| Cấm nhà máy điện đ́nh công, cấm cả... công ty du lịch (LÊN MẠNG Thứ sáu 10, Tháng Tám 2007) UBBV Nếu lấy lư do an ninh quốc gia để cấm quân lính đ́nh công th́ nhiều người chấp nhận được. Nếu lấy cớ "thiết yếu trong nền kinh tế quốc dân" để cấm nhà máy điện, nước, xăng đ́nh công th́ cần phải giải thích, v́ tuy các thứ này quan trọng đối với kinh tế và xă hội, nhưng ở các quốc gia tôn trọng quyền của người lao động th́ vẫn được đ́nh công. Chỉ trong trường hợp hiếm có, như đang là thời chiến, th́ dân mới chấp nhận mất quyền này. Việt Nam không đang trong thời chiến, vậy lấy cớ "thiết yếu" này để cấm cả công ty thủy lợi, công ty môi trường, và ngay cả công ty du lịch, đ́nh công, th́ lư do thực sự là ǵ? Cớ: "Công ích" và "thiết yếu" Ngày 27/7/07 vừa qua, khi liệt kê danh sách những kỹ nghệ và doanh nghiệp cấm đ́nh công, Nguyễn Tấn Dũng, Thủ Tướng bổ nhiệm bởi Đảng CSVN, đă chỉ nói ra cái cớ, mà không thể nói lư do thật. Lời mở đầu của Nghị Định số 122/2007/NĐ-CP là để bị cấm đ́nh công, kỹ nghệ hoặc doanh nghiệp phải là "công ích", và "có vai tṛ thiết yếu trong nền kinh tế quốc dân". Trong danh sách này có các công ty VietSoPetro, và công ty sản xuất khí đốt. Có lẽ nhà nước Hà Nội cho rằng xăng và khí đốt th́ quan trọng lắm đối với kinh tế, phải cấm đ́nh công dù chỉ một vài ngày. Trong danh sách cũng có các nhà ga xe lửa, các "Công ty Viễn thông liên tỉnh", "Cục Bưu điện Trung ương". Có lẽ Việt Nam khác với các nước tự do - ở VN chỉ đ́nh công xe lửa một ngày, không chuyển thư một ngày, là kinh tế quốc dân có nguy cơ suy sụp. Nhưng danh sách cũng có nhiều "công ty khai thác công tŕnh thủy lợi", "công ty thoát nước", và dịch vụ môi trường, như "Công ty TNHH môi trường đô thị", hoặc dịch vụ quản lư nhà cửa, như "Xí nghiệp Quản lư nhà". Quản lư nhà th́ "thiết yếu" ra sao đến nỗi phải cấm đ́nh công? Và c̣n "Công ty Phát hành báo chí Trung ương", phải chăng ngừng phát hành báo chí vài tuần th́ kinh tế sụp đổ? Lư do thật sự: Đảng vơ vét tối đa Cái nói rơ nhất về tính vô lư, và làm lộ ra lư do thực sự của Đảng CSVN, là danh sách này có cả "Công ty Công tŕnh công cộng và Dịch vụ du lịch". Ngành du lịch vừa "công ích" vừa "thiết yếu" đối với kinh tế! "Công ích" và "thiết yếu" chỉ là cái cớ vô nghĩa mà kẻ mạnh dùng để bóc lột sức lao động người yếu. Lư do thật, lư do đơn giản, là Đảng CSVN muốn ăn lời tối đa. Nh́n danh sách trong nghị định này, ta thấy rằng tất cả các kỹ nghệ và doanh nghiệp trong danh sách đều do Đảng CSVN trực tiếp hoặc gián tiếp làm chủ. Tất cả đều kiếm tiền cho Đảng CSVN và các quan chức nhà nước. Để ăn lời tối đa, Đảng CS đă bắt nhân công của họ làm việc dài giờ, cực nhọc, lương đói khát, không bồi thường khi bị tai nạn lao động. Và nay th́ cấm đ́nh công. Như một số người lao động trong nước đă thông tin cho Ủy Ban Bảo Vệ Người Lao Động Việt Nam (UBBV), họ phải làm 10-12 tiếng một ngày, mà chỉ được trả lương 8 tiếng. Đảng CS khác thực dân Tây? Một lư cớ mà Đảng CS đưa ra để chống lại trào lưu đ̣i dân quyền, là dân chủ theo kiểu Tây phương th́ sẽ tự do quá trớn. Không không, v́ tổ quốc, Đảng phải lănh đạo nhân dân, Đảng phải cấm người lao động đừng đ́nh công quá trớn, có hại cho kinh tế quốc dân và mất ổn định xă hội. Thực ra, mọi cuộc đ́nh công đều là quá trớn, v́ vai tṛ của công đoàn nhà nước là ngăn chặn đ́nh công. Ngày xưa, thực dân Tây có đồn điền cao su. Ngày nay, Đảng CS, Nhà nước của họ, công an của họ, và quân đội của họ, có Vietnam Airlines, có công ty điện thoại, có công ty dầu hoả, có hệ thống đường sắt, có công ty phát hành báo chí, v.v.,.. ... và có công ty thủy lợi, có công ty thông tin điện tử hàng hải, có bưu điện, có công ty nước, có công ty điện, có công ty môi trường đô thị, v.v.,.. ... và có công ty quản lư nhà đất, có công ty giao thông công chánh, có công ty phát triển nông nghiệp, có công ty du lịch, v.v.,.. Đảng CSVN tham lam hơn, ác hơn, đô hộ cay nghiệt hơn. Đảng CSVN bóc lột hơn thực dân Tây. UBBV - 05/8/07 (baovelaodong.com) |
| giờ phút này mà con lên tiếng chó mắn mèo ngao việt nam ơi ! biết đâu là lệ đổ chưa nên nhớ tổ quốc đă nằm trong tầm tay cs th́ không bao giờ đ̣i hỏi ǵ thêm ok ! trước năm 1975 tất cả đồng bào vn đều bị cs lừa đẹp,cs là đạo đức giả đă thành công xâm chuyếm miền nam vn thống nhất đồng bào miền nam khổ đói khát đă qua đi nhưng vét thương thường vẫn c̣n nguyên vẻn ! đồng bào vn oi ! dù có khóc hay hối hận cũng đă muộn cho đạo đức giả của cs rồi ! chẳng những cs hành đồng bào và quân thù miền nam vn chúng nó vơ vết sạch như cướp cảu giết người vậy tại sao không ai biên vực cho đồng bào vn được chẳng qua đó là hành động chính trị nói suôn nói ngược mà thôi biết đâu cũng là cái âm mưu của giạc nằm vùng che trở cho nước nhà ta phải nói việt nam là giạc mới đúng a chí a chó lôi thôi làm loạn xáo chổn thông tin bất chính giạc cộng phá hại quá tải rồi ai mà tin cho được ! người vn làm loạn cả thế hể cho tương lai thật sai lầm v́ cs việt nam giạc cộng láo cá làm mất hết phẩm chất con người chính là người vn cs ////////diệt nó đi !!!!!!!!! |
| việt nam giạc cộng vào miền nam việt nam làm gây mất phẩm chất con người việt nam phải mang theo chế đổ giạc cộng ,người việt nam thật mang nhục với cộng đồng quốc tế đó chẳng qua là giạc nhà cố t́nh làm nhục cho cộng đồng tỷ nạn cs mà thôi ,mang tiếng này không khác ǵ một căn binh lây chuyền khuyếp sợ cộng đồng thế giới chê người việt nam diếm láo lừa ác ,họ đâu hiệu những người vn đang sống với tư cách tị nạn cs đâu ,họ chỉ trị trít là giạc cộng ,chúng nên tim mọi cách để giải thể giạc cộng đang quáy nhiểu đồng bào tị nạn ,giạc cộng thật quá đáng không thể chấp nhận được ! |
| TRẬN THẾ CHIẾN" KINH TẾ" MỞ MÀNG. TRƯƠNG MINH H̉A. Ḥa b́nh là ước mơ của tất cả mọi người, tuy nhiên trong quá tŕnh lịch sử nhân loại, biết bao cuộc chiến đă xảy ra từ thời mới xuất hiện tổ chức bộ lạc qua các cuộc chém giết không nhiều với các loại vũ khí thô sơ bằng cung tên, gậy gọc, xương thú, đá sỏi... sang thời kỳ quốc gia được thành h́nh, th́ mức độ chiến tranh leo thanh với nhiều người bị chết hơn bằng gươm dáo. Những cuộc chiến mang tính cách quốc tế được ghi nhận từ trước công nguyên với các đạo quân La Mă, Hy Lạp một thời làm mưa làm gió ở vùng Âu châu, Địa Trung Hải. Cuộc chinh phạt liên lục địa của người Mông Cổ từ Á Sang Âu vào thế kỷ thứ 10 được đánh giá là đỉnh cao của thời kỳ chiến tranh cổ điển bằng gươm dáo, vó ngựa, cung tên. Kế tiếp là cuộc xâm chiếm thuộc địa của các quốc gia Âu Châu trong thời kỳ bùng phát kỷ nghệ, khoa học kỷ thuật từ thế kỷ 19 đến 20, súng đạn, pháo hạm được coi là vũ khí tối tân áp đảo trên chiến trường. Đáng kể nhất là hai cuộc thế chiến gây nhiều tử vong do con người phát minh ra những thứ vĩ khí giết người hàng loạt với pháo binh, phi cơ, súng liên thanh.... Sau cuộc chiến chết chóc hàng chục triệu người, thế giới tưởng đâu được sống thanh b́nh, nào ngờ cuộc chiến tranh lạnh xảy ra với sự xuất hiện của chủ nghĩa Cộng Sản, trong cuộc chiến nầy, một số điểm nóng như Việt Nam, bán đảo Triều Tiên, dằng co nhau ở hai phía bức tường Bá Linh và rải rác vài nơi, các phong trào phiến loạn Cộng Sản do Nga giựt dây với đám Leninist, hay do Trung Cộng ủng hộ với nhóm Moaist, gây bất ổn từ Á, Mỹ, Phi Châu, nên thế giới phập pḥng cuộc đệ tam thế chiến với vũ khí nguyên tử, có khả năng hủy diệt toàn thể nhân loại. Dù cuộc chiến tranh lạnh không ồn ào, máu lửa, nhưng nạn nhân bị giết qua cái gọi là" đấu tranh giai cấp" tại các nước Cộng Sản với hàng trăm triệu người, là con số người chết" vĩ đại" hơn bất cứ cuộc chiến nào trước đây, đánh dấu tội ác chống lại nhân loại tàn nhẩn nhất của các đảng Cộng Sản. May mắn thay! cuộc thế chiến thứ ba không xảy ra, bắt nguồn từ sự xuất hiện của chủ nghĩa Cộng Sản do Karl Marc đề xướng, Lenin thực hiện và Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành, Hồ Chí Minh.... đi theo, đă trở nên lổi thời, đi ngược lại trào lưu tiến bộ của loài người. Đế quốc đỏ số một Liên Sô, cái nôi Cộng Sản Quốc Tế sụp đổ trong 3 ngày, vào năm 1991, sau hơn 70 năm xây dựng bằng bạo lực, máu sông, xương núi của người Nga; khối Cộng Sản hùng mạnh Đông Âu cũng bị tan tành như chủ thuyết Domino của ngoại trưởng Hoa Kỳ Dallas tiên đoán ở Đông Nam Á thời tổng thống Eisenhower, được ứng nghiệm ở Âu Châu, bức tường Bá Linh bị dân hai phía đập nát, sụp đổ vào năm 1989.... Thế là cuộc chiến tranh lạnh chấm dứt trong thầm lặng, không đổ máu một cách bất ngờ, được đánh giá là" bất chiến tự nhiên thành", kẻ ác bị tiêu tan, không ai ngờ trước. Tuy nhiên, một số nước tàn dư Cộng Sản tại Á Châu là Trung Cộng, Việt Nam, Bắc Hàn, Lào và ở Mỹ Châu có Cu Ba vẫn c̣n tồn tại dù bị tác động mạnh tận gốc rể. Đương nhiên là nguy cơ sụp đổ theo vết chân của Liên Sô, Đông Âu cũng phải đến trước cao trào dân chủ toàn cầu Sau cuộc chiến tranh lạnh, thế giới vẫn c̣n chủ nghĩa Cộng Sản, lănh đạo do Trung Cộng, dần dần thu phục chư hầu Việt Nam, Bắc Hàn và càng ngày Trung Cộng càng củng cố thế lực bằng cách phát triển kinh tế, uyển chuyển trong ngoại giao, mai phục trường kỳ, chờ khi đủ mạnh vùng lên phục thù. Chủ nghĩa Cộng Sản chưa chấm dứt như một số người ngây thơ lầm tưởng mà tỏ ra lơ là, thiếu đề cao cảnh giác; hay những kẻ đón gió, gián điệp nằm vùng cho là" chủ nghĩa Cộng Sản đă chết, đừng chống Cộng vô ích, hảy cùng nhau ḥa hợp ḥa giải trong thế giới ḥa b́nh..." Cộng Sản vẫn c̣n đây, cờ đả sao vàng, búa liềm hảy c̣n ngự trị tại Trung Cộng, Việt Nam....là đại họa vẫn c̣n; nhưng trong" t́nh huống cực kỳ khẩn trương thời thượng", Cộng Sản đành phải" lùi một bước để chờ thời cơ tiến lên ba bước". Trung Cộng thừa biết cái thế yếu của ḿnh trong khối Cộng Sản Quốc Tế trong thời chiến tranh lạnh, nhưng biết lợi dụng nhu cầu chiến lược toàn cầu của các nước