bào tị nạn. Có những gia đ́nh đi được cả vợ chồng con cái, ông bà, cha mẹ, anh em, họ hàng. Họ vui như Tết và có thể họ mang được vàng bạc, đô-la theo. Họ thấy cuộc di tản này quả có lư. Ngày ba bữa, cả gia đ́nh mấy chục người sắp hàng đi lấy cơm ăn xong ra bờ biển chơi, tối xem xi-nê. Họ vừa ḷng với cảnh di tản và không có một điều ǵ phải lo nghĩ. Trái lại, có nhiều gia đ́nh vợ mất chồng, con mất cha, anh em tứ tán. Họ buồn rầu, khổ sở, lo lắng. Có những người ngồi khóc cả ngày. Thậm chí có người sang tới Guam rồi ghi tên xin trở về Việt Nam. Có lần tôi hỏi cụ Tường: - Người ta kẹt gia đ́nh ở Việt Nam nên có nhiều người xin trở về. Cụ nghĩ sao? Nét mặt rầu rầu, cụ đáp: - Tôi bỏ lại nhà tôi và năm đứa con tại Sàig̣n. Tôi cũng đau khổ lắm chứ. Nhưng bảo trở về sống với Cộng sản th́ nhất định không. Thà tôi chết dập chết vùi nơi đây c̣n hơn. Ông Vũ tính coi, tôi đă sống với chúng và chúng đă bắt chúng tôi phải làm tập thể, ăn tập thể. Đàn ông ở riêng, đàn bà ở riêng. Mỗi buổi sáng đánh một tiếng cồng th́ ra đồng làm. Trưa đánh một tiếng cồng th́ về ăn cơm. Có ban hoả thực riêng lo việc nấu nướng. Chiều lại ra đồng làm rồi tối lại về. Ăn cơm tối xong, họp hành kiểm thảo đến nửa đêm mới được đi ngủ để sáng sớm lại ra đồng. Con người như cái máy chả c̣n ǵ là sinh thú của cuộc đời nữa. Vợ chồng th́ ba, bốn tháng chúng cho gặp nhau một lần. Chết đem ra đồng chôn. Sống như thế th́ ông bảo tôi trở về để làm cái ǵ ? Tôi quá sợ cái chế độ đó rồi. Ngày hôm sau, cụ Tường và tôi đi lấy cơm sớm hơn. Lại ra chỗ cũ ngồi và cụ lại kể tiếp: “Hôm nay tôi kể cho ông Vũ nghe về cái thảm cảnh của gia đ́nh tôi, cái thảm cảnh mà mỗi lần kể là tôi lại khóc. Hồi đó, ông bố tôi làm Chánh tổng, tổng Thủy Cơ. Phải biết tỉnh Thanh Hoá có bẩy phủ, bẩy huyện và tổng Thủy cơ. Tổng Thủy Cơ bao gồm tất cả các thuyền bè đậu ở khắp nơi thuộc về tỉnh Thanh Hoá. Nói thế chắc ông Vũ cũng mường tượng ra Tổng Thủy Cơ lớn như thế nào. Dân số trong tổng Thủy cơ rất đông và chức Chánh tổng tổng Thủy Cơ cũng được coi ngang hàng với các chức tri huyện, tri phủ trong tỉnh. Trong đợt đấu tố đầu vào những năm 1950-51, bố tôi thoát được v́ ông t́m cách khéo léo với cán bộ xă, huyện để chúng khỏi báo cáo lên cấp trên. Nhưng đến đợt cải cách ruộng đất năm 1956-57 th́ chúng đem bố tôi ra đấu tố. Cũng nên mở một dấu ngoặc ở đây là sau Hiệp định Genève tháng 8 năm 1954, dân Thanh Hoá, cả Công giáo và không Công giáo đều muốn di cư vào Nam. Số người muốn ở lại với bọn Cộng Sản đa số là cán bộ hoặc liên hệ gia đ́nh với cán bộ, không có bao nhiêu. Nhưng bọn cán bộ rất tinh quái. Chúng t́m đủ mọi cách để ngăn chặn làn sóng di cư vào Nam, y như nhiều nơi khác. Có những gia đ́nh rục rịch trốn đi, chúng biết được liền cản trở và để tâm trả thù, làm hại. Gia đ́nh tôi muốn đi lắm lắm, nhất là bố mẹ tôi, thế mà không sao đi được. Chúng tôi biết chỉ có vào Miền Nam sống dưới chế độ Quốc gia th́ mới có tự do sinh sống, tự do ngôn luận, tự do tôn giáo. C̣n ở với bọn chúng th́ mất hết tự do, chẳng những vậy, gia đ́nh tôi bị chúng để ư theo dơi, ngộp thở lắm ông à ! Tháng 9 năm 1956, nhân cái đợt gọi là “Cải cách ruộng đất” do tên đồ tể Trường Chinh phát động, bọn cán bộ đem bố tôi ra đấu tố. Chúng ghép cho bố tôi cái tội là địa chủ bóc lột tá điền, trước kia là Chánh tổng tổng Thủy Cơ ăn hối lộ và bóc lột dân thuyền bè sinh sống trên sông nước. Chúng kể ra cho bố tôi một trăm thứ tội. Nào là ngủ với vợ thằng tá điền này, đánh thằng tá điền kia, không cho vay lúa thóc, bỏ đói những tên tá điền khác. C̣n mẹ tôi th́ chúng ghép vào tội cho tá điền vay lúa thóc lấy lời nặng, trả công người làm với giá lương quá thấp, chết đói vv... Chúng đem trói bố mẹ tôi vào một cái cọc trước sân đ́nh rồi cho các tá điền trước đây làm cho bố mẹ tôi cứ thế mà chửi rủa, quát tháo, lăng nhục. Con vợ một thằng tá điền tên Cam đă đứng vén váy đái vào đầu bố tôi, c̣n mẹ tôi th́ nó tát cho sưng cả mặt. Chúng định đưa cả tôi ra đấu tố v́ chúng đă ghép tôi vào hàng địa chủ. Vả lại, trước kia tôi có giúp đỡ bố tôi trong công việc hàng tổng, lo về giấy tờ hộ tịch mà người ta gọi tôi là hộ lại của Tổng Thủy Cơ. Nhưng h́nh như có một vài đứa đề nghị sao đó, nói rằng nên để tôi vào đợt sau th́ hơn v́ đem tôi ra đấu cả đợt này cùng với bố mẹ tôi th́ e rằng nhân dân sẽ cho là nhà nước tư thù gia đ́nh tôi, đem tất cả ra mà đấu tố. Nhờ thế mà tôi thoát chết. Sau khi chúng đấu tố bố mẹ tôi và đánh đập mắng nhiếc suốt một ngày trời th́ chúng cho về, bảo rằng sẽ c̣n đưa ra đấu tố một lần nữa vào một tuần sau. Chúng ra hạn cho bố tôi phải làm bản tự thú hết mọi tội