tư bản Tây Phương do siêu cường số một Hoa Kỳ lănh đạo, nên đă sớm khai thác thế mạnh kinh tế, khoa học kỷ thuật để canh tân đất nước sau cuộc viếng thăm lịch sử của tổng tống Richard Nixon 1972 và sau đó Đặng Tiển B́nh với 4 hiện đại hóa, Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào nối tiếp sự nghiệp cải cách, củng cố sức mạnh. Họ áp dụng" tương kế tựu kế" với công thức" lấy kinh tế thị trường theo định hướng xă hội chủ nghĩa", là mô thức kinh tế vá víu, được vài nước tàn dư Cộng Sản tạm thời áp dụng để tồn tại, trong đó có Việt Nam. Hoa Kỳ và một số nước trong khối Liên Âu, v́ quyền lợi quốc gia mà kết thân, giao thương với Trung Cộng; hoặc những chính khách lănh đạo các cường quốc có quan niệm sai lầm cho là" muốn tiêu diệt Cộng Sản phải tư bản hóa bằng kinh tế, từ đó sẽ có thay đổi chính trị sau"; thật ra đảng cướp Cộng Sản càng no đủ, chúng càng làm mạnh, dùng tiền mua thêm vũ khí, tác hại khôn lường, đúng là" dưỡng hổ di họa", cũng là cái không ngờ trong kế" Di họa Đông Ngô" trong chuyện Tam Quốc, các cường quốc nên ôn lại bài học nầy để tránh cái cảnh" trao gươm nhằm tướng cướp". Theo lư thuyết Cộng Sản th́ tư bản và Cộng Sản không thể sống chung, là cuộc đấu tranh một mất một c̣n, nhưng ngày nay, Trung Cộng và Việt Nam tạm thời" lùi một bước" mời " bọn tư bản phản động" sang đầu tư, buôn bán, dùng đầu heo nấu cháo, rồi sau khi vững mạnh th́" bước tới ba bước" là chiến lược" cơ bản" của các đảng Cộng Sản. Tuy nhiên, với chiến lược mới nầy, hoàn toàn đi ngược lại giáo điều tổ sư Karl Marx là: thay v́ chống lại bọn tư bản bốc lột, th́ nay mời bọn tư bản đến bốc lột dân ḿnh một cách tàn tệ, nhân công rẻ, đảng và nhà nước lại hùa theo, cấu kết chặ chẻ với tư bản để ép công nhân làm việc trong điều kiện tồi tệ, lương hướng không tương xứng; mặt khác nhà nước sẵn sàng tiếp tay với" bọn tư bản phản động" để đàn áp" giai cấp công nhân tiên tiến" đ́nh công; đó là sách lược" lao tư lưỡng lợi" tức là kẻ có nhân công, người có vốn và kỷ thuật cùng nhau hợp tác, bốc lột thậm tệ giai cấp Công Nhân tiên tiến.... Nhờ cái đầu tàu Kinh Tế Thị Trường mà cái đuôi khỉ" xă hội chủ nghĩa" được mập, tươi tốt, tạo nên cái Thiên Đàng Cộng Sản ngay trong các thành phố lớn, dĩ nhiên là giới" tiên, thánh, thần Cộng Sản" sống nhung lụa trong cái" thiên đàng Cộng Sản", c̣n tuyệt đại đa số nhân dân sống ở vùng nông thôn, khu phố b́nh dân, công nhân đều sống trong" địa ngụa Cộng Sản", là thứ nô lệ thời đại, Trung Cộng biết áp dụng nền kinh tế VĨ MÔ bằng cách VÔ MỸ học hỏi, luồn lách Mỹ để được hưởng nhiều lợi: qui chế tối huệ quốc, vào WTO....cái mặt yếu của sự tự do cạnh tranh, tư nhân là lợi nhuận làm mờ mắt các doanh nhân, tài phiệt. Đôi khi v́ lợi nhuận mà họ đi ngược lại quyền lợi quốc gia, lợi dụng nhân công rẻ mạt, dễ bảo, ít đ́nh công tại các nước Cộng Sản, doanh nhân dời dần các công ty sang khai thác, khiến công nhân nước ḿnh khốn đốn v́ mất việc làm. Trung Cộng thừa hiểu cái kế" thuận thủ thu dương" bèn chụp lấy cơ hội, vừa giải quyết nạn thất nghiệp trong nước để tránh nội loạn, vừa phát triển kinh tế và cũng vừa ngấm ngầm áp dụng kế" Minh tu Sạn Đạo, án độ Trần Thương", lợi dụng tư bản Âu Mỹ để hiện đại hóa đất nước, phát triển quân đội, kỷ thuật khoa học quốc pḥng, cạnh tranh với Hoa Kỳ, Liên Âu, thi đua vơ trang, không gian, cạnh tranh trên thương trường.... Nhờ những đơn đặt hàng của các nước tư bản, những mặt hàng nhái, hàng giả, ăn cắp khoa học kỷ thuật, sản phẩm trí tuệ....dần dần đưa Trung Cộng lên hàng siêu cường kinh tế, với chỉ số phát triển cao nhất thế giới, đạt đều đều từ 7 đến 8% mỗi năm, đưa đến thặng dư ngân sách, đến nổi Hoa Kỳ c̣n phải thiếu món nợ lớn hàng ngàn tỷ Mỹ Kim. Người Trung Hoa có sở trường buôn bán, những tấm gương sáng của nhiều doanh nhân với tài sản chỉ có cây đ̣n gánh và hai cái" cần xé" vào Việt Nam lập nghiệp dưới thời Pháp như Chú Hỏa, sau là cự phú miền Nam, một thời nổi danh với nhiều huyền thoại. Trung Cộng cũng thế, từ nghèo đói, sang tự túc, không cần tổ chức Lương Nông Quốc Tế giúp đỡ, có trong tay vốn lớn do từ hơn một tỷ người đóng góp qua" kinh tế tập trung chủ huy" nên hầu hết các công ty quốc doanh lớn, nhỏ đều nằm trong tay các" đại gia", không là cán bộ cũng là dây dưa rể má với đảng và nhà nước. Nhờ số vốn lớn nầy, lại thêm sinh lời từ các doanh gia tư bản nên Trung Cộng có thể kinh doanh lớn, thi đua vơ trang, dùng kinh tế áp đảo các nước nhỏ, nếu cần cũng bắt nạt những cường quốc như Hoa Kỳ, khi trở thành con nợ. Do đó Trung Cộng tỏ ra khinh thường công pháp quốc tế, đưa ra quan niệm về nhân quyền riêng, khác với tổ chức Liên Hiệp Quốc, bịt miệng những nước có quan hệ kinh tế, thường là cường quốc Âu Mỹ để đàn áp dân trong nước, điển h́nh là tôn giáo, giáo phái Pháp Luân Công. Đó là đặc tính của những con buôn bất chánh, làm giàu nhờ thủ đoạn, rồi mua chuộc quan quyền, tung hoành một cơi, thói thường xảy ra trong xă hội. Những con buôn Trung Cộng, được" bồi dưỡng" thêm chủ nghĩa Marx Lenin nên càng thêm" vi phú bất nhân", hàng hóa Trung Cộng không đúng tiêu chuẩn, thực phẩm bị nhiễm độc, các loại hải sản có nồng độ thuốc kháng sinh vượt tiêu chuẩn....dù giá rẻ nhưng có tác dụng làm hao tốn công quỷ các nước về mặt y tế, khi dân chúng tiêu dùng bị bịnh. Do đó, trong những năm tháng gần đây, hàng hóa Trung Cộng bị trả về, thu hồi hàng loạt khiến nhà cầm quyền Bắc Kinh nổi giận; họ trấn an những nước giao thương bằng biện pháp đưa ra con vật tế thần, xử tử một viên chức nhà nước, nhưng thế giới ngày nay không c̣n lạ ǵ những" mánh mun" của Trung Cộng. Năm 1998, cơn khủng hoảng kinh tế Á Châu là bước tập dượt sức chịu đựng, tác động vào kinh tế Hoa Lục, nhưng đây là bài học để giới cầm quyền Trung Nam Hải chuẩn bị cho thế chiến kinh tế trong tương lai, khi họ cảm thấy đủ mạnh và chủ nợ của nhiều nước, trong đó có cả Hoa Kỳ th́ ra tay. Sự kiện chuẩn bị trận thế chiến kinh tế đă được Trung Cộng thực hiện qua việc tự ư định giá trị đồng Nhân Dân Tín Tệ ( Yan) cao giá hơn thực tế để giao thương với Hoa Kỳ, Liên Âu; cạnh tranh với các đơn vị tiền tệ nêu trên. Ngoài ra Trung Cộng c̣n tự phát động một khu"chợ trời" mới, trong khu chợ đó, bất cứ nước nào muốn giao dịch phải tính bằng đồng tiền Yan của Ngộ, c̣n Dollar, Euro th́ không được ưu tiên, ai muốn vào khu chợ nầy phải tuân theo qui luật. Đương nhiên là đồng Yan nầy phải được nâng cấp theo tiêu chuẩn của bọn gian thương" bán một lời mười", bọn gian thương xuất thân từ đảng cướp, có súng đạn mới đáng quan ngại. Tác động của thị trường chứng khoán thế giới từ ngày 10 tháng 8 năm 2007 qua sự rối loạn của thị trường địa óc Hoa Kỳ, tác động toàn cầu vào các nước theo thể chế tự do như Úc, Nhật, Liên Âu....là do bàn tay lông lá từ những gian thương, khi Trung Cộng có khả năng kinh tế, thặng dư ngân sách và làm chủ nợ nhiều nước, kể cả" đại gia Mỹ", nên chủ nợ có thể tung tiền để làm bất cứ chuyện ǵ hầu bắt nạt con nợ, đưa yêu sách này nọ, dĩ nhiên là chủ nợ có lợi. Từ khi nh́n thấy vai tṛ Trung Cộng càng ngày càng lộng hành trên thương trường lẫn chính trường quốc tế, các nước tự do, nhất là Hoa Kỳ đă tỉnh giấc mộng" kinh doanh" với kẻ gian, nên t́m một nơi có thể tin được để giao dịch; họ nhắm vào Ấn Độ, một nước đông dân, có khả năng qua mặt Trung Cộng ( v́ nước nầy bị vấn đề chính sách một con làm giảm mức nhân khẩu). Ấn Độ là nước dân chủ đông dân nhất thế giới, đang phát triển kinh tế, ở sát nách Trung Cộng, là một thị trường đáng" chọn mặt đặt hàng". Trung Cộng cũng nhạy bén, biết được điều nầy, nên chuẩn bị ra tay trong kế" tiên hạ thủ vi cường". Nền kinh tế Trung Cộng thuộc loại tầm gởi, nhưng nhờ dùng thủ đoạn gian manh mà gồm thu tiền của người khác vào tay, trở thành giàu có. Nhược điểm là nhiều mặt hàng sản xuất do vốn, đầu tư ngoại quốc và nên kinh tế quốc doanh nặng nề; một điều sinh tử là nhờ các đơn đặt hàng của các nước tư bản, do dó, kinh tế trung Cộng không thể tồn tại nếu không có" bọn đế quốc tư bản phản động" tiêu thụ dùm các mặt hàng làm từ Trung Quốc hay những hàng nhái, hàng dỏm lan tràn trong các siêu thị trên thế giới với hàng chữ" Made in China". Cuộc thế chiến kinh tế là loại" Tru Tiên Liệt Trận" thời đại, không đổ máu, nhưng hao tâm trí, mồ hôi; là trận chiến BẰNG GIẤY , bằng Tiền giữa các siêu cường kinh tế, đọ sức với những thế lực ma quỷ, nay nhờ những phép mầu kinh tế của chánh đạo mà lộng hành. Đây là lúc" cái đuôi xă hội chủ nghĩa" quật ngược đầu tàu" Kinh tế thị trường" để khống chế thế giới bằng kinh tế, tiền tệ, là bước đầu trong giấc mộng làm chủ thế giới, truyền thống xâm lược của người Hán. Một điều đáng quan ngại cho Trung Cộng là thế vận hội 2008 không xa, nếu Trung Cộng khai hỏa sớm, th́ trái bom nguyên tử kinh tế ắt nổ ngay trên lănh thổ của họ, khi các nước Âu Mỹ, thế giới đồng ḷng liên minh phát động tẩy chay để tự vệ, tự cứu kinh tế nước ḿnh Hiện tượng quan ngại về ô nhiễm không khí, yếu kém hạ tầng cơ sở vận chuyển, thực phẩm không an toàn.... được thế giới đưa lên trên hệ thống truyền thông toàn cầu, là dấu hiệu báo trước cho viễn ảnh của một thế vận hội u ám ở Trung Hoa lục địa, nếu t́nh h́nh cuộc chiến kinh tế đi vào giai đoạn khốc liệt. Tại các nước tư bản, người dân mất việc làm không quan ngại lắm, v́ họ có chương tŕnh an sinh xă hội giúp đỡ; trong khi tại Trung Cộng, dân nghèo, thất nghiệp là một vấn đề rất khó khăn, nếu họ bị lâm vào đường cùn, th́ cuộc đứng dậy khó tránh khỏi, làm sụp đổ cả bạo quyền Bắc Kinh trong thời gian ngắn. Đây là kết quả bài toán mà đảng và nhà nước Trung Cộng đang lo sợ, nhưng đây cũng là cái hậu quả cuối cùng để đánh sập một tên" Đại Ma Đầu Giáo Chủ" ngang ngược ở Á Châu. Cuộc thế chiến kinh tế hảy c̣n trong ṿng giằng co, hứa hẹn nhiều màng ngoạn mục, nhưng dân của các nước tư bản lẫn Cộng Sản khó tránh khỏi cảnh" trâu ḅ hút nhau ruồi muỗi chết". |
| Tân đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Michalak truyen thongNguyên Hân Chiều hôm qua, thứ sáu ngày 10 tháng Tám, 2007; tân đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông Michael Michalak (phát âm Mai-cồ Mờ-ha-lắck, chú thích ĐCV) đă dành ba tiếng đồng hồ tiếp xúc cộng đồng người Mỹ gốc Việt ở vùng Washington DC trước khi lên đường đi nhậm chức ở Việt Nam tuần tới. Buổi tiếp tân do Bác sĩ Nguyễn Quốc Quân, Bác sĩ Nguyễn Thể B́nh và Bác sĩ Đỗ Minh Thiệu tổ chức. Tại tư gia của ông Nguyễn Quốc Quân (anh của ông Nguyễn Đan Quế, một nhà bất đồng chính kiến tại Việt Nam), tân đại sứ Michalak đă nói chuyện thân mật với những người tham dự buổi tiếp tân, cũng như trả lời các câu hỏi của giới truyền thông, báo chí và những ai quan tâm đến quan hệ song phương Việt-Mỹ. Đại sứ Kojak bên trái đang trao đổi với ông Bùi Diễm, cựu đại sứ VNCH đứng bên phải. Nguồn: Nguyên Hân Ngoài đại sứ Michalak và các phụ tá của ông, c̣n có sự hiện diện của các nhân viên của Văn pḥng Việt-Miên-Lào, Pḥng Nhân quyền, Dân chủ và Lao động (Bureau of Human Rights, Democracy and Labor) của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Đặc biệt là sự hiện diện của đại sứ Michael Kojak, Giám đốc Cao cấp về Dân chủ, Nhân quyền và các Tổ chức Quốc tế, Tiến sĩ Patricia Davis, Giám đốc về Dân chủ và Nhân quyền của Hội đồng An ninh Quốc gia (National Security Council). Ngoài ra, c̣n có các quan chức chính quyền địa phương như ông Chap Peterson, cựu dân biểu Leslie Byrne, cựu đại sứ VNCH Bùi Diễm, Gs. Nguyễn Ngọc Bích, Gs. Nguyễn Mạnh Hùng, các vị lănh đạo tinh thần (đặc biệt có sự hiện diện của Đức Ông Phạm Xuân Thắng của địa phận Richmond, thủ đô tiểu bang Virginia), các hội đoàn, đoàn thể, và đại diện các cộng đồng người Mỹ gốc Việt từ các tiểu bang và thành phố như New Jersey, New York, Philadelphia, Houston, California. Rất nhiều đại diện báo chí, truyền thanh và truyền h́nh Việt Nam và quốc tế như BBC, VOA, RFA (Đài Tự Do Á Châu) đều có mặt. Sau khoảng mười phút gặp riêng gia đ́nh ông Nguyễn Quốc Quân và ban tổ chức, đại sứ Michalak đă được ông Quân giới thiệu là người đă có hơn ba mươi năm thâm niên công vụ của một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, đă từng làm phó đại sứ Hoa Kỳ tại Nhật Bản, mười năm phục vụ ở Trung Quốc. Ngoài ra, ông Michalak cũng đă từng phục vụ ở Pakistan, Australia. Nói chung, ông có nhiều kinh nghiệm ngoại giao về vùng Á Châu. Trước khi trở thành tân đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông Michalak là viên chức Hoa Kỳ cao cấp tại tổ chức Hợp tác Kinh tế Á Châu và Thái B́nh Dương (APEC). Ông nói được tiếng Tàu, Nhật Bản và Pháp. Ông cũng cho hay là ông đang cố gắng học tiếng Việt. Sau phần tiếp tân, tân đại sứ Michalak đă dành một giờ trả lời các câu hỏi liên quan đến Việt Nam. Ông Michalak cũng thẳng thắn cho biết là v́ vừa được bổ nhiệm nên có thể ông không trả lời được mọi câu hỏi đưa ra lúc này, nhưng ông hứa sẽ tiếp xúc thường xuyên với cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong nhiệm kỳ của ḿnh để thông báo, nhận xét và đánh gía công tác ngoại giao của ông. Ông cũng hứa sẽ t́m cách tham khảo ư kiến cộng đồng về các vấn đề quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Bs. Nguyễn Quốc Quân đang giới thiệu tân đại sứ Michael Michalak. Nguồn: Nguyên Hân Một câu hỏi được nêu lên là người tiền nhiệm của ông Michalak, đại sứ Michael Marine, vừa cho báo chí biết “vấn đề thiếu cải thiện nhân quyền là điều thất vọng lớn nhất trong nhiệm kỳ của ông ở Việt Nam” trong khi chính ông Michael Marine đă góp phần giúp Việt Nam được quy chế tối huệ quốc (PNTR) và vào WTO, và Việt Nam đă hứa hẹn đủ điều trong hội nghị APEC tháng 10 năm 2006, nhưng sau đó Việt Nam lại trở mặt không giữ lời hứa về cải thiện nhân quyền. Thế th́ câu hỏi được đặt ra là “tại sao Hà Nội cần phải hợp tác với tân đại sứ Michalak về nhân quyền?” Ông Michalak trả lời câu hỏi đó như sau: “Tính chính đáng và sức mạnh của gía trị nhân quyền sẽ là những yếu tố buộc Hà Nội phải suy nghĩ lại và phải thực hiện những điều cần cải thiện”. Ngoài ra ông cũng cho biết Việt Nam sẽ trở thành một thành viên của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc (UN Security Council) trong năm tới th́ Việt Nam sẽ phải hành xử xứng đáng với tư cách đó. Ông nghĩ rằng ông sẽ thành công trong việc thuyết phục Hà Nội thay đổi thái độ hiện nay. Ông Michalak cũng cho hay là ông sẽ vận động để tăng số học bỗng cho các sinh viên Việt Nam sang du học tại Mỹ, đặc biệt là sẽ t́m cách giúp đỡ các sinh viên con nhà nghèo, học giỏi nhưng không có điều kiện để tham dự các chương tŕnh du học. Ông nói rằng vấn đề giáo dục là một trong những điều ông quan tâm hàng đầu. Khi được hỏi về t́nh trạng thiếu công b́nh trong việc trao đổi văn hóa phẩm giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, rằng nhà cầm quyền CSVN hầu như cấm đoán tuyệt đối sách báo tiếng Việt ở ngoại quốc gởi về, trong khi Việt Nam được tự do phổ biến và tuyên truyền ở Hoa Kỳ, ông Michalak nói ông sẽ lưu tâm đến vấn đề này v́ nay Việt Nam đă vào WTO th́ cũng có một số điều khoản liên quan cần xem xét. Một câu hỏi thú vị khác được nêu lên là “nếu được chọn một trong hai, giữa Trung Quốc và Việt Nam để làm đồng minh, th́ ông sẽ chọn ai?”. Ông Michalak trả lời rất ngoại giao, ông vừa cười vừa nói: “Tôi chọn... cả hai”. Được biết, đại sứ đương nhiệm Michael Marine sẽ măn nhiệm kỳ ba năm của ông vào đầu tháng tới, nhưng ông vẫn tích cực vận động về nhân quyền ở Việt Nam, điển h́nh là ông đă vào Sài G̣n gặp ông Nguyễn Đan Quế trong ṿng hai giờ đồng hồ tuần trước. Và tân đại sứ Michael Michalak sẽ lên đường đi Hà Nội để chuẩn bị bàn giao chức vụ với ông Marine vào tuần tới. © DCVOnline |
| Kỳ V: Cả xă hội buộc phải bàng quan? Chính trị - xă hội Ái Sản Mấy hôm nay, không ra chỗ đồng bào ḿnh đang khiếu kiện tập trung tại 210 Vơ Thị Sáu nữa, tôi có dịp chiêm nghiệm lại những ǵ đồng bào ḿnh đang phải gánh chịu. Cơ sở của những chiêm nghiệm này là những tờ đơn tố cáo của đồng bào đă cho tôi, là những lần tôi đến với đồng bào, là những ư kiến của anh em trên X-Cafevn.org… Trước đây, tôi cũng có quan tâm đến t́nh h́nh của đồng bào khiếu kiện, nhưng ở một mức độ, góc độ khác, cho nên sự chiêm nghiệm chỉ dừng lại ở mức độ suy nghĩ, chứ chưa thể bộc lộ thành ư kiến, hoặc cao hơn là chính kiến. Nhưng lần này, chính thực tế của đồng bào đă khiến tôi phải thay đổi nhận thức, một sự thay đổi cơ bản từ cách nh́n cho đến tâm huyết. Về bản chất của những khiếu kiện Bề ngoài, tưởng chừng như những khiếu kiện chỉ tập trung vào vấn đề đất đai và thực tế, các báo đài trong nước và ngay cả các hăng thông tấn nước ngoài (như BBC chẳng hạn) cũng loan đi như thế. Nhưng, sau khi đọc kỹ bốn đơn tố cáo, và tiếp xúc với nhiều đồng bào, tôi mới thấy rằng: Sự việc có lẽ không nằm ở vấn đề đất đai. Bởi lẽ, nếu chỉ có thế, Nhà nước CHXHCN Việt Nam thừa sức giải quyết, và có thể giải quyết trong một thời gian ngắn. Nếu công khai và giải quyết triệt để vụ việc của cụ Nhơn th́ đất đai phải trả lại cho cụ đă đành, nhưng uy tín của Đảng CSVN sẽ c̣n được bao nhiêu, và biết đâu, vụ án cụ Nhơn đang kiện sẽ trở thành một tiền lệ cho một cao trào hồi tố những khuất tất của Đảng CSVN trước đây từ Bắc chí Nam. Chẳng hạn như vụ việc liên quan đến cụ Nhơn mà các bạn đă nghe phần phỏng vấn trực tiếp, vấn đề đất đai là hậu quả của một vụ kiện khác mà bị đơn không ai khác chính là Đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN). Ba mẹ của cụ Nhơn đă bị giết và cướp của trong chiến dịch vận dụng cái gọi là “bạo lực cách mạng” trong thời kỳ cụ gọi là tiền kháng chiến, dù mẹ cụ là thư kư của Ủy ban kháng chiến Nam Bộ quận Trà Cú. Mặc dù có xác nhận của bà Nguyễn Thị Tuyết, là cấp trên của mẹ cụ Nhơn, đối với việc mẹ cụ Nhơn có mặt trong hàng ngũ giải phóng quân Việt Nam, nhưng cuối cùng sự việc cũng không đi đến đâu… Cái lư cuối cùng của vấn đề, theo thiển ư của tôi, chính là: Nếu công khai và giải quyết triệt để vụ việc của cụ Nhơn th́ đất đai phải trả lại cho cụ đă đành, nhưng uy tín của Đảng CSVN sẽ c̣n được bao nhiêu, và biết đâu, vụ án cụ Nhơn đang kiện sẽ trở thành một tiền lệ cho một cao trào hồi tố những khuất tất của Đảng CSVN trước đây từ Bắc chí Nam. Hay trong đơn tố cáo năm 1999 của ông Vơ Thành Thu, sinh năm 1940, có đoạn viết: “Trước đây, gia đ́nh tôi có đất ruộng để canh tác. Qua chủ trường của nhà nước là tổ chức lại sản xuất, cải tạo nông nghiệp thông qua con đường làm ăn tập đoàn tập thể, gia đ́nh tôi chấp hành chủ trương đó, đến lúc tập đoàn không c̣n v́ Ban quản lư tồi tệ. Cả huyện Tập Đoàn chỉ c̣n là h́nh thức, thực tế là hoạt động cá thể. Kẻ có quyền chức nhận được nhiều ruộng, ruộng tốt, thậm chí c̣n lợi dụng để sang bán kiếm tiền…”. Nếu căn cứ vào đoạn tường tŕnh này, th́ có thể đoán định được hậu quả nếu vụ việc của ông Thu được giải quyết: Lộ rơ hơn nữa sự phá sản và tính chất sai lầm của phong trào Hợp tác xă thời trước, và dư luận sẽ đặt câu hỏi về đặc quyền đặc lợi của những đảng viên đă từng nằm trong ban quản lư “tập đoàn tập thể” cũng như trách nhiệm trong việc hoạch định đường lối phát triển kinh tế của Đảng CSVN trước đây đối với dân tộc như thế nào? Thiết nghĩ, đằng sau vụ việc này là vấn đề đặc quyền đặc lợi của đảng viên Đảng CSVN và trách nhiệm của họ. Uy tín của đảng sẽ ra sao nếu vụ việc này được giải quyết thấu t́nh đạt lư? Hay trong đơn của ông Nguyễn Văn Năm mà tôi đă scan lên cho các bạn đọc trong phần hai của loạt phóng sự về đồng bào khiếu kiện, sự thật đă cho thấy rằng: Ngay cả những gia đ́nh có tới 3 liệt sĩ cũng không được đối xử như những người “có công với cách mạng”. Họ vẫn bị chính quyền o ép, chiếm đất, đẩy vào cảnh đường cùng. Như vậy, nếu vụ việc của ông Năm được giải quyết triệt để, th́ dư luận sẽ đặt dấu hỏi về trách nhiệm của các cấp ủy đối với đảng viên của ḿnh, về trách nhiệm của Đảng CSVN đối với đảng viên, và trên hết là bản chất của Đảng CSVN thực sự là ǵ? H́nh ảnh của bà cụ đeo hai huân huy chương vẫn phải lọ mọ đi khiếu kiện đă nhắc nhở tôi về sự phân hóa trong Đảng CSVN, và sự bất công trong cách đối xử với những người đă từng là nhân tố tích cực đưa Đảng CSVN trở thành đảng cầm quyền… Như vậy, nếu vụ việc của ông Năm được giải quyết triệt để, th́ dư luận sẽ đặt dấu hỏi về trách nhiệm của các cấp ủy đối với đảng viên của ḿnh, về trách nhiệm của Đảng CSVN đối với đảng viên, và trên hết là bản chất của Đảng CSVN thực sự là ǵ? Cá nhân tôi nhận thấy rằng: vấn đề đất đai chỉ là phần ngọn, là phần nổi của một tảng băng ch́m. Cái chính là sự, có thể nói là, vô ơn của Đản CSVN đối với những người đă từng sống chết cho lư tưởng XHCN của họ. Sự thật này có lẽ chưa được nói đến nhiều, bởi nếu được nói đến th́ cái khẩu hiệu "của dân, do dân và v́ dân" mà Đảng CSVN vẫn hô sẽ c̣n ru ngủ được bao nhiêu đồng bào? Ẩn sau những vụ kiện này chính là sự đ̣i hỏi phải trở về với nền tảng đạo đức truyền thống của dân tộc, cái đạo lư uống nước nhớ nguồn, hay lời dạy “lấy dân làm gốc” của Đức Thánh Trần Hưng Đạo. Có lẽ Đảng CSVN hiện nay không dũng cảm, không tin tưởng vào nhân dân như Đảng Lao Động thời cố chủ tịch Hồ Chí Minh. Các bạn hẳn c̣n nhớ: sau cải cách ruộng đất, chính cố chủ tịch Hồ Chí Minh đă khóc trước quốc dân đồng bào để nói lời xin lỗi về những sai lầm của Chính phủ, của Đảng Lao động. Tôi không nói về tính trung thực của lời xin lỗi ấy, hay xem xem lời xin lỗi ấy có phải là một “chiêu thức” chính trị hay không, nhưng chí ít, làm được như vậy cố Chủ tịch Hồ Chí Minh c̣n có một chút liêm sỉ với đồng bào, với dân tộc. Lẽ ra, Đảng CSVN phải thấy rằng: đồng bào ḿnh rất bao dung, rất nhân hậu. Chẳng vậy mà một cuộc thanh trừng ác liệt, cuộc thanh trừng đă phá vỡ hầu như cấu trúc và nền tảng đạo đức của xă hội như cải cách ruộng đất vẫn có thể được đồng bào bỏ qua nhờ những giọt nước mắt của cố Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lẽ ra, Đảng CSVN có thể dựa vào đó mà sửa sai, mà triệt để đào thải những con sâu trong Đảng, để đẩy công cuộc xây dựng chỉnh đốn đảng đến thành công, th́ đàng này, họ hầu như chỉ lo bảo vệ đặc quyền đặc lợi cho một bộ phận đảng viên, và bảo vệ cái uy tín mà ai cũng biết rằng nó đang được đảm bảo bằng một hệ thống an ninh dày đặc, hệ thống những thủ đoạn vi phạm nghĩa đồng bào… Về thái độ của các thành phần Tôi thực sự lấy làm cảm động và thêm quyết tâm khi đọc được phần lớn những ư kiến khích lệ của anh em X-Cafevn.org. Tôi thực sự cảm thấy an toàn khi biết đồng bào khiếu kiện vẫn lo lắng cho tôi nói riêng và cho lớp trẻ, cho những người muốn đến thăm hỏi, giúp đỡ nói chung. Nhưng tôi thật sự thất vọng với thái độ của một số anh em (cứ gọi như thế cho đúng nghĩa đồng bào) trên X-Cafevn.org khi không bày tỏ thái độ, chính kiến hoặc bày tỏ với thái độ ngờ vực, giễu cợt, hoặc đánh đồng hành động của tôi cũng như ư kiến của anh em trên X-Cafevn.org với những vụ việc khác có tầm mức không khác ǵ tin “chó cán xe”!!! Nhưng thôi, điều đó đă có anh em nh́n nhận và phán xét. Tôi xin đi vào những thành phần khác… Báo chí trong nước, lực lượng luôn được Đảng CSVN gọi là báo chí cách mạng. Nhưng thực chất, tính cách mạng đă không được phát huy, hay nói khác đi, chính Đảng CSVN đă triệt tiêu đi phần lớn tính chất cách mạng của báo chí nói chung. Tôi vẫn không tin các phóng viên trong nước lại bàng quan trước t́nh cảnh khó khăn của đồng bào, tôi vẫn không tin những Tổng biên tập như: Lê Hoàng (Tuổi Trẻ), Nguyễn Thanh Hải (Người Lao động), Nguyễn Công Khế (Thanh Niên)… lại không biết ǵ về t́nh h́nh của đồng bào. Nhưng, để đảm bảo vị trí, đảm bảo đời sống cho hàng trăm phóng viên dưới quyền, các vị này phải im lặng và phải làm theo sự chỉ đạo của Đảng CSVN… Tôi không tin rằng: mọi người dân Việt Nam đă bị Đảng CSVN nhồi sọ đến mức quên hết đạo lư, quên hết nghĩa đồng bào. Chỉ có điều, họ đă bị chính những hành động trong quá khứ lẫn hiện tại của Đảng CSVN dạy cho biết rằng: Phải bảo vệ ḿnh trước tiên, phải lo cho chính ḿnh trước. Tâm lư bạc nhược và sợ hăi là trạng thái thường trực trong toàn thể con Lạc cháu Hồng hiện nay. Về khía cạnh này, tôi cho rằng: Đảng CSVN đă thành công. Chỉ có điều, họ đă bị chính những hành động trong quá khứ lẫn hiện tại của Đảng CSVN dạy cho biết rằng: Phải bảo vệ ḿnh trước tiên, phải lo cho chính ḿnh trước. Tâm lư bạc nhược và sợ hăi là trạng thái thường trực trong toàn thể con Lạc cháu Hồng hiện nay. Về khía cạnh này, tôi cho rằng: Đảng CSVN đă thành công. Về phía chính quyền, tôi cho rằng: trong quá khứ, họ đă chỉ được dạy cho cách “chống phá” mà không được học cách xây dựng. Cho nên, họ thiếu khả năng giải quyết và lănh đạo. Cho nên những vụ việc như thế này sẽ không trông mong ǵ một giải pháp triệt để, hay một bàn tay sắt, một bàn tay sạch như lời của Cựu tổng bí thư Lê Khả Phiêu đă từng nói. Chí ít, mỗi một vị lănh đạo cũng đang mang tâm lư tự vệ, cầu toàn… khi đứng trước những vụ việc như thế này. Về phía các giáo hội như: giáo hội Công giáo, giáo hội Phật giáo, Tin Lành, Ḥa Hảo… dù tôn chỉ của các đấng sáng lập vẫn là bênh vực kẻ yếu đuối, đứng về phía chân lư, lẽ phải… nhưng có lẽ thuyết chính danh của Đức Khổng Tử đă không được lănh đạo các giáo hội vận dụng và sống hết ḿnh. Cái khẩu hiệu trong thư chung của Hội đồng giám mục Việt Nam năm 1980 là “sống Phúc âm giữa ḷng dân tộc” đă không được tuân thủ cách quyết liệt. Phúc âm của Giê-su đă từng có đoạn nói rằng (tôi không biết nằm ở trang nào?): “điều ǵ con nghe trong bóng tối hăy nói nơi ánh sáng, điều ǵ con nghe rỉ tai, hăy nói trên mái nhà”. Tôi chưa từng thấy lănh đạo các giáo hội lên tiếng về t́nh h́nh của đồng bào khiếu kiện, chưa bày tỏ chính kiến… Ḥa thượng Thích Quảng Độ đă lên tiếng, nhưng tiếc rằng đó là tiếng nói của một giáo hội không được công nhận tại Việt Nam. C̣n những giáo hội khác, tôi chỉ phỏng đoán rằng: có những lư do riêng để họ buộc phải im lặng trước những đối tượng mà lẽ ra họ phải hướng về và bênh vực. C̣n các cơ quan quốc tế tại Việt Nam, tôi cho rằng: để đổi lấy những điều kiện thuận lợi trong hoạt động, họ đă phải chọn thời điểm thích hợp để lên tiếng hoặc đưa tin tường thuật với những mức độ vừa phải. Đây có thể nói là một tín hiệu không tốt đối với tiến tŕnh dân chủ hóa tại Việt Nam. Nó cho thấy Đảng CSVN đang có những chiêu thức hữu hiệu để bảo vệ hơn nữa sự lănh đạo độc quyền của ḿnh. C̣n về phía đại bộ phận người dân, chúng ta không thể đ̣i hỏi ǵ hơn ở họ ngoài sự đồng cảm, chia sẻ hay thăm hỏi, giúp đỡ trong một điều kiện quá ư ngặt nghèo. Họ cần phải lo cho gia đ́nh, cho những người thân và họ phải chịu hậu quả của một chính sách kiềm chế tự do tư tưởng mà Đảng CSVN hiện nay vẫn thành công. Sự bạc nhược của trí thức như một chủ đề trên diễn đàn đang bàn luận thực ra cũng là hậu quả của chính sách này. Cho nên, cũng không thể đ̣i hỏi ǵ hơn ở tầng lớp trí thức trong nước. May ra các trí thức ở hải ngoại có thể lên tiếng, nhưng tiếc rằng: Tiếng nói của họ không bao giờ đến được với quảng đại quần chúng trong nước. Vả lại, xu hướng của trí thức hải ngoại hiện nay h́nh như đă thay đổi. Họ đă chuyển từ đấu tranh trực tiếp, cụ thể sang hợp tác để thâm nhập hệ thống và làm một cuộc thay đổi từ bên trong. Kết quả không biết sẽ đến đâu trước những thủ đoạn của Đảng CSVN, nhưng hậu quả là đồng bào khiếu kiện mất đi nhiều tiếng nói ủng hộ và sự trợ giúp thiết thực… Chúng ta sẽ phải làm ǵ? Dù nói thế nào đi nữa th́ tôi cũng phải công nhận rằng: việc đảm bảo an toàn cho mọi người, đặc biệt là cho đồng bào khiếu kiện là rất quan trọng. Tôi tự nhận biết: chúng ta chưa thể làm ǵ để t́nh h́nh có thể thay đổi, để đồng bào được “giải quyết thỏa đáng” như mong muốn của họ. Nhưng như các bạn biết: đồng bào đang rất cần sự chia sẻ, giúp đỡ cả về tinh thần lẫn vật chất từ tất cả mọi người. Và trên hết, đồng bào cần sự ủng hộ của cộng đồng trong và ngoài nước. Sự cần thiết phải đưa t́nh cảnh của đồng bào lên công luận là điều mà mỗi thành viên X-cafevn.org phải tâm niệm và hành động mau lẹ. Chỉ c̣n một tia hy vọng thôi, th́ đồng bào chúng ta cũng quyết tâm hướng về, và sẽ cảm thấy được an ủi, phấn chấn tinh thần “đi đến cùng con đường đă chọn. Sự trợ giúp cấp thời về tài chính cho đồng bào là điều cần mọi người hết sức ủng hộ. Sự thăm hỏi, động viên cũng là liều thuốc tinh thần không thể thiếu cho đồng bào. Và trên hết, đồng bào cần sự ủng hộ của cộng đồng trong và ngoài nước. Sự cần thiết phải đưa t́nh cảnh của đồng bào lên công luận là điều mà mỗi thành viên X-cafevn.org phải tâm niệm và hành động mau lẹ (xin lỗi nếu tôi có hơi lên giọng!). Cá nhân tôi, trong thời gian tới đây sẽ tiếp tục đến với đồng bào ḿnh, để kịp thời phản ánh t́nh cảnh của động bào và bản chất của những sự việc lâu nay vốn không được nh́n nhận cách trung thực nhất, sâu xa nhất. Một người th́ khó có thể nghĩ ra được những biện pháp vẹn toàn, cho nên tôi nghĩ, trước hết, tất cả anh em X-cafevn.org hăy chung tay, chung ḷng, chung trí… để tiếp tục đến với đồng bào như chúng ta đă từng làm. Tôi tin điều này không ít th́ nhiều sẽ đánh động được sự quan tâm ở mức có thể của mọi thành phần trong xă hội, và trên “trường quốc tế” Vài lời với các bạn... Cám ơn các bạn đă kiên nhẫn đọc những ư kiến và nhận định mà tôi tin chắc rằng: không thể thiếu những lúc hàm hồ và thiển cận. Mong các bạn chỉ giáo thêm! |