lỗi, những tội tưởng tượng mà chúng đưa ra đều phải nhận hết, đồng thời xin Chính phủ, Đảng và nhân dân tha tội. Mục đích của chúng là khi đă nắm được bản thú tôi của bố tôi th́ mọi chứng cớ đă hiển nhiên, tờ thú tội phù hợp với những lời khai gian, vu cáo của bọn tá điền. Rồi, từ đó, chúng sẽ tịch thu hết ruộng đất, tài sản của gia đ́nh tôi bằng một toà án nhân dân do chúng lập ra. Sau trận đấu tố đó, bố tôi về mang bệnh nằm liệt giường. Mẹ tôi th́ đỡ hơn nhưng ông nghĩ coi, tuổi già sức yếu, các ngài làm sao chịu được những điều khổ nhục đau đớn như thê? Ngày xưa, mọi người đều gọi bố tôi là cụ Chánh (Chánh tổng), bây giờ chúng bắt mọi người phải gọi bằng thằng. Chúng cô lập gia đ́nh nhà tôi. Đem đồ đi chợ bán, chúng không cho người ta mua, nếu chúng tôi muốn mua những đồ cần thiết, chúng cũng không bán. Chúng cấm mọi người liên lạc, lui tới. Chúng ŕnh rập đêm ngày và làm mọi cách để khủng bố tinh thần người trong nhà. Chúng cho người ta có cảm tưởng rằng giầu là một trọng tội, dù giầu bằng sự cần cù, chân chỉ, làm ăn lương thiện. C̣n ra làm việc dưới thời Pháp thuộc, dù làm để giúp dân giúp nước, làm một cách ngay thẳn thanh liêm cũng là có tội, có trọng tội đối với chúng. Tôi chỉ lấy làm lạ rằng sao hồi đó Việt cộng ghét thực dân Pháp đến thế mà bây giờ, sau 30 năm kể từ ngày 19-8-45, Việt cộng lại o bế Pháp hơn ai hết, thân thiện với Pháp hơn bất cứ nước nào. Vậy mà trước Hiệp định Genève 1954, người dân nào bị chúng gán vào tội Việt gian tay sai cho Pháp th́ chỉ có chết, không cách ǵ sống nổi. Thật kỳ lạ cho cái miệng lưỡi của Cộng Sản.” Cụ Tường lại lấy thuốc ra vấn, thông lệ của cụ sau mỗi bữa ăn. Hôm nay gió nhẹ chứ không thổi mạnh như hôm qua. Mặt trời đỏ ối đang từ từ ch́m dần xuống mặt biển. Vài chiếc tầu đậu tít ngoài khơi hiện h́nh trên đám mây trắng trôi nổi trên nền trời xanh. Một đám trẻ ḥ hét ầm ĩ thả những chiếc tầu nhỏ xíu chúng gấp bằng giấy xuống biển và ngồi trên bờ nh́n cho chúng trôi. Thỉnh thoảng một cái kỳ đen của một con cá lớn chạy dài trên mặt nước làm đám người đứng trên bờ hô hoán lên là kỳ của cá mập. Tôi móc thuốc lá ra - bao Winston - hút với cụ Tường một điếu cho vui. Đám người ngồi hóng gió thưa dần. Họ trở về lều hay chuẩn bị đi xi-nê. Chiều xuống lặng lẽ với vài tia nắng mờ nhạt c̣n thoi thóp trên lùm cây cao phía chân núi. Tôi ch́m đắm trong nỗi buồn thấm thía, không biết rồi tương lai của ḿnh sẽ đi về đâu. Kéo xong vài hơi thuốc, cụ Tường lại tiếp tục: “Lẽ ra một tuần sau đó chúng lại đưa bố tôi ra đấu tố một lần nữa như chúng đă nói. Nhưng v́ ông bố tôi đau nặng quá không lết nổi, nên chúng tuyên bố hoăn lại cho đến khi nào ông cụ khỏi. Tuy vậy, chúng vẫn cô lập và ŕnh rập gia đ́nh tôi đêm ngày. Mẹ tôi muốn mua bán thứ ǵ phải nhờ người em họ, chồng cô ấy vốn làm việc cho chúng từ hồi c̣n bí mật, để cô ấy mua bán giùm những thứ cần thiết và đến tối mới chui bụi tre phía sau đem vào cho chúng tôi. Dạo đó tôi đă có vợ và bốn đứa con. Gia đ́nh tôi ở cách nhà bố mẹ tôi khá xa. Vả lại, như tôi đă nói, tôi chưa phải là mục tiêu của bọn chúng lúc đó v́ vậy c̣n được thong thả đi lại, nhưng cứ nghĩ đến cái tai nạn bố mẹ đang phải chịu, tôi không cầm được nước mắt. Sau ba tháng, bố tôi hồi phục v́ nhờ bà cô lén mua thuốc bắc giùm tại một ông lang măi tận Ba Làng. Sắc thuốc th́ phải sắc lén kẻo mùi thuốc bắc đánh sang hàng xóm, bọn công an vào khám được th́ tội càng nặng thêm. Đồ ăn đồ uống có cái ǵ ngon cũng phải xào nấu lén. Mua được một con gà để nấu cháo cho bố tôi ăn cho chóng khỏi, phải cắt tiết ở ngoài cánh đồng, c̣n lông th́ đem chôn ở góc vườn. Ăn giấu, ăn đút c̣n hơn là kẻ có tội nữa. Tôi chưa thấy cái chánh sách nào kỳ cục như thế. Chỉ c̣n mười ngày nữa là đến tết Đinh Dậu (1957), bọn cán bộ đến báo cho bố mẹ tôi là chúng sẽ đem bố mẹ tôi ra đấu tố một lần nữa vào đúng ngày hăm ba tháng chạp năm Bính Thân, ngày ông Táo chầu trời. Trước đó, tôi cũng đă được biết qua một người bạn rất thân đang làm việc với chúng là sau bố mẹ tôi th́ sẽ đến lượt tôi. Tội nghiệp bố tôi, nào ông cụ đă khoẻ hẳn đâu cơ chứ. Mới hơi hơi lại người sau một cơn đánh đập tàn ác thập tử nhất sinh, thiếu thuốc, thiếu đồ bồi dưỡng. Ông cụ mới đi đi lại lại được trong sân nhà và từ nhà trên xuống nhà bếp th́ chúng lại đưa ra đấu tố nữa. Hai thằng đầu trâu mặt ngựa vốn xưa kia là tá điền của bố tôi, bố tôi coi chúng như con, lấy tô rất nhẹ lại c̣n dựng vợ gả chồng cho chúng, cho tiền, cho thóc đối đăi hơn cả cháu ruột. Thế mà giờ này chúng nghe theo lời bọn cán bộ nhất định giết bố tôi cho bằng được. Đối với chúng, Trí, Phú, Địa, Hào c̣n phải căm thù