| Hà Nội, Hải Dương: 700 Thợ Đ́nh Công Đ̣i Quyền Lợi... Việt Báo Thứ Bảy, 8/11/2007, 12:02:00 PM (Hà Nội - VNN) Liên tục trong hai ngày 7 và 8 tháng 8 vừa qua, hơn 400 công nhân Công ty Yangmin Enterprise Co.,Ltd trụ sở tại xă Việt Hùng, Đông Anh, Hà Nội, chuyên sản xuất các mặt hàng về linh kiện, phụ tùng xe gắn máy, đă đồng loạt đ́nh công. Theo lời các công nhân tại đây cho biết, họ luôn phải làm việc trong một môi trường độc hại đầy hoá chất và bụi kim khí nhưng không hề được hưởng quy chế độc hại. Ngoài ra họ thường xuyên phải làm thêm giờ và không được nghỉ các ngày lễ và chủ nhật khiến nhiều công nhân đă bị ngất xỉu ngay tại nơi làm việc cũng chỉ v́ buộc phải làm thêm quá nhiều, cũng như tùy tiện cắt thưởng cuối năm của công nhân. Công ty c̣n lập ra quy định phát thẻ đi vệ sinh nhưng trung b́nh mỗi xưởng có trên 100 công nhân mà chỉ được phát 3 thẻ khiến công nhân rất bất măn. Công ty đă hoạt động hơn 10 năm nay nhưng vẫn không cho thành lập tổ chức công đoàn. Được biết, khi xảy ra đ́nh công Công ty không đưa ra các giải pháp để đàm phán với công nhân mà c̣n ra thông báo tuyển dụng nhân công mới nhằm thách thức công nhân. Theo ông Trần Hữu Đô, Chủ tịch Liên đoàn lao động huyện Đông Anh th́ rất nhiều lần đến vận động, yêu cầu Công ty thành lập tổ chức công đoàn nhưng Công ty cứ phớt lờ. Sau khi có các cơ quan chức năng can thiệp, Công ty đă phải đưa ra một bản cam kết thực hiện 11 yêu sách của công nhân như: giảm thời gian làm thêm; thiết lập lại thang bảng lương... Công nhân đă trở lại làm việc vào sáng hôm qua 9/8/07. Trong khi đó, vào sáng ngày 9/8/07, tại Công ty ximăng Phúc Sơn, huyện Kinh Môn, Hải Dương, đă xảy ra vụ đ́nh công của hơn 300 công nhân để đ̣i chủ công ty phải giải quyết một số vấn đề liên quan đến quyền lợi. Tổng giám đốc Công ty Chen Ken Yuan (người Đài Loan) đă cam kết giải quyết yêu cầu của tập thể công nhân như: Thanh toán chế độ làm ca 3 (thêm 30%) kể từ 1/7/2007; có chế độ phụ cấp độc hại ở các bộ phận sản xuất theo quy định; tổ chức khám sức khoẻ định kỳ, có tiền thưởng chuyên cần và thực hiện chế độ tăng lương cho công nhân... Đoàn liên ngành đă yêu cầu Tổng giám đốc Công ty trực tiếp trả lời cho công nhân và khuyên công nhân nên trở lại làm việc b́nh thường. |
| Kinh-Thua : Quy Dong-Huong Hai-Ngoai. Thien tai,lu lut,lai vua xay ra o mot so dia phuong,thuoc cac Tinh Mien Trung ( Ha-Tinh )Phan lon Nguoi Dan o nhung Dia Phuong nay la Nguoi Cong San,Ho la nhung Gia Dinh Can-Bo Cao Cap,Gia Dinh Liet-Sy,Gia-Dinh co cong voi Cach-Mang ( Thanh-Nghe-Tinh ) Tom lai,Ho la Dan Cach Mang (C.S)100% Ay the ma,sau nhung ngay Thien Tai vua qua,Nguoi chet,nha cua,duong xa giao thong hu hai nang,Vay ma,Chinh Quyen Trung-Uong,dau co quan tam gi dau? Trong khi do,Noi Hai Ngoai xa cach 1/2 trai dat,Thi co mot so Vi... Dai Dien Doan The...Hoi Tu-Thien,Ton-Giao,Ca Nhan...dang ruc rich,quyen Tien goi ve cuu tro ? Nhung Thanh Phan nay,da truc tiep hoac gian tiẹp nhan chi thi tu Tap-Doan CSVN,tiep tuc Vat Sua Nguoi Viet Hai-Ngoai,Duoi nhieu hinh thuc khac nhau,To-chuc cac Dai-Nhac-Hoi,Bua Com Tu-Thien,Bac- Ai, Moi lan co Thien Tai tai Que Nha,La Thoi Co vang cho Bon Tham Quan, Tien Bac thu vao tu ban Dau,ban Dat,ban Lao Dong,Vien-Tro Nhan-Dao,Tien Vay Quoc-Te Dai han,khong lai suat...hang Ty,Ty USD,Bon Tham Quan chia nhau,bo tui,chuyen ngan ra Nuoc Ngoai,goi Ngan-Hang Thuy-Sy,Mua Dat dai, Nha Cua,va dau tu lam an o cac Nuoc Tay Phuong,My,Phap,Uc,Canada... Truoc nhung Thien Tai,nguoi Dan hung chiu,tAP-dOAN Tham Quan khong he doai thuong, Qua kinh nghiem nhung lan truoc day,Bon Chung chi thi cho Dan Em,mo Chien-Dich,VBat Sua Con Bo Hai-Ngoai...Ket Qua,Bon Chung chang phai lam gi ca,Duoc Tien bo tui,Lai duoc Dan ( vung lu nut )ca ngoi la : D.C.S V.N Anh Minh giup do ) Vay,Nguoi Viet Hai-Ngoai chung ta,Dung tiep tuc bi Bon Chung loi dung qua cac Ngon-Tu ( Tu-Thien,Bac-Ai...nau) Hoi,nhung Ai thuc-tam vi Dan Toc,To-Quoc,Hay ngung ngay,nhung hanh dong tiep tay cho Tap-Doan CSVN.Hay,de cho Nguoi Dan ngheo,oan than,len an,va nhan ra bo Mat That cua Bon Chung. TRAN - NHAT - NGON. |
| Re: Thêm một người bất đồng chính kiến trốn qua Campuchia 2007-06-29 10:14:23 congtran NHững câu nói ngọt mật mà chết người thừơng được cộng sản sử dụng đẻ lỏe bịp. - Lúc Tàu cộng và Việt cộng khăng khít với nhau, Việt cộng thừơng hănh diện NÚI LIỀN NÚI SÔNG LIỀN SÔNG (!) Đến năm 1979, là năm Tàu cộng "dạy cho Việt nam một bài học"- v́ tội ăn cháo đái bát, th́ Việt cộng tịt ng̣i, không c̣n dùng câu bịp này nữa. Bây giờ thấy nhựng người Việt tị nạn Việt cộng trên khắp các nước đă thành công, muốn o bế ve văn để kiếm đô la nên Việt cộng lại dùng từ ngữ "khúc ruột ngàn dặm" rồi "Việt kiều yêu nuớc" Mới đây tên Triết c̣n phịa ra "sống không thù hận". Mai mốt đây các anh Trần văn HOà, Trương quốc Tuấn, Bạch ngọc Dương ,Cao văn Nhân tị nạn ở nứơc thứ 3, làm ăn khá, lại thành "khúc ruột ngàn dặm". Thật trơ trẽn. Giết chóc, tàn sát ( cải cách ruộng đất, Mậu thân), chèn ép phân biệt đối xử (lư lịch), và ...bo bo...(!), đuổi người ta đi (đi bán chính thức, mua bằng vàng, mà Nguyễn tấn Dũng bí thư Kiên Giang đă thực hiện cùng các tỉnh khác), rồi vụ "đuổi người Hoa"...... Đừng nghe những ǵ cộng sản nói Hăy nh́n những ǵ cộng sản làm . Câu của cố TT Thiệu rất chí lư. Vè dân gian th́ rằng: Mấy đời bánh đúc có xương Mậy đời Việt cộng có thưong dân ḿnh. Nghe Việt cộng th́ chỉ có chết Trinh Vĩnh B́nh là một thí dụ |
| Ve viec Nhac Si Minh Ky Toi xin gop them voi bạn Luc do toi o nha 19, Nhac Si Minh ky o nha 3 cach nha toi o khoang 3 can Nha toi o la do anh Tran Phan huan luyen vien truong Thu Duc la truong nhạ Hom do Nha toi o dang doc bao va gian tan hoi tre . Thinh linh nghe mot tieng no chat chua va moi nguoi den phan xa nam xuọng Luc do thi nghe tieng chan chay ram rap ben ngoai la len la chung toi phai o trong nha khong duoc ai ra khoi nha . 5 phut sau thi co bo doi den nha 19 goi Bac Si Than Trong Minh ra tai thuọng Chung toi chang biet gi ca . Sang mai Bac Si Than Trong Minh bao la Nhac Si Minh Ky da chet trong vu nem luu dan do . Toi con nho la co Bac Si Kha cung chẹt Theo loi BS Than Trong Minh thi khong co dung cu de chua thuong . Bac Si Minh phai lay cua go de cua chan va khong co thuoc cam mau hoac khong co mau de chuyen . Moi viec deu bat luc . O nha 3 Bac Si rat nhieu . Hinh nhu co vai Bac Si khac chet ma toi khong con nho ten . Theo nhu anh em ranh ve vu khi thi qua luu dan do duoc nem tu tram xa va nha cua bo doi cach do mot hang rao kem gai . Con viec CS bat chung toi di lay hang rao kem gai va di luon dan thi chet nhieu vo ke . Toi con nho la ten thuong ta CS con chuu chung toi la khong biet ve quan su nen de minh va luu dan va dan M79 no . Neu bua do nha toi nghi sinh hoat som chac toi cung bi trong so do roi . Vi thuong sinh hoat xong la toi den choi voi anh em o dao . Trong vu nay co hai nguoi bi thuong va con song la Dai Uy Canh Sat Quang va Vinh Hau . Mieng luu dan vang vao lo tai cua Vinh Hau nen gio Vinh Hau diec mot lo tai . Dai Uy Quang thi bi thuong o chan khong sao . Toi con nho hinh anh anh Minh Ky cao rao, vui tinh, thuong ngay noi chuyen voi chung toi . That su la anh da "Biet Kinh Ky" Neu khong bi dua ra mien Bac thi chac anh em chung toi dan dan cung chet trong canh phai di luom min, luu dan, M79 hay di lay kem gai o Trai An Duong Bien Hoạ Xin thap mot nen huong cho Nhac Si Minh Ky Hoai Phong |
| m177k |
| Một Cô Dâu Việt Tại Nam Hàn Bị Chồng Giết Với 18 Xương Sườn Bị Găy 8/13/2007 Tin Hán Thành - Một cô dâu Việt Nam tên Huỳnh Mai được t́m thấy trong tầng hầm căn nhà của chồng sau 8 ngày bị giết với 18 xương sườn bị găy. Sự kiện này được Đài KBS phát sóng hôm thứ sáu vừa qua, gây kinh hoàng và phẫn nộ cho hàng triệu khán giả tại Nam Hàn. Cô dâu Việt Nam đă để lại một lá thư tuyệt mạng dài 5 trang, kể lại những nỗi niềm của cô gái 20 tuổi xuất thân từ Kiên Giang trong những ngày sống tại Hàn Quốc. Trong lá thơ, cô gái viết rằng cô đă cố gắng rất nhiều để trở thành một người vợ tốt, một người mẹ tốt, cô mong muốn một gia đ́nh đầm ấm. Cô mong muốn có một gia đ́nh đầm ấm và trở thành một người vợ tốt đối với chồng, nhưng ước mơ thật giản dị đó của cô đă không trở thành hiện thực. Bức thư của Huỳnh Mai viết trước khi chết tại nhà ở phường Munhoa, thành phố Cheonan Nam Hàn, Huỳnh Mai cho biết do bất ḥa với chồng nên sang Nam Hàn chỉ được đúng hai tháng là đă muốn quay về Việt Nam. Mai không thể ngờ được rằng đúng hôm sau khi viết lá thư th́ cô bị chồng sát hại. Thi thể Huỳnh Mai với 18 chiếc xương sườn bị găy đến tám ngày mới được phát hiện. Trong lá thư dài năm trang giấy, Huỳnh Mai viết cô rất buồn v́ chồng của ḿnh, khi đến Nam Hàn cô đă không biết đời sống Nam Hàn ra sao. Ngay từ khi bước chân vào nhà chồng, Huỳnh Mai đă bị chồng bắt nhốt trong nhà, không cho tiếp xúc với hàng xóm. Mai muốn đi học tiếng Hàn chồng cũng không cho đi. Mai cứ hỏi điều ǵ liên quan đến tiếng Hàn là bị chồng chửi bới, đánh đập. Sau gần hai tháng sang đất Hàn làm vợ, Huỳnh Mai cảm thấy chán nản với cuộc sống đất khách quê người nên xin chồng cho về Việt Nam. Người chồng không những không cho mà c̣n nổi giận lôi đ́nh đánh Mai đến chết, ông ta dùng chân giẫm lên người Mai khiến cô bị găy đến 18 chiếc xương sườn. Sau khi sát hại vợ, hung thủ đă bỏ trốn đến Deachon, miền trung Nam Hàn. Ngày thứ năm tuần trước từ nơi ẩn náu, ông ta gọi điện thoại về cho người chủ nhà nên bị cảnh sát truy t́m được. Huỳnh Mai trước khi lấy chồng sang Nam Hàn từng làm việc cho công ty thủy sản, xưởng đồ gỗ, làm nông. Lá thơ được dịch bởi Trung tâm Hỗ trợ người nước ngoài thành phố Cheonan. Trung tâm này cho biết lá thư của Huỳnh Mai viết trước khi bị sát hại một ngày và để trong hộc bàn, chồng cô đă không phát hiện. Sổ thông hành của Mai bị xé vứt trong sọt rác. Trưởng Trung tâm Hỗ trợ người nước ngoài Kim Ki Shu cho biết các cô dâu nước ngoài khi có bất ḥa với chồng chỉ cần có một nơi để cầu cứu th́ đă không có chuyện đau ḷng như thế xảy ra. Trong trường hợp này, chỉ cần Huỳnh Mai có một nơi để gọi đến, th́ chắc chắn là đă không xảy ra chuyện này. Ông Kim nói rằng với trường hợp của Huỳnh Mai, công ty môi giới cho Mai đă giải tán, v́ vậy Mai không có nơi nào để hỏi thăm. Chính quyền thành phố đang xây dựng trung tâm cung cấp dịch vụ thông dịch, nhưng một cô dâu nước ngoài mới đến đây chỉ được vẻn vẹn hai tháng như Huỳnh Mai th́ không thể biết về dịch vụ này được. Cảnh sát Cheonan cho biết tại một phường của thành phố Daecheon, chồng của Huỳnh Mai là Jangamuke đă bị bắt và giam giữ chờ ngày xét xử. Ông Jangamuke khai rằng trong tối hôm xảy ra sự việc, Huỳnh Mai đă đ̣i về Việt Nam khiến ông ta nổi giận mà sát hại vợ ḿnh. Huỳnh Mai đă được hỏa táng và tro của Mai được bảo quản tại tại Cheonan. Tưởng cũng nên biết thời gian gần đây đă có rất nhiều vụ việc liên quan đến các cô dâu Việt Nam ở Nam Hàn bị đối xử tệ bạc, bị ép ly hôn, bị đuổi ra khỏi nhà chồng khi không có nơi nương tựa, mà nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đă không làm ǵ để giúp đỡ cho những người bất hạnh này. Vào năm 2005, Bộ B́nh đẳng giới và gia đ́nh Nam Hàn lập chương tŕnh trợ giúp các cô dâu ngoại nhằm hiểu thêm về văn hóa và đời sống gia đ́nh của nước này. Các cô dâu ngoại quốc từ Trung Quốc, Việt Nam, Philippines và Nhật có dịp đối thoại với những hướng dẫn viên để giải tỏa những thắc mắc cá nhân về ngôn ngữ, chăm sóc con cái, giải quyết xung đột trong quan hệ gia đ́nh. Đến đầu năm 2007, Nam Hàn có chương tŕnh trợ cấp các cô dâu ngoại quốc lấy người địa phương nghèo khó để nuôi con, khám bệnh và có được mức sống tối thiểu dù nhập quốc tịch. Bộ B́nh đẳng giới và gia đ́nh đưa ra các biện pháp trợ giúp những đứa con lai nhằm xóa bỏ sự phân biệt đối xử. Cũng theo chương tŕnh này, những đứa con lai sẽ nhận quốc tịch Nam Hàn nếu như có đủ bằng chứng cho thấy do mẹ hoặc cha là người Nam Hàn sinh ra. Chính phủ Nam Hàn cũng thắt chặt kiểm soát hoạt động môi giới hôn nhân với người nước ngoài, ngăn ngừa t́nh trạng vi phạm nhân quyền. |
| Bộ máy chống tham nhũng ph́nh to cùng tham nhũng La Thành Vào ngày họp cuối cùng của kỳ họp khai trương Quốc hội khoá XII, Luật pḥng, chống tham nhũng (ban hành ngày 29.11.2005 và có hiệu lực từ ngày 1.6.2006) đă được quyết định sửa đổi, mở đường cho việc thành lập các ban chỉ đạo pḥng - chống tham nhũng cấp tỉnh / thành phố trực thuộc trung ương, do các chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh / thành phố đứng đầu. Trước đó, Ban Chỉ đạo Pḥng - chống Tham nhũng Trung ương, do đích thân Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng làm trưởng ban, đă được thành lập và vận hành từ hơn một năm nay. Người ta có thể không nghi ngờ sự lo lắng đủ sâu sắc của một số người có trách nhiệm trong chế độ đương cuộc ở Việt Nam về cái mà chính họ gọi là “quốc nạn tham nhũng”, song người ta có đầy đủ căn cứ lư thuyết và thực tiễn để tiên liệu sự vô hiệu của những phương cách “lấy thúng úp voi” mà chính giới Việt Nam đang rềnh ràng huy động để đương đầu với quốc nạn này. Những điều kiện để cho tham nhũng phát sinh và phát triển, như các nhà khoa học xă hội và khoa học chính trị chỉ ra, có thể tóm tắt trong công thức đă phổ biến rộng răi: [1] THAM NHŨNG = QUYỀN LỰC ĐỘC ĐOÁN + BƯNG BÍT THÔNG TIN – TRÁCH NHIỆM GIẢI TR̀NH Việt Nam, – nơi mà quyền lực chính trị và kinh tế bị độc chiếm liên tục từ già nửa thế kỷ nay bởi một thiểu số, nơi thông tin chưa bao giờ thực sự cởi mở và trách nhiệm giải tŕnh của hệ thống công quyền chưa bao giờ được trân trọng, – hiển nhiên là một mảnh đất quá ph́ nhiêu cho tham nhũng. Không có dấu hiệu nào cho thấy những điều kiện trên đây bắt đầu suy kém. Kiểm soát thông tin – bao gồm cả thông tin cáo giác tham nhũng – tiếp tục là một quốc sách, được bảo đảm bằng cả ư thức, cả phương tiện kỹ thuật lẫn công cụ thể chế. Mọi người c̣n chưa quên sự việc Cựu Thủ tướng Phan Văn Khải thời c̣n đương chức đă đích thân hạ lệnh xử lư kỷ luật trang tin điện tử VNExpress, do báo này đă đưa tin và mở diễn đàn cho độc giả thảo luận về vụ nhượng bán mờ ám 78 chiếc Mercedes được Chính phủ nhập miễn thuế trước đó để phục vụ ASEM (Asia-Europe Meeting) lần thứ Năm (tháng 10.2004); kết quả là tổng biên tập lúc đó của VNExpress đă bị chuyển công tác. Trong một diễn biến khác, một nữ phóng viên báo Tuổi trẻ, sau loạt bài điều tra sự tăng giá tân dược một cách bất thường hồi cuối 2004 – đầu 2005, đă suưt bị khởi tố và lănh án với tội danh được quy kết là “chiếm đoạt tài liệu thuộc bí mật nhà nước”; dư luận lương tri cả trong và ngoài nước những ngày đó đă cứu cô thoát khỏi tai nạn làm vật hi sinh cho các nhóm lợi ích đang giành nhau quyền kiểm soát thị trường thuốc tây. Cuối năm ngoái, truyền thông quốc nội lại rộ lên xung quanh việc gia đ́nh Cựu Chủ tịch Hà Nội Hoàng Văn Nghiên, từ khi ông Nghiên măn nhiệm năm 2004, thuê công thự số 12 phố Nguyễn Chế Nghĩa rộng hàng trăm mét vuông với giá chỉ bằng giá thuê một gian pḥng 10 mét vuông, và chuẩn bị mua đứt ngôi biệt thự công thuộc diện không được bán này. Cùng lúc, việc toà nhà công sở số 6 phố Lư Thái Tổ được bán cho Thống đốc Ngân hàng Trung ương Lê Đức Thuư làm tư thất với “giá ưu đăi”, và việc ông Thuư khai man t́nh trạng “khó khăn về nhà ở” của gia đ́nh ông cũng bị phát giác. Khi báo chí đang tiếp tục phanh phui những tin tức liên quan đến hợp đồng in tiền mặt polymer gây tranh căi của Công ty In Ngân hàng do con trai ông Thuư làm phó giám đốc với một nhà thầu nước ngoài, th́ nhận được lệnh “stop”: tám tờ báo giấy bị kỷ luật từ phạt tiền đến tạm đ́nh bản v́ đă “không chấp hành chỉ đạo của Chính phủ” (yêu cầu ngừng đưa tin về chủ đề nhạy cảm này). Sóng gió truyền thông bị dập lặng mau lẹ. Gia đ́nh ông Nghiên được giải quyết chỗ ở khác, c̣n ông Thuư th́ chỉ đơn giản “trả lại” toà nhà mà ông đă được cấp “sổ đỏ”, được đền bù số tiền ông đă bỏ ra xây lại toà nhà và tiếp tục tại nhiệm. Ở một quốc gia pháp quyền, một bộ trưởng như ông Thuư chắc chắn đă phải dời nhiệm sở tức th́ v́ một “phốt” c̣n mọn hơn scandal của ông nhiều, c̣n các đồng liêu của ông ở Bộ Văn hoá và Thông tin – cơ quan đă ra quyết định xử phạt hành chính tám tờ báo như vừa kể – thậm chí phải bị truy tố. [2] Gần đây, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đă kư Chỉ thị số 37/CP (tháng 11.2006) với nội dung “kiên quyết không để tư nhân hoá báo chí dưới mọi h́nh thức”, và Quyết định số 77/2007/QĐ-TTg (tháng 5.2007) về quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các tổ chức công quyền, với những quy định có ư nghĩa khẳng định quyết tâm ở cấp nhà nước tiếp tục duy tŕ Việt Nam như một trong những quốc gia được liệt hạng thấp nhất về tự do báo chí. [3] Về trách nhiệm giải tŕnh, lâu nay, những phiên chất vấn - trả lời chất vấn trong nghị tŕnh các kỳ họp Quốc hội thường được truyền h́nh trực tiếp như một biểu hiện của tính công khai. Tuy nhiên, chính những phiên họp này lại tố giác nhiều điều. Nhà văn Đặng Thị Thanh Hương, nguyên đại biểu quốc hội, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá - Giáo dục - Thanh thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội khoá IX, đă kể lại trong hồi kư của ḿnh về thái độ khinh nhờn, bất cần, bất cẩn, thiếu năng lực và phẩm chất của nhiều bộ trưởng trong Chính phủ thể hiện trong các thuyết tŕnh trả lời chất vấn trước Quốc hội. [4] Bản thân sự bưng bít thông tin, kiểm soát / hạn chế tự do báo chí, cấm đoán xă hội dân sự, từ chối độc lập hoá các nhánh quyền lực của hệ thống chính trị hiện nay cũng chính là để lẩn tránh trách nhiệm giải tŕnh. Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định ư chí không chia sẻ quyền lực chính trị đă độc chiếm cho bất kỳ ai. Bầu cử Quốc hội vẫn tiếp tục là một thủ tục tŕnh diễn thô thiển ḥng đắp điếm tính chính đáng cho ‘nhà nước - đảng’ toàn trị. Mọi đại biểu Quốc hội đều là người của Đảng Cộng sản, kể cả số ít (chưa đến 9 phần trăm) đại biểu không phải đảng viên cộng sản. [5] Bản thân sự độc chiếm quyền lực này chính là tham nhũng, và là sự tham nhũng ở mức độ cao nhất – “tham nhũng (hay đánh cắp) quyền lực”. Một nhà quan sát – Giáo sư Yoshiharu Tsuboi từ Đại học Waseda (Nhật Bản) – nhận xét rằng ở Việt Nam, “tham nhũng giúp bảo vệ quyền lực”. Theo ông, hệ thống chính trị ở đây có nhu cầu duy tŕ bộ máy hành chính ở mức độ kém hiệu quả cần thiết, đủ để mọi cán bộ nhân viên của bộ máy đều là tội phạm hoặc tội phạm tiềm năng do tham nhũng, nhờ đó họ bị buộc chặt vào bộ máy bởi lợi ích. [6] Trong một hệ thống mà con người là con tin của tham nhũng như vậy, nếu một ai đó từ chối tham nhũng, anh ta sẽ trở thành con ngựa ô trong cả tàu ngựa bạch, gây cho hệ thống cảm giác mất an toàn trước sự tồn tại “khác người” của anh ta: anh ta sẽ bị loại bỏ. Giáo sư Tsuboi viết: “Do chỗ hầu như mọi người đều dính líu tập thể vào những hành vi vi phạm pháp luật trong cuộc sống hằng ngày, tội lỗi của từng cá nhân luôn được che đậy. Nhưng một khi hệ thống toan tính khép tội một ai đó đang làm nó khó chịu, – tỷ như những người bất đồng chính kiến, những người đối đầu với thể chế hoặc những người từ chối tham gia vào tham nhũng, – nó sẽ có ngay một cơ cụ liền tay để cáo buộc họ đă vi phạm pháp luật.” [7] Nói cách khác, “hệ thống đă được thiết đặt sao cho hễ có một ai trong nội bộ biểu tỏ khả năng chống đối hay phản kháng lại thiết chế ‘nhà nước - đảng’ hiện hành, th́ ‘tham nhũng’ sẽ được sử dụng để hất cẳng anh ta bằng pháp luật.” [8] Việc đ̣i hỏi cải cách hệ thống một cách thấu đáo để loại bỏ tận gốc tham nhũng là một thái cực được coi là trực tiếp đe doạ sự tồn vong của chế độ. Điều này giải thích v́ sao giới lănh đạo Việt Nam chưa