hơn cả giặc xâm lăng. Chúng muốn cho toàn dân ngu dốt và nghèo đói để chúng dễ cai trị và chỉ có một giai cấp thống trị là bọn chúng. Chiều hăm hai tháng chạp, bố tôi gọi tất cả con cái tề tựu lại trước bàn thờ tổ tiên. Có vài người chị gái tôi lấy chồng xa không thể đến được, c̣n th́ tất cả đều hiện diện đầy đủ. V́ là gần Tết, bọn cán bộ mải đi sám sửa tét nhất nên chúng lơ là việc canh chừng gia đ́nh tôi nên mọi người mới tề tựu đông đủ được. Khi con cái đă ngồi trên mấy cái chiếu trước bàn thờ, bố tôi sai tôi đi thắp hương và nến lên. Cụ mặc quần áo trịnh trọng, đội khăn và đi giầy tử tế rồi đứng trước bàn thờ lâm râm khấn và lễ. Xong cụ đứng bên cạnh để mẹ tôi, rồi lần lượt đến chúng tôi, ai ai cũng đều khấn vong linh ông bà tổ tiên và lạy trước bàn thờ. Mẹ tôi và mấy đứa em gái thấy khung cảnh trang nghiêm và cảm động, lại nhớ đến hoàn cảnh đau đớn của gia đ́nh, bất giác bật khóc. Bố tôi thấy vậy không cho khóc, cụ nói bọn cán bộ nghe được th́ chúng giết cả nhà. V́ vậy chỉ c̣n nghe những tiếng nấc tức tưởi với hàm răng nghiến chặt cho tiếng khóc khỏi bùng ra. Lễ xong, bố tôi bảo mọi người ngồi xuống chiếu, c̣n cụ th́ ngồi ngay chính giữa sập, mẹ tôi ngồi một góc bên cạnh. Cụ dơng dạc nói: - Nhà ta từ các cụ cho đến đời bố mẹ đều cố gắng ăn hiền ở lành. Làm việc cho hàng tổng th́ bố cố giữ thanh liêm v́ nhà ta có bát ăn bát để từ lâu, đâu có thiếu thốn ǵ mà phải đào khoét của dân. C̣n ruộng nương, điền thổ trong nhà là do ông bà để lại, tá điền cấy rẽ th́ lấy tô thật nhẹ, nhẹ hơn người ta nữa thế mà từ ngày chánh phủ mới lên, họ khép cho bố những tội tầy đ́nh, nào địa chủ bóc lột, nào cường hào ác bá. Họ đă đem bố ra đấu tố một trận và kết quả là bố tưởng chết ngay sau đó. Bây giờ mới tỉnh dậy được một tí, họ lại đem ra đấu tố nữa. Bố nghĩ trước sau bọn cán bộ cũng sẽ t́m cách giết bố cho bằng được, mà giết một cách khổ nhục, ê chề. V́ vậy, có thể lúc lâm chung bố không c̣n kịp gặp mẹ và các con, ngày hôm nay bố gặp mẹ và các con một lần cuối. Bố tôi nói đến đó th́ nghẹn lời, cụ không nói tiếp đuợc nữa v́ quá cảm động. Mà mẹ tôi với anh em chúng tôi cũng không cầm được nước mắt, tiếng khóc oà vỡ ra như nước lũ phá bờ đê. Bố tôi thấy vậy, nghĩ là quá nguy hiểm nên khoát tay ngăn mọi người và nói: - Bà và các con cấm không được khóc. Khóc tụi nó nghe thấy th́ c̣n khổ hơn. Hăy nghe đây! Sau khi bố chết rồi th́ cả nhà may ra sẽ được yên với chúng nó hơn, v́ cái gai là bố chúng nó đă nhổ được rồi. Chỉ có thằng Tường có ra làm việc với tổng mà lại có tư điền mấy chục mẫu vậy sau bố có lẽ chúng nó để ư dến con. Con liệu xem có cách nào trốn để bảo toàn được cái mạng chứ con ở nhà th́ bố chết không nhắm mắt đâu. Nói xong, ông cụ bảo mọi người giải tán rồi vào trong buồng nằm. Tôi cũng trở về nhà v́ lúc đó cũng gần tối. Đêm hôm đó tôi không ngủ được. Phần nghĩ rằng ngày mai chúng sẽ đưa bố tôi ra đấu tố, có lẽ lần này bố tôi chết nên ông cụ đă trối trăn hết tất cả. Cứ nghĩ đến một đời bố tôi lo lắng cho mẹ tôi và chúng tôi, ăn hiền ở lành, người trong tổng Thủy Cơ, ngay cả nhiều nơi trong tỉnh Thanh Hoá cũng quí mến bố tôi v́ tinh thần hay cứu giúp người và làm việc nghĩa. Thế mà bây giờ bọn chúng thù ghét bố tôi đến như thế, không muốn để bố tôi sống nữa. Về phần tôi là con trai cả trong gia đ́nh, tôi có bổn phận nhiều hơn các chị và các em tôi để nhang khói cho ông bà cha mẹ. Nhưng tôi biết rơ, sau bố tôi là đến lượt tôi, v́ vậy bố tôi hết mực khuyên tôi phải cao chạy xa bay th́ mới bảo toàn được mạng sống. Tôi có hai người đồng chí cùng muốn trốn với tôi. Người thứ nhất là bạn cùng làm việc trong hàng tổng, giữ chức thư kư, tên anh ta là Các, cũng trạc tuổi tôi, có vợ và năm đứa con. Người thứ hai là ông thầy bên Công giáo vẫn gọi là thầy Điền, đang dạy trẻ tại xứ Thổ Ngoă. Từ hôm cha Thước bị đem ra đấu tố v́ mỗi cái tội bị ghép là “phong kiến”, ông thầy Điền đâm ra sợ hăi quá chừng. Ông t́m gặp tôi v́ trước kia ông hay đến nhờ cậy bố tôi và tôi việc hàng tổng. Ông dám nói thật với tôi ư định trốn đi v́ ông biết tôi cũng đang t́m đường trốn và có thể tin cậy tôi được. Có lẽ nay mai tôi phải kiếm cách gặp hai người đó để bàn tính ngày lên đường v́ nghe đồn đă có ít người trốn được vào Nam rồi. Hai giờ đêm đó, con bé cháu con cô em tôi (ở chung nhà với bố mẹ tôi) đến báo cho tôi hay bố tôi đă mổ bụng tự sát. Nó nói sau khi con cái về hết rồi, bố tôi đi lấy một con dao đi rừng thật tốt đem ra mài. Cả nhà cứ nghĩ có lẽ tết gần đến, cụ mài dao như mọi năm, để có thái thịt thái rau ǵ chăng nên chẳng ai để ư. Mài dao xong lại thấy cụ vào pḥng nằm. Đến hai giờ đêm, mẹ tôi nghe tiếng bố tôi rên la nhè nhẹ, liền thắp đèn lên chạy vào th́ thấy máu đổ ra hàng vũng lớn trên nền nhà mà bố tôi ruột gan phơi cả ra ngoài, mắt trợn trắng, sắp chết rồi. Khi ông cụ ra dấu cho bà cụ ghé tai vào miệng để ông cụ trối th́ bà cụ chỉ nghe được có năm tiếng th́ thào gần đứt hơi: "Bảo thằng Tường trốn ngay !” Nói xong câu đó, cụ trút hơi thở cuối cùng. Ngay lập tức, mẹ tôi cho đứa cháu gái len lỏi đi lối tắt đến nhà tôi báo tin dữ, đồng thời bảo tôi liệu mà trốn đi ngay, chớ có thương tiếc ǵ nữa. Nghe đứa cháu nói xong, tôi khóc oà lên, thương cho bố tôi quá và cũng cảm phục bố tôi quá can đảm, thà tự giết ḿnh hơn là để bọn cán bộ giết, thà chết như thế c̣n hơn là sa vào tay bọn chó sói. Nhưng tôi phải bụm miệng ngay lại. Bố tôi đến lúc chết vẫn c̣n nghĩ đến tôi, mấy lời cuối cùng của cụ là giục tôi trốn đi. Vậy tôi phải cố gắng làm theo ước nguyện của Người để linh hồn Người được mát mẻ nơi chín suối. Tôi bảo con cháu ra về đồng thời quay dặn vợ tôi vài câu, nh́n qua mặt mấy đứa con đang ngủ, rồi cứ thế, với một bộ quần áo độc nhất trên người và ít tiền trong túi, tôi đến nhà anh Các. Tại đây, tôi bàn kế hoạch trốn đi với anh và anh đồng ư ngay. Tuy nhiên, chúng tôi phải đợi đến đêm hôm sau mới đi được v́ c̣n nhờ người thông báo cho thầy Điền. Chúng tôi muốn có bạn đồng hành v́ đi toàn đường rừng rất nguy hiểm, người nọ dựa vào người kia, lúc khoẻ đă vậy lúc đau ốm, có bạn cũng đỡ nhiều. Sở dĩ bọn cán bộ không truy lùng tôi ngay v́ sau khi bố tôi chết rồi, mẹ tôi không động tĩnh ǵ hết, cứ mặc quần áo và đắp chăn chiếu cho ông cụ y như cụ hăy c̣n sống. Mẹ tôi cũng cấm con cháu trong nhà không được khóc và cấm loan tin bố tôi đă chết ra ngoài. Có lẽ mẹ tôi dụng tâm giúp tôi một lần cuối cùng để cho tôi đi thoát v́ nếu bọn cán bộ biết bố tôi đă chết, chúng đến nhà không thấy có mặt tôi là truy lùng tôi ngay. Tối hăm ba ông Táo chầu trời, vào lúc vàng vàng mặt trời, bọn cán bộ kéo đến nhà bố tôi cùng với những tên tá điền phản chủ, vô ân bội nghĩa. Chúng vào trong nhà quát ầm ĩ lên: "Thằng Thiềng đâu? Hăy ra đây cho nhân dân xử tội !” Mẹ tôi chỉ tay vào trong buồng. Bọn chúng tông cửa chạy vào nhưng tất cả đều bổ ngửa ra khi thấy bố tôi đă chết. Tự sát chết. Dĩ nhiên chúng tra khảo mẹ và các em tôi rất dữ nhưng đầu mối là bố tôi mà bố tôi đă chết rồi, chúng có làm ǵ chăng nữa th́ cũng đến thế thôi. Một tên trong bọn sực nhớ đến tôi, liền la lên: ”C̣n thằng con của nó nữa, thằng Tường.” Thế là cả bọn bàn kế hoạch truy lùng tôi nhưng lúc đó tôi đă cùng hai người bạn vào sâu trong rừng rồi. Sở dĩ tôi biết được các chi tiét xẩy ra sau khi đi v́ có mấy người làng sau này cũng trốn được vào Sàig̣n kể lại cho nghe. * * * Cuộc hành tŕnh xuyên sơn của chúng tôi vô cùng gian khổ. Khởi hành ngày 23 tháng chạp mà đến tháng tư năm sau chúng tôi mới tới được khu vực do quân đội Quốc gia kiểm soát tại Quảng Trị. Từ Thanh Hoá, nếu đi theo quốc lộ I, chúng tôi phải đi qua Nghệ An, Hà tĩnh, Quảng b́nh rồi mới đến Quảng Trị. Cách Quảng Trị hơn 30 km là cầu Hiền Lương, bắc qua sông Bến Hải, ranh giới giữa hai miền Nam Bắc. Sang được bờ phía Nam sông Bến Hải đă là điều mừng lắm rồi. Nhưng chúng tôi đâu có dám đi theo quốc lộ. Con đường chúng tôi đi c̣n xa và nguy hiểm hơn con đường ṃn bọn cán bộ Việt Cộng sau này dùng để tải bom đạn và người vào quấy phá miền Nam. Có khi, mỗi ngày chúng tôi chỉ đi được hơn chục cây số, lại phải nghỉ và trốn v́ sợ bọn chúng bắt gặp. Đă có những nhóm người bị chúng bắt, chúng đem xử tử ngay, không cần phải giải về quê quán. Một lần ba anh em chúng tôi lạc vào một bộ lạc người thiểu số, chẳng biết là Mường hay Mán, ở gần biên giới Lào - Việt. Mới đầu, bọn người này làm rất dữ, tôi tưởng phen này chắc là bị chúng giết v́ ngôn ngữ bất đồng, không sao giải thích cho họ hiểu được. Nhưng sau nhờ có một ông già trong bộ lạc đứng ra nói với tên tù trưởng và đưa chúng tôi về nhà, một cái nhà sàn ngay giữa làng. Ông già và vợ con ông ta đối đăi với chúng tôi rất tử tế. Nào cho ăn, cho quần áo thay để tắm giặt, cho uống rượu cần và líu lo với chúng tôi cả ngày nhưng chúng tôi có biết họ nói ǵ. Ông bà già có một người con gái chừng hai mươi tuổi, xinh xắn, dễ thương. Tên cô là Mây Mali. Cô thường sắp cơm cho chúng tôi ăn, dẫn chúng tôi ra suối và kể cho chúng tôi nghe những chuyện thật dài nhưng chúng tôi hoàn toàn không hiểu, chỉ gật đầu tràn. Chúng tôi lưu lại nhà của Mây Mali một tuần lễ cho lại sức v́ cả tháng chỉ toàn ăn đồ khô và ngủ trên cành cây trong rừng. Có mấy viên thuốc cảm đưa đi uống đă hết, chúng tôi chỉ sợ bệnh sốt rét