từng và sẽ không bao giờ tỏ thực tâm và quyết tâm bài trừ triệt để tham nhũng. Khi nhậm chức vào tháng 6.2006, một trong những hứa hẹn của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là sẽ đưa các vụ án tham nhũng trọng điểm ra xét xử trước quư tư cùng năm. Thuộc cấp của ông đă không giúp ông thực hiện lời hứa: vụ Mai Văn Dâu chỉ được tŕnh toà tháng Sáu vừa qua, sau 31 tháng kể từ khi khởi tố (tháng 11.2004), c̣n vụ PMU18 - Bùi Tiến Dũng (khởi tố tháng 1.2006) th́ vừa mới thành án khi bài viết này đang được đánh máy. (Trong khi đó, đối với các vụ án đối lập chính trị, guồng máy của Thủ tướng Dũng đă tỏ ra sốt sắng và cương quyết hơn nhiều lần!) Mai Văn Dâu, Bùi Tiến Dũng và những kẻ liên đới đă trở thành con mồi cho sự trừng phạt đậm màu sắc nghi thức v́ đă “chơi sai luật”: sự quá trớn này là cực bên kia trong hai thái cực có thể làm xói lở chế độ. Chứ nếu tất cả các vụ tham nhũng đều bị khởi tố, thì toàn bộ bộ máy công quyền sẽ ngừng hoạt động, hệ thống chính trị sẽ lập tức khủng hoảng. C̣n nhớ, khi Luật pḥng, chống tham nhũng c̣n đang được soạn thảo, trên nghị trường người ta đă tranh căi khá nhiều về vấn đề Ban chỉ đạo Pḥng - chống Tham nhũng Trung ương sẽ nằm trong cơ cấu nào – Quốc hội, Viện Kiểm sát Tối cao hay Chính phủ –, và do ai phụ trách. Những người đứng đầu Quốc hội và Viện Kiểm sát Tối cao lúc đó – các ông Nguyễn Văn An và Hà Mạnh Trí – đều từ chối phụ trách cơ quan mới này và đề nghị ấn định nó thuộc thành phần Chính phủ, một đề nghị đă vấp phải rất nhiều ư kiến phản đối của các đại biểu quốc hội. Thực ra, điều này đă được quyết định trước bởi Bộ Chính trị của Đảng rồi. Các nhà lănh đạo toàn trị hoàn toàn không có (hoặc bất chấp) ư niệm về phân lập, kiềm chế và cân bằng các quyền: Chính phủ, đầu năo của guồng máy hành chính của tất cả các ngành kinh tế và xă hội, đang điều khiển một cơ thể đầy ung nhọt tham nhũng, nay lại đứng ra “chỉ đạo” công tác pḥng - chống tham nhũng ở cấp nhà nước! Đây là bằng chứng cho thấy Luật pḥng, chống tham nhũng và Ban chỉ đạo Pḥng - chống Tham nhũng Trung ương chỉ mang ư nghĩa tŕnh diễn. Vậy tại sao cần phải đẻ ra các ban chỉ đạo pḥng - chống tham nhũng cấp tỉnh? Nguyễn Tấn Dũng, cũng như mọi nhà lănh đạo khác của ‘nhà nước - đảng’ toàn trị, không phải là người theo chủ nghĩa tản quyền (federalism) trong xây dựng thể chế để có nhu cầu được các lănh đạo địa phương san gánh bớt quyền lực. Đầu lĩnh toàn trị chỉ chấp nhận phân cấp quyền lực khi cái giá phải trả cho những hệ luỵ của sự tập trung quyền lực không cân đối được với lợi ích của nó. Tham nhũng là loại tội phạm không hề mới, và trong thể chế đă sẵn có quá nhiều cơ quan có chức năng cảnh giới, phát hiện, xử lư và trấn áp tội phạm như công an, hệ thống ban thanh tra của Chính phủ và uỷ ban nhân dân các cấp, viện kiểm sát nhân dân các cấp, uỷ ban kiểm tra của các cấp bộ Đảng, v́ vậy các nhà lập pháp Việt Nam khi biên thảo điều luật về Ban chỉ đạo Pḥng - chống Tham nhũng Trung ương đă không thể trù liệu cho nó một công năng mới, biệt lập nào, đành đùn đẩy việc xác định công năng của cơ quan này cho các thao tác sau luật và dưới luật bằng ḍng văn: “Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo trung ương về pḥng, chống tham nhũng do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ.” [9] Trên thực tế, nó không thể có nhiều hơn vai tṛ của một “bưu cục” phân loại và chuyển các đơn thư khiếu tố. Sau hơn một năm ôm cái “ḥm thư khiếu tố” kia, Thủ tướng Dũng và các cộng sự của ông đă nhận thức rơ sự bất lực trước một quốc nạn vô phương giải trừ. Nay ông muốn các lănh đạo địa phương chia sẻ cùng ông… sự bất lực này! Chưa cần đợi Quốc hội nhóm họp để sửa luật, 26 tỉnh thành đă thành lập các ban chỉ đạo pḥng - chống tham nhũng của địa phương ḿnh theo lệnh Thủ tướng, thêm một thí dụ về sự khinh thị của đầu lĩnh toàn trị đối với thiết chế lập pháp của chế độ và hệ thống luật nặng tính trưng bày do chính nó làm ra. Những câu hỏi tự nhiên đă được nêu ra: Tiếp sau cấp tỉnh / thành, liệu các cấp huyện / quận, rồi xă / phường có phải thành lập các ban chỉ đạo pḥng - chống tham nhũng của cấp ḿnh? Tương tự, có cần thành lập các ban như thế ở các bộ ngành? Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu đă trấn an các đại biểu Quốc hội trước khi biểu quyết: “Ban chỉ đạo cấp tỉnh về pḥng - chống tham nhũng có đủ điều kiện để chỉ đạo công tác pḥng - chống tham nhũng đến cấp huyện, xă, bảo đảm tính thống nhất trong phạm vi tỉnh. Ở các bộ ngành, bộ trưởng là người trực tiếp chỉ đạo công tác pḥng - chống tham nhũng trong bộ của ḿnh. Do đó, không đặt vấn đề thành lập các ban chỉ đạo ở cấp huyện và các ngành.” [10] Người ta không t́m thấy bóng dáng của lô-gích trong lập luận này của ông Uông Chu Lưu, nguyên Bộ trưởng Tư pháp trong chính phủ của Cựu Thủ tướng Phan Văn Khải. Đại biểu Quốc hội Lê Đ́nh Khanh, Bí thư Đảng đoàn kiêm Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Hải Dương đặt câu hỏi: “Thời gian kể từ khi Luật pḥng - chống tham nhũng có hiệu lực c̣n quá ngắn, mới được một năm, chưa có sự phân tích, đánh giá kết quả thực hiện, chưa có sự tính toán xem nếu lập ban chỉ đạo ở cấp tỉnh th́ sẽ phải sắm thêm bao nhiêu ô-tô, bỏ ra bao nhiêu kinh phí mỗi năm và thu về cái ǵ: ḷng dân hay tiền bạc?” Và ông Khanh đă tự trả lời: “Dứt khoát sẽ thêm biên chế, tiền chi tốn kém!” [11] Vị đại biểu quốc hội này đă không thể trần t́nh rành mạch hơn rằng: kinh phí – hay tiền thuế của dân – sẽ tiếp tục bị hoang phí, trong khi cả ḷng dân, cả tiền bạc bị tham nhũng đánh cắp sẽ một đi không quay trở về. Chế độ toàn trị luôn luôn là một chế độ hoang phí vô độ! Luật sửa đổi, bổ sung của Luật pḥng, chống tham nhũng [12] đă được thông qua với tỷ lệ đồng thuận thấp nhất trong lịch sử làm luật của Quốc hội Việt Nam: 68,36 phần trăm. Trong số 470 đại biểu quốc hội hiện diện, 100 người đă biểu quyết chống và 33 người từ bỏ quyền biểu quyết. Hăy c̣n quá sớm để nói về sự bắt đầu của một quá tŕnh phân tán ư chí trong cái gọi là “cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất” này, song đây chắc chắn là một sự rạn nứt niềm tin đáng kể của các đại biểu vừa mới được Đảng tin cẩn chọn lựa. Tham nhũng ở Việt Nam có nguồn gốc từ bản chất toàn trị và cấu trúc của hệ thống chính trị. Việc bài trừ tận gốc quốc nạn này hoàn toàn nằm ngoài quyết tâm và năng lực của đảng cầm quyền. Sử dụng con người và phương tiện của chính hệ thống tham nhũng để chống tham nhũng là một thách thức ngỗ ngược đối với lư trí và đạo lư. Hà Nội, 8.8.2007 © 2007 talawas |
| Tổng Hội Cựu SVSQTB/TĐ/HN Ủy Ban Thường Trực Số 22/UBTT/NTQD ***** Góp ư về trùng tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa. ***** 1. Vấn đề. Trùng tu “Nghĩa Trang Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa” tại Biên Ḥa là một công tŕnh rất nên thực hiện, nhưng vấn đề đặt ra là “Trùng tu theo nguyên trạng trước tháng 5/1975 hay trùng tu theo bắt buộc của cộng sản Việt Nam (CSVN)? Bởi, lịch sử đă chứng minh rằng, trong chế độ cộng sản không có người cộng sản tử tế, mà chỉ có độc tài tàn bạo, chỉ có gian trá dối gạt, và bằng chứng mới nhất là tiếng nói của hằng ngàn dân oan gian từ 18 thành phố qui tụ tại Sài G̣n, “ăn chực nằm nhờ” từ ngày 22/6/2007 để đ̣i hỏi Thủ Tướng CSVN giải quyết oan ức của đồng bào từ hằng chục năm qua về đất đai nhà cửa của đồng bào bị cộng sản địa phương áp bức bóc lột. Không một ai có thẩm quyền hay đại diện của họ tiếp xúc t́m hiểu nỗi oan ức của người dân trong khi Thủ Tướng CSVN sau khi nhận chức đă tuyên bố trực tuyến với dân để t́m hiểu dân, thêm một chứng minh bản chất của lănh đạo CSVN là gian trá dối gạt. Để rồi tối 17/7/2007, huy động hằng ngàn Công An lẫn thành phần vai u thịt bắp nào đó khiêng hằng mấy trăm dân oan lên xe chở đi trong đêm khuya. Sự tàn bạo của cộng sản nói chung và CSVN nói riêng, được chứng minh bởi tượng đài “Tưởng Niệm Nạn Nhân Cộng Sản Thế Giới” khánh thành ngày 12/6/2007 tại Washington DC , là một bằng chứng hùng hồn về sự tàn bạo của cộng sản trên b́nh diện thế giới. 2. Quốc Gia Nghĩa Tử Heritage. Vài tháng gần đây, Quốc Gia Nghĩa Tử Herirage vận động với cộng sản Việt Nam để trùng tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa. Trên màn ảnh đài SBTN, đại diện “Quốc Gia Nghĩa Tử Heritage” là anh Nguyễn Duy Linh và anh Nguyễn Hà. Anh Nguyễn Hà tự thuật về việc anh tham gia chánh phủ Nguyễn Hữu Chánh (NHC) từ năm 2001 đến 2004. Trong thời gian đó, anh Hà đă liên lạc với những cơ quan tại Việt Nam liên quan đến sự kiện thành viên của NHC đă bị cộng sản bắt. Điều này cho phép nhận định anh Hà biết cách “vận động hành lang” -nói theo Cộng Đồng hải ngoại- hay là biết cách “móc nối chạy chọt” -nói theo xă hội Việt Nam- ngày nay. Anh Hà lẫn anh Duy Linh cùng xác nhận, “bác Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ đứng sau lưng hỗ trợ”. Anh Duy Linh cho biết, việc làm này hoàn toàn về tâm linh chớ không mang màu sắc chính trị, nên được sự ủng hộ của hầu hết thành viên Quốc Gia Nghĩa Tử, do vậy mà anh tin tưởng sẽ thành công. Trên đây là tóm tắt vài nét chính trong buổi phát h́nh ngày 9 và 12/7/2007 trên đài SBTN, trong chương tŕnh Huynh Đệ Chi Binh do anh Huy Phương phụ trách. Qua lời lẽ tŕnh bày của anh Hà và anh Linh, chứng tỏ hai anh rất tự tin vào mục đích mà Quốc Gia Nghĩa Tử Heritage đang thực hiện dù mới bước đầu. Xin nhấn mạnh, trong hai lần xuất hiện trên đài SBTN, anh Huy Phương có dùng danh xưng “Quốc Gia Nghĩa Tử Foundation” nhưng Hà lẫn anh Linh không hề đính chánh hai anh thuộc tổ chức “Quốc Gia Nghĩa Tử Heritage” mới thành lập tháng 4/2007. Trong đơn đề ngày 30/4/2007, đứng tên Quốc Gia Nghĩa Tử Heritage, gởi ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ Tướng cộng sản Việt Nam, thỉnh cầu bảo quản và trùng tu nghĩa trang B́nh An. Rơ ràng là ngay khi chưa bắt đầu, tổ chức này đă công nhận không c̣n nghĩa trang quân đội Biên Ḥa rồi! (mời vào trang web Take2Tango.com xem đơn này) 3. Tổng Hội Cựu SVSQTB/TĐ/HN, nhiệm kỳ 2006-2008. a. Nhận thức. Tuổi trẻ có kiến thức, có tâm huyết, có óc quản trị và tổ chức xă hội, góp phần làm rạng danh Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại, rất xứng đáng được vinh danh. Lại càng được vinh danh khi tuổi trẻ tham gia những công tác góp phần xây dựng Cộng Đồng, đồng thời hỗ trợ công cuộc dân chủ hóa chế độ chính trị trên quê hương Việt Nam bằng cách này hay cách khác. Nhưng trong cuộc sống, bất cứ việc làm nào cũng cần kết hợp giữa tâm (tâm linh đạo đức) với trí (cái lư cái lẽ hướng dẫn tâm linh đạo đức), nhất là những việc làm phải được sự chấp thuận của CSVN, đều góp phần vào cuộc chiến giành lại quyền làm người cho 83 triệu đồng bào, kể cả Cộng Đồng chúng ta khi về Việt Nam thăm thân nhân. Do đó, không có tâm linh đạo đức nào lại đứng riêng rẽ khi tiếp xúc không b́nh đẳng với CSVN, v́ như vậy sẽ lọt vào ṿng vây gian trá dối gạt của họ. Kinh nghiệm đắng cay trong 32 năm qua cho chúng ta nhận định mà không sợ sai lầm, là bất cứ hành động nào của nhóm lănh đạo CSVN, cũng nhắm đạt được lợi ích chính trị cho dẫu hành động của họ liên quan đến người sống hay người chết. Kinh nghiệm cũng chứng minh rằng, chưa bao giờ CSVN v́ lợi ích tâm linh hay nhân đạo cho họ hay cho bất cứ ai khác. Người quốc gia chúng ta chủ trương nhân đạo không kèm theo chính trị, nhưng với lănh đạo CSVN, tất cả đều là trao đổi trong mục đích chính trị của họ. Vậy, khi tiếp xúc với CSVN trong ư nghĩa “xin và cho”, phải hết sức thận trọng để tránh hối hận về sau. Vài sự kiện chứng minh điều đó. Chúng ta không quên ông Phạm Văn Đồng, Thủ Tướng CSVN từng tuyên bố nhiều lần rằng, bọn ngụy quân ngụy quyền gây tội ác tầy trời không thể dung tha. Ấy vậy mà chẳng bao lâu sau đó, họ phải trả tự do cho hằng trăm ngàn tù nhân chính trị chúng ta trong năm 1987 và sau đó, để đổi lấy sự bang giao từ phía Hoa Kỳ. Chúng ta cũng không quên đă bao nhiêu lần họ sử dụng những hài cốt nguyên là quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh Việt Nam, để đổi lấy những lợi ích chính trị từ phía Hoa Kỳ cung ứng. Đến hành động trước ngày khai mạc hội nghị APEC tại Hà Nội hồi cuối năm 2006, họ thả vài người đấu tranh cho dân chủ tự do trong nước, cứ như cộng sản là một chế độ tử tế để mua ḷng quốc tế. Tháng 6/2007, Hoa Kỳ giằng co trong việc đón Nguyễn Minh Triết đến thăm, v́ CSVN vi phạm nhân quyền ngày càng trầm trọng từ sau hội nghị APEC, nên Hà Nội buộc phải trả tự do vài người đấu tranh cho dân chủ để Nguyễn Minh Triết cảm thấy giảm bớt sức ép nhân quyền khi rời Việt Nam sang Hoa Kỳ. Lại càng không thể quên những vụ án gian trá xử những vị đấu tranh ôn ḥa trong nước đ̣i lại quyền làm người cho 83 triệu dân, mà rơ ràng hơn hết là h́nh ảnh Linh Mục Nguyễn Văn Lư bị bịt miệng ngay trong phiên ṭa cuối tháng 3/2007. Và v..v... Bởi, cho dẫu nh́n theo cách nh́n nào đi nữa, thật sự chúng ta đă và đang đấu tranh với CSVN bằng những cách thể hiện ư thức chính trị, trong khi CSVN luôn t́m mọi cách từ công khai (Nghị Quyết 36) đến không công khai (qua những tên tay sai trong Cộng Đồng chúng ta) trong mục đích vừa đánh phá vừa chiêu dụ Cộng Đồng, nhất là chiêu dụ tuổi trẻ mà bài viết của ông Phạm Phú B́nh, Thứ Trưởng Ngoại Giao cộng sản đă là bằng chứng (*), kêu gọi chúng ta -nhất là tuổi trẻ- quên cái quá khứ đắng cay tàn bạo mà họ đă gây ra cho dân tộc Việt Nam, để ḥa hợp với họ mà giúp họ tồn tại như những anh hùng của đảng cộng sản (chớ không phải của dân tộc). Cũng cần phân biệt giữa bày tỏ “ư thức chính trị” với “hoạt động chính trị” ngay trong Cộng Đồng chúng ta. Bằng chứng, tất cả những hành động của chúng ta thông qua các cuộc mít tinh biểu t́nh chống đối CSVN, là thể hiện ư thức chính trị của Cộng Đồng tị nạn cộng sản trong khuôn khổ luật pháp. Nếu không lầm, luật pháp Hoa Kỳ không chấp nhận hoạt động chính trị ngay trên đất Hoa Kỳ trong mục đích lật đổ một chế độ chính trị tại quốc gia mà Hoa Kỳ có bang giao. b. Giả thuyết. Với những kinh nghiệm đắng cay nghiệt ngă đó, cho phép suy đoán khi các vị trong Quốc Gia Nghĩa Tử Heritage về tiếp xúc với CSVN, hầu như chắc chắn sẽ bị họ ràng buộc nhiều điều về nội dung để làm biến dạng công tŕnh nghĩa trang quân đội Biên Ḥa, một công tŕnh mà CSVN luôn t́m cách xóa bỏ, v́ đây là một trong những chứng tích tội ác của họ với lịch sử với dân tộc. Dưới đây là suy đoán những ràng buộc từ phía cộng sản: (1) Tượng Thương Tiếc. Họ không cho phục hồi, hoặc cho phục hồi nhưng là bức tượng không phải là quân nhân, hoặc là quân nhân nhưng phảng phất h́nh ảnh người lính cộng sản của họ. Trường hợp này, có thể bằng cách gian trá nào đó, người đúc tượng nhận lệnh của CSVN và làm theo ư họ mặc dù tiền th́ ḿnh trả. Đến giờ chót người đúc tượng mới giao cho ḿnh và ḿnh nhận ra th́ quá muộn. Gian trá mánh mung lừa gạt, phải thừa nhận người cộng sản thuộc hạng “siêu” đối với người quốc gia. (2) Cổng Tam Quan. Có thể họ không buộc phá bỏ, nhưng họ buộc sửa đổi để mất vết tích cổng nghĩa trang Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, trở thành cổng nghĩa trang dân sự. (3) Đền liệt sĩ và mộ vô danh. Có thể họ sẽ thay đổi cho biến dạng theo cách nào đó. Cũng có thể họ chuyển hài cốt tử sĩ Việt Nam Cộng Ḥa ở đó đi nơi khác, và đưa bộ hài cốt lính cộng sản của họ vào đó. Tất nhiên, CSVN làm việc này mà chúng ta không biết. (4) Nghĩa Dũng Đài và Vành Khăn Tang. Có thể họ viện dẫn lư do kỹ thuật để phá bỏ, v́ thời gian công tŕnh này dang dở từ năm 1975. Hoặc vẫn để nguyên công tŕnh, nhưng họ buộc vành khăn tang phải có h́nh ảnh hoặc những ḍng chữ ǵ đó theo ư họ, trong khi công tŕnh nguyên gốc dự định ghi tên những quân nhân đă hi sinh v́ Tổ Quốc lên vành khăn tang đó. Cũng có thể trên đỉnh Nghĩa Dũng Đài, họ sẽ treo lá cờ máu của họ nữa. (5) Những ngôi mộ. Với những ngôi mộ đă chuyển hài cốt, có lẽ không đặt thành vấn đề. Với những ngôi mộ c̣n lại, có thể họ đồng ư cho chúng ta tu sửa. Nhưng với mộ bia có ghi cấp bậc, đơn vị, có những bia có h́nh của tử sĩ, liệu CSVN có đồng ư cho chúng ta trùng tu lại nguyên trạng không? Nếu không, liệu chúng ta có đành tâm xóa bỏ h́nh ảnh lẫn cấp bậc đơn vị trên mộ bia không? Nếu chúng ta đành tâm làm như vậy, liệu chúng ta có xứng đáng là hậu duệ của cha chú đă hi sinh không? (6) Những khoảnh đất c̣n lại. Liệu họ có cho chuyển những hài cốt của tử sĩ Việt Nam Cộng Ḥa vừa mới phát hiện trong mồ chôn tập thể ở B́nh Dương vào an táng không? Và cả những hài cốt sau này sẽ t́m thấy nữa? Và liệu CSVN có sử dụng những khoảnh đất đó để đưa các hài cốt lính của họ vào đó, để biến dần thành nghĩa trang của họ, hoặc làm nơi an táng cho người dân trong vùng không? Rất có thể CSVN sẽ hành động như vậy, dần dần nghĩa trang quân đội sẽ biến thành nghĩa trang dân sự, và đó cũng là cách xóa tên nghĩa trang quân đội Việt Nam Cộng Ḥa mà họ muốn. Nếu mục đích của CSVN như vậy, tất nhiên là họ không nói với chúng ta là thực hiện bây giờ, mà là họ sẽ lặng lẽ thực hiện sau này. V́ đâu có ai trong chúng ta “gác” ở đó sau khi trùng tu xong, cho dẫu có ở đó đi nữa th́ liệu dám ngăn cản hay chống cự họ không? (7) Những ǵ sau đó. Cứ cho là trùng tu xong, những ǵ phải tiếp tục sau đó như trách nhiệm ǵn giữ bảo tŕ chẳng hạn, v́ chẳng lẽ xong rồi phủi tay? c. Sự thật chua chát. Ông Nguyễn Cao Kỳ, cựu Thiếu Tướng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa, nay trở thành tay sai của CSVN, và điều này Cộng Đồng chúng ta tị nạn cộng sản trên thế giới đều nhận biết. Nếu thật sự Quốc Gia Nghĩa Tử Heritage nhận ông này “đứng sau lưng” trong công tác trùng tu nghĩa trang quân đội Biên Ḥa, tuy không nói ra nhưng suy đoán sẽ là “gạch nối” với CSVN, liệu Cộng Đồng tị nạn cộng sản hải ngoại có sẳn ḷng ủng hộ công tŕnh này không? Bởi h́nh ảnh trong bữa tiệc ở thành phố Dana Point ngày 22/6/2007, cho thấy ông Kỳ tay sai kính cẩn “thưa ngài Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết (NMT)” của ông rằng, ông đại diện cho Cộng Đồng hải ngoại tại Nam California mà chúc tụng CSVN, trong khi hằng mấy ngàn bà con trong Cộng ĐồngNam California qui tụ bên ngoài, biểu t́nh phản đối NMT. Một sự thật quả là chua chát về liêm sĩ một con người! d. Kết luận. Gian trá mánh mung lừa gạt, là bản chất của lănh đạo CSVN. Ngay cả Hiệp Định Đ́nh Chiến Genève 20/7/1954 có Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đ́nh Chiến hẳn ḥi, và Thỏa Ước Ngưng Bắn & Tái Lập Ḥa B́nh Paris 27/1/1973 có Liên Hiệp Quốc và 12 quốc gia bảo đảm, lănh đạo CSVN c̣n coi như không có th́ sá ǵ những lời hứa hẹn hay vài văn bản cấp cho “bên xin” (trùng tu nghĩa trang quân đội)? Tổng Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức Hải Ngoại chúng tôi, rất quan tâm đến công tác trùng tu nghĩa trang quân đội Biên Ḥa. Hai năm gần đây, chúng tôi đă âm thầm gởi tiền về nhờ đồng môn đồng đội tiếp tay làm cỏ quét vôi và tu sửa lặt vặt hằng ngàn ngôi mộ. Nhưng chúng tôi không thể nào tin vào cộng sản bất cứ lời hứa hay văn bản nào của họ cấp “cho bên xin” liên quan đến công tŕnh trùng tu này. Nếu CSVN muốn làm người cộng sản tử tế mà họ gọi là ḥa giải ḥa hợp th́ hăy ḥa giải ḥa hợp với những tổ chức trong nước đ̣i quyền sống cho 83 triệu dân, phải trả tự do cho những người lên tiếng đ̣i lại quyền làm người, hăy giải quyết biết bao vụ cướp đoạt đất đai nhà cửa của người dân trong nước, lúc đó hăy nói đến ḥa giải ḥa hợp với Cộng Đồng tị nạn tại hải ngoại. Và đó là lúc tiến hành công tŕnh này, c̣n bây giờ chưa phải lúc, v́ nếu thực hiện “chúng ta sẽ mất Nghĩa Trang Quân Đội Biên Ḥa một cách hợp pháp”. Nếu không được trùng tu theo nguyên trạng