rừng giữa đường th́ thật là nguy khốn. Một bữa, ông già ra hiệu bảo với chúng tôi ông sẽ kiếm cho chúng tôi mỗi người một cô vợ. Riêng thầy Điền trẻ nhất bọn và khá đẹp trai, ông sẽ gả Mây Mali cho. Nghe hai ông bà già nói, chúng tôi cứ cười ngặt cười nghẽo. Hoàn cảnh này mà dám nghĩ đến chuyện lấy vợ lấy con sao? Giá có tiên thực chúng tôi cũng không dám. Mạng sống đang như sợi chỉ mành treo chuông c̣n dám bay bướm sao? Chúng tôi khoát tay chối từ với ông già nhưng ông không hiểu lại nghĩ chúng tôi từ chối lấy lệ. Và ông làm ngay điều ông định làm. Tối hôm đó, ông già bảo thầy Điền nằm riêng ra rồi cho Mây Mali đến nằm cạnh thầy. C̣n tôi và Các th́ ông dẫn ở đâu đến hai cô con gái khác. Ông nói những ǵ với hai cô này rồi một cô lại kéo tay tôi và một cô đến kéo tay Các đưa ra cửa. Tôi và Các khựng lại không chịu đi. Hai cô này có vẻ rất ngạc nhiên, nói một tràng với ông già. Ông già lại nói với tôi và Các, và cầm tay tôi và tay Các đặt vào tay hai cô gái. Nhưng chúng tôi vẫn không chịu đi. Rốt cuộc hai cô gái Mường tiu nghỉu ra về trong khi ông già buồn bă lắm. Cuộc “t́nh duyên” của tôi và Các với hai cô gái không êm đẹp chút nào, nhưng cuộc “t́nh duyên” của Mây Mali và thầy Điền cũng không hơn ǵ. Sau khi hai cô gái ra khỏi nhà ông bà già, Điền lại chổ ba chúng tôi vẫn nằm ngủ và nằm miết ở đó tới sáng. Tội nghiệp cho Mây Mali, cô bị bẽ bàng lại c̣n bị bố mẹ phiền trách, làm như cô không đủ tài thu hút đàn ông. Sáng hôm sau gặp chúng tôi, mặt cô cứ đỏ nhừ lên. Dù ông bà già thiểu số tốt cách mấy, chúng tôi cũng phải lên đường. Vả lại, sau khi dàn xếp việc gả mấy cô gái cho chúng tôi không xong, ông bà già không c̣n mặn mà với chúng tôi như trước và có lẽ muốn chúng tôi đi sớm. Chúng tôi cũng biết điều đó và sửa soạn lại lên đường. Ngày nh́n thấy bờ sông Bến Hải là ngày vui mừng khôn tả. Chúng tôi nh́n thấy sự sống, nh́n thấy Tự Do, nh́n thấy tương lai sáng lạn. Riêng tôi không khỏi buồn v́ trốn đi giữa lúc bố chết. Mẹ, vợ, con và các chị em tôi bây giờ ra sao? Có đỡ bị hành hạ không? Cứ nghĩ đến đó, ḷng tôi thắt lại. Sau khi tŕnh diện toà Tỉnh Trưởng Quảng Trị, chúng tôi được cấp phát giấy tờ và ít tiền làm lộ phí. Sau đó cả ba chúng tôi đều quyết định vào Sàig̣n để làm lại cuộc đời mới. Tôi bị cắt đứt với gia đ́nh không liên lạc được. Năm 1960, tại Sàig̣n, tôi lại lập gia đ́nh với người con gái một gia đ́nh hết ḷng thương tôi như con ruột. Nhà tôi sau đó có với tôi năm đứa con, ba trai, hai gái. Cháu gái lớn nhất năm nay đă 13 tuổi. Cháu đang học lớp 8 trung học.” Cụ Tường ngưng một chút để nghỉ. Giọng cụ lạc đi khi nói đến người vợ và 5 đứa con thân yêu đang ở bên kia bờ đại dương, không biết sống chết thế nào. Cụ đứng lên. Tôi biết ư cụ đă muốn về. Trên đường về lều, cụ bảo tôi: “Tôi biết trước là phải chạy mà không sao thu xếp cho vợ con cùng đi được, ông Vũ ạ. Nhà tôi cũng biết tôi ở lại là chết nên khuyến khích cho tôi đi y như người vợ năm xưa ở Thanh Hoá cũng chỉ nghĩ đến cái mạng sống của tôi mà thôi. Chín đứa con thân yêu, hai lần chạy giặc Cộng, tôi không mang theo được đứa nào để an ủi khi tuổi già xế bóng. Hai người vợ sống chết với ḿnh, cả hai lần bỏ lại. Ông nghĩ đă đau đớn chưa? Nhưng tôi không làm sao hơn được. Tôi ghê sợ bọn chúng quá rồi, thà tôi chết c̣n hơn phải sống với Cộng Sản.” Tôi cứ để cụ nói cho vơi bớt đau khổ. Tôi chỉ nghe và cảm nhận. Càng thấm thía khi chính hoàn cảnh tôi lúc đó không hơn ǵ hoàn cảnh cụ, cũng như hoàn cảnh một số đông đồng bào di tản đang ở trên đảo Subic này. Ngày sang Guam, tôi với cụ Tường cùng đáp một chuyến bay và tôi với cụ lại ở cùng lều tại Orote Point. Sau đó, tôi đi đảo Wake kiếm gia đ́nh, c̣n cụ đi Camp Pendleton, California và từ đó tôi không c̣n gặp cụ nữa. (Đón đọc:” Mười bốn năm sau”, đoạn kết của câu chuyện có thực, thương tâm này.)
Posted: 4/26/2007 4:10:55 PM
Phần Kết Trốn Chạy MƯỜI BỐN NĂM SAU *TRẦN Đ̀NH NGỌCLTS - Truyện ngắn “Trốn Chạy” đă đăng từ tháng 8-2004. Nhân vật chính là cụ Lê văn Tường đă trốn khỏi nanh vuốt Cộng Sản hai lần. Lần đầu vào năm 1957 từ tỉnh Thanh Hoá vào miền Nam Việt Nam sau khi người cha bị đem ra đấu tố, phẫn uất mổ bụng chết. Lần sau vào ngày 30-4-1975 từ Sàig̣n đến đảo Guam và sang Hoa kỳ. Người ta nói “Quả đất tṛn” cũng không phải là vô lư. Trong phần kết luận truyện “Trốn Chạy”, một truyện có thực, tôi có viết rằng, do sự khuyến khích của Ban Quản trị trại, để có chỗ đón tiếp những người mới, chúng tôi đă bay từ Subic Bay vào Guam, sau khi ở đó khoảng một tháng từ đầu tháng 5-1975. Tôi với cụ Tường cùng đi một chuyến bay DC10 và lại ở cùng biêu-đinh tại Orote Point. Sau đó, tôi đi đảo Wake kiếm gia đ́nh bị thất lạc, c̣n cụ đi Camp Pendleton – California và từ đó, tôi không c̣n gặp cụ nữa. Ấy vậy mà tôi lại gặp cụ Tường hơn 14 năm sau, tức là năm cuối cùng của thập kỷ 80, năm Liên Sô và các nước chư hầu Cộng Sản cùng với bức tường ô nhục Bá Linh sụp đổ tan tành. Tôi gặp cụ trong một tiệc cưới con gái người bạn thân ở San Diego, một cách hết sức ngẫu nhiên. Đúng là “Hữu duyên thiên lư năng tương ngộ”, nếu không, tôi đâu có đoạn kết này để gửi đến quí bạn đọc đă đọc “Trốn Chạy”, một câu chuyện thực 100%, chưa có đoạn kết. Lại cũng một sự t́nh cờ, chủ nhà xếp tôi ngồi cùng bàn với cụ và tôi đă nhận ra cụ trước khi cụ nh́n ra tôi. Có vẻ có da có thịt và khoẻ mạnh hơn hồi ở Guam nhưng trông cụ già đi nhiều - mười bốn năm c̣n ǵ - những nếp nhăn trên trán trên má sâu hơn trước, đôi mắt không c̣n tinh anh, linh hoạt như hồi ở Guam và cử chỉ, nói năng cũng chậm nhiều. Tuy nhiê, tôi vẫn nhận ra cụ: - “Xin lỗi cụ, có phải cụ là cụ Tường không ?” Cụ ngó trân tôi, miệng mỉm cười, vẫn nụ cười khi xưa: -“ Phải, tôi là Tường. Sao ông biết tôi ?” - “ Cụ c̣n nhớ người ở chung lều với cụ ở đảo Subic Bay và Orote Point không ? Tôi là Vũ đây cụ.” Cụ Tường reo lên: - “Chao ơi ! Ông Vũ ! Bảo sao tôi cứ ngờ ngợ. Bao nhiêu năm bây giờ tôi mới gặp lại ông đây, ông Vũ ?” - “Hơn mười bốn năm. Thời gian trôi nhanh quá hả cụ ?” - “Nhanh lắm. Tôi đă tám chục, già quá rồi. C̣n ông, trông cũng không khác xưa bao nhiêu.” - “Cám ơn cụ. Thế gia đ́nh cụ ra sao và bây giờ cụ ở tỉnh nào ?” Cụ Tường trỏ bà cụ ngồi cạnh và bà cụ gật đầu chào tôi: - “Đây là nhà tôi. Nhà tôi và năm cháu ở Sàig̣n đă được sang đoàn tụ với tôi hai năm nay, hiện ở thành phố San Diego. Thế gia đ́nh ông sao ?” Tôi trỏ bà xă ngồi cạnh để giới thiệu và nói cho cụ biết gia đ́nh tôi cũng đă được đoàn tụ đầy đủ. Nhớ lại câu chuyện gia đ́nh cụ, cụ đă kể cho nghe khi tôi và cụ ở đảo Subic Bay, tôi hỏi cụ: - “Cụ ơi, ở đây không tiện nhưng nếu khi nào rỗi rảnh, mời cụ lại nhà tôi chơi nhắc lại câu chuyện ở xứ Phúc Lăng và Thổ Ngơa ngày xưa, được không cụ ?” Cụ Tường sốt sắng: - “Được lắm chứ. Tôi cũng có ư nghĩ đó vừa mới đây. Ông cứ cho địa chỉ và số điện thoại, tôi sẽ đến thăm ông.” Tôi nghĩ lẽ ra tôi đến thăm cụ mới phải, nhưng cứ phân vân. Tại nhà cụ, nếu đ̣i cụ kể chuyện đời xưa, chuyện cụ đă có một bà vợ và mấy người con ở huyện Phú Thọ, tỉnh Thanh Hoá mà v́ trốn chạy nạn Cộng Sản, cụ phải bỏ lại để vào Nam, rồi cụ lấy bà này, người đàn bà đang ngồi cùng bàn với tôi th́ e rằng không tiện, mặc dù đối với cụ có thể là không có ǵ trở ngại.
Posted: 4/26/2007 4:18:01 PM
( TRO^'N CHA.Y TT )...Tôi tiếp cụ Tường tại nhà tôi vào một buổi chiều thứ sáu đầu tháng mười hai, gió bấc thổi xuống khá lạnh tuy không có tuyết. Cụ nói bà cụ bị cảm nên xin cáo lỗi. Khách hôm đó chỉ có cụ và một người bạn thân của tôi, anh Chung, mới từ Virginia sang thăm gia đ́nh tôi. Sau bữa cơm tối, chúng tôi ra pḥng khách, ngồi kế bên ḷ sưởi cho ấm và từ lúc này, chúng tôi có thể đàm đạo về những chuyện... ngày xưa. Phải, chuyện ngày xưa ! Nhà tôi pha trà sen, mới được chị tôi gửi từ Việt Nam qua, sai cháu nhỏ bưng ra. Những tách trà bốc khói, tản mạn hương sen trong pḥng khách ấm cúng làm chúng tôi cảm thấy nhớ quê hương vô tả. Tôi đẻ sẵn mấy thanh củi lớn, châm thêm vài thanh vào ḷ, gỗ cháy nổ tí tách, ḷ than hồng đỏ rực trông thật vui mắt. Tôi biết ư hai vị khách quí nên nói: - “Cụ Tường và anh Chung cứ hút thuốc tự nhiên, tại nhà tôi không có kiêng cữ khói thuốc đâu.” Thường ngày tôi không hút thuốc nhưng lúc này thấy cần phải châm một điếu. Tôi không mời cụ Tường v́ biết cụ vẫn hút thuốc vấn như ngày xưa, c̣n anh Chung th́ đang giở gói Cherry và cái tẩu Dunhill của anh ra. Tôi gợi chuyện sau khi rút một điếu Camel: - “Cụ Tường c̣n nhớ cái băi biển ở đảo Subic Bay mỗi buổi chiều khi cơm nước xong, tôi thường ngồi bật quẹt và chắn gió cho cụ hút thuốc không ?” Cụ Tường gật gù: - “Sao quên được ông Vũ ? Hồi đó chúng ta sa sút tinh thần quá hả ông ? Không ngờ có ngày nay.”Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhân”. Thật là ông trời an bài.” Anh Chung chỉ biết láng máng tôi và cụ Tường đă cùng ở đảo Subic Bay chứ không biết ǵ hơn nên im lặng hút thuốc ngồi nghe. Khói thuốc tản mạn lên trần nhà làm căn pḥng có vẻ “đàn ông” và ấm cúng hẳn lên. Tôi không hút pipe, nhưng lại thích ngồi gần bên người hút cherry, cái mùi của nó mới tuyệt diệu làm sao, ngọt như mùi táo tầu. Cụ Tường hắng giọng, nói tiếp: - “Chắc ông Vũ muốn biết sau khi tôi đi rồi th́ gia đ́nh tôi ra sao. Để tôi kể hai ông nghe. Khi bọn cán bộ và những tên tá điền phản chủ vô ân bội nghĩa đến nhà bố mẹ tôi vào buổi tối hăm ba tháng chạp âm lịch năm Bính Thân (đầu năm 1957) để lôi bố tôi ra đấu tố lần hai, chúng quát tháo ầm ĩ: - “Thằng Thiềng đâu, hăy mau ra đây cho nhân dân xử tội.” Mẹ tôi chỉ tay vào trong buồng, bọn chúng tông cửa chạy vào nhưng tất cả đều bổ ngửa ra khi thấy bố tôi đă tự sát. Chúng tra khảo mẹ tôi và các em tôi rất dữ nhưng đầu mối là bố tôi mà bố tôi đă chết rồi th́ chúng có làm ǵ chăng nữa cũng đến thế mà thôi. Liền đó, chúng trực nhớ đến tôi, chúng cho một bọn sang làng bên bắt tôi nhưng như tôi đă nói, tôi, anh Các, và thầy giáo Điền đă vào sâu trong rừng và t́m đường đi đến bờ sông Bến Hải. Người em họ bố tôi, cô Bảng, sau này viết thư kể cho tôi nghe rằng chúng tŕ hoăn không cho mẹ tôi chôn cất bố tôi cho đến cả mười ngày sau khi xác bố tôi đă x́nh thối v́ ruột gan phèo phổi ḷi cả ra ngoài. Chúng dă man đến độ cấm không cho bà con lối xóm đến giúp đỡ ma chay đưa bố tôi ra đồng. Một tay mẹ tôi phải tẩn liệm, đưa hết ruột gan trở lại bụng bố tôi rồi xé vải quấn lại, lau sạch hết các vết máu và thay quần áo sạch sẽ. Ba đứa em tôi, một trai hai gái có phụ với mẹ nhưng hai ông nghĩ coi, từ nhỏ tới lớn, chúng chưa từng thấy xác chết ở trong nhà, máu me lênh láng như thế bao giờ nên chúng sợ dúm người lại dù rằng người chết đó là bố ḿnh. Chôn cất bố tôi xong th́ ba đứa này mất cả trí khôn, ngây ngây dại dại làm như những tai ương khủng khiếp của gia đ́nh dồn dập đến làm chúng chết sững không c̣n biết đối phó ra sao nữa. Bọn cán bộ cấm không cho người làm săng (ḥm) bán săng cho mẹ tôi. Chúng muốn mẹ tôi phải bó chiếu bố tôi mà khiêng ra đồng. May sao nhờ có cô Bảng nói với mẹ chồng cô ấy cho mẹ tôi vay đỡ cỗ hậu sự của bà bằng gỗ tạp để pḥng đó từ lâu mà chưa dùng, nên bố tôi mới có cỗ ván. Mấy người đô tùy khiêng quan tài là những người ở làng bên cạnh do cô Bảng lo lót với công an, hối lộ cho chúng để chúng không làm khó dễ. Mặt khác, sở dĩ chúng phải dễ dăi hơn v́ xác bố tôi càng để càng x́nh, lối xóm chịu không nổi mùi tử khí, kêu ca quá sức nên chúng chấp thuận cho chôn. Chôn cất xong bố tôi buổi trưa th́ tối hôm đó mẹ tôi ngă bệnh nằm rên hừ hừ. Hai chị lớn và các em tôi xoay xở không nổi, chỉ c̣n một cách cầu cứu cô Bảng mà thôi. Cũng cần nói thêm, chồng cô Bảng vốn là đảng viên Cộng sản đă hoạt động trong bí mật nhiều năm, nhưng không ai biết, cho đến ngày 19-8-45, ngay cả bố tôi cũng không biết. Lúc đó chú Bảng làm bí thư huyện ủy nên quyền uy rất lớn nhưng chú không muốn dính dáng đến bố tôi v́ e mất chức. Chỉ có cô Bảng, thấy gia đ́nh tôi đau thương quá nên không nỡ nhắm mắt làm ngơ v́ c̣n họ rất gần. Nói là giúp đỡ, nhưng chỉ lén lút lúc đêm khuya khi không có bọn Công an, hoặc cô đă đút lót cho mấy tên cắc ké có nhiệm vụ ŕnh ṃ gia đ́nh tôi, chúng làm ngơ cho cô mang vài thứ cần thiết vào cho mẹ tôi. Hai tuần sau lúc mẹ tôi vừa bớt bệnh th́ bọn cán bộ đến. Chúng cho mẹ tôi hay chúng sẽ tịch thu toàn bộ tài sản của bố mẹ tôi. Một tuần sau đó, tên bí thư xă ủy đến chiếm ngụ ngôi nhà của bố mẹ tôi cùng với tất cả đồ đạc, thóc lúa. Em trai tôi phải đưa mẹ tôi và gia đ́nh nó ra che một cái cḥi ở giữa ruộng. Miếng đất này cũng của bố mẹ tôi nhưng chúng không thèm lấy v́ không có giá trị. Vốn nó là một cái g̣ rộng chừng ba sào, xưa kia mục đồng thường thả trâu ḅ cho ăn cỏ hoặc mùa gặt canh điền làm cḥi để canh lúa pḥng có kẻ cắt trộm lúa. Tên bí thư xă lấy hết chỉ cho mẹ và em tôi lấy ra được mấy cái quần áo cũ, vài cái nồi, rổ chén bát. Đó là tất cả gia tài c̣n lại một đời người. Mẹ tôi lúc đó đă già, bệnh tật, yếu đuối, tinh thần sa sút, đau khổ, tan nát nhưng cũng phải đi làm thuê làm mướn như giă gạo, sàng gạo, nuôi lợn, nuôi gà, nấu cơm cho canh đièn vv... để phụ với vợ chồng đứa em trai thua tôi đúng một giáp, nó, vợ nó và con em kế út đều đi làm mướn để đắp đổi qua ngày. C̣n con em út phải đi ở đợ cho tên tá điền của bố tôi trước kia, bây giờ chễm chệ là trưởng đồn công an xă hét ra lửa, mửa ra khói. Nhưng mẹ tôi không sống lâu để chịu sự đầy ải, nhục nhă, đói khổ đó. Hơn năm sau, chỉ một tuần sau cái giỗ đầu của bố tôi, mẹ tôi ra đi trong một đêm mưa gió băo bùng , căn lều v́ dựng lên quá sơ sài bằng tre, lá nên sụm xuống. Gió quật vào người, mưa như trút nước, mọi người lạnh run. Mẹ tôi chỉ kêu lên được mấy tiếng:” Ông ơi, ông ơi !” rồi lịm đi. Mẹ tôi chết trong đêm đó và ba ngày sau, chúng cho phép chôn ngay trên g̣, cách lều vài chục bước, chỉ có hai cái chiếu bó lại v́ chẳng c̣n tiền bạc để mua săng. Em trai tôi với vợ nó và một con em, sống lây lất ở đó cho đến hai năm sau, chúng bắt em trai tôi đi dân công tải súng, tải đạn trên tuyến đường ṃn trong rừng ở biên giới Lào - Việt. Cùng đi với nó có cả mấy chục thanh niên người cùng huyện bị ghép vào thành phần con địa chủ hoặc cường hào ác bá. Ăn uống quá thiếu thốn, mỗi ngày mấy lạng khoai khô, sắn khô, vài lạng gạo, tất cả đều đă hư mốc gần thối rữa nhưng vẫn phải nấu ăn v́ nếu không ăn th́ có ǵ khác để ăn ? Nước suối tù uống vào, chỉ ít lâu là sốt rét ngă nước hoặc kiết lỵ, da vàng, bụng ỏng, rồi chết.
Posted: 4/26/2007 4:23:42 PM
( TRỐN CHẠY TT )Đó là một cách bọn Cộng Sản tiêu diệt những thành phần chúng cho là thù nghịch của chúng một cách êm ái, không tốn một nhát dao, một viên đạn. Ngoài dân công, bộ đội Việt cộng cũng dùng đường ṃn này vào quấy phá miền Nam, sau này chúng đặt tên là đường ṃn Hồ chí Minh. Dù sao, bộ đội của chúng cũng được đối xử khá hơn dân công nhiều. Chúng có hoả đầu vụ lo cơm nước, không phải ăn độn ngô, khoai, sắn và có chút thuốc men lúc ốm đau. Nhưng với khí hậu ma thiêng nước độc đó, khoẻ như voi cũng phải ngă. Đă có cả tiểu đoàn bộ đội chết trong rừng gần như đồng thời, c̣n nếu nói tổng số trước sau th́ không biết bao nhiêu mà kể. ( Lời người viết: Sau 30-4-75, Cộng Sản cho người đi ḍ t́m và đă t́m ra những nghĩa địa chôn cả chục ngàn cán binh Việt cộng bỏ thây trên đường ṃn này. Hầu hết vô danh ). Thằng em tôi đi biệt tích không về. Khoảng sáu tháng sau, bọn cán bộ xă đến báo cho vợ con nó là nó bị sốt rét ở trong rừng và ngă bệnh mà chết. Cô Bảng sau này viết thư cho tôi nói, số người trong tổng đi dân công như em tôi đều chết hết, kẻ trước người sau, chỉ có được một người trở về với bệnh sốt rét và đau gan. Một số khác chưa chết v́ bệnh th́ chết v́ máy bay B52 của Mỹ trải thảm hàng ngày. Bộ đội Việt cộng chết v́ máy bay B52 nhiều nhất. Cuộc chiến kinh hoàng xâm lăng miền Nam Việt Nam do bọn đồ tể khát máu gây ra không từ một người dân vô tội nào. Mạng người như con giun, cái kiến, miễn sao đám đầu năo của chúng an toàn, leo lên ngôi độc tài cai trị là được rồi. Riêng về cái tiểu gia đ́nh của tôi, cô Bảng viết thư khéo léo cho tôi hay rằng ngay đêm đó, chúng phái một tiểu đội công an đến vây nhà tôi và tra vấn vợ con tôi để t́m ra chỗ tôi trốn. Vợ tôi chỉ một mực khai là không biết chồng tôi đi đâu và đi đă ba ngày để đánh lạc hướng chúng. Thanh hoá nhiều rừng, núi và cây cối tre nứa rất rậm rạp, một khi đă vào sâu trong rừng kiếm chỗ hiểm hóc như hang động ẩn ḿnh th́ cả một trung đội vào kiếm cũng không ra. Anh Các và tôi là những người đă quen đi rừng rẫy nên t́m đường đi khá dễ. Thầy Điển nhà tu không quen th́ cứ bám theo chúng tôi mà đi, cho tới sáng chúng tôi đă cách làng một khoảng khá xa và đă sang địa phận của huyện khác.” Nói một thôi không nghỉ, cụ Tường có vẻ mệt. Cụ ngả người ra dựa vào sofa nhắm mắt lại. Chúng tôi tôn trọng cụ nên không ai bảo ai mà cùng giữ im lặng. Đă đến giờ đi ngủ nên mấy đứa con tôi bảo nhau rút êm lên lầu. Nhà tôi thu dọn bếp núc xong cũng đă lên ngồi cạnh tôi nghe từ đầu câu chuyện. Khoảng mười phút sau, cụ Tường mở mắt nh́n chúng tôi rồi ngồi thẳng lên, đầu hơi cúi xuống. Tôi thấy cụ xúc động thật sự khi nói đến những tang thương của gia đ́nh. Nhà tôi châm thêm nước trà nóng vào tách mỗi người và cụ Tường lại kể tiếp: - “ Trái với căn nhà của bố tôi, căn nhà của vợ chồng tôi chúng dỡ sạch đi không c̣n một viên gạch. Chúng để cho vợ và bốn đứa con tôi che một tấm phên trú mưa, đụt nắng trên một phần tư miếng đất, ba phần tư kia chúng chia cho ba gia đ́nh khác mà chúng đă lấy hết tài sản trong những đợt đấu tố. Một trong ba gia đ́nh đó là gia đ́nh ông Thủ Diễm, trước kia có làm việc hàng tổng với tôi một thời gian về điền địa, nhưng sau này đă xin nghỉ. Thủ Diễm bị đưa ra đấu tố và uất ức quá đă lấy thuốc phiện dấm thanh tự tử. Nhà cửa bị tịch biên hết, vợ con Thủ Diễm được cấp phát một phần tư trên miếng đất của vợ chồng tôi. Hai gia đ́nh kia không thấy cô Bảng nói tới. Vợ tôi vốn người vùng Ninh B́nh. Sau hơn một năm từ ngày tôi trốn đi, vợ tôi bồng bế bốn đứa con đi mất, cho tới nay cũng không t́m ra tung tích. Cô Bảng đoán vợ tôi mang con về nhà bố mẹ đẻ cho có chỗ nhờ cậy nhưng đó chỉ là phỏng đoán. Thời gian chúng ta ở trong Nam, đâu có liên lạc được với miền Bắc nên ai sống, ai chết, ai c̣n, ai mất chúng ta đâu có hay, cho đến măi sau ngày 30-4-75, v́ vậy vợ tôi và bốn đứa con, hai trai, hai gái biệt vô âm tín. Mấy năm nay, người Việt về thăm quê hương nhiều nên tôi mướn người về quê nhà tôi và khắp nơi t́m kiếm nhưng không có kết quả. Hệ thống thông tin liên lạc ở Việt Nam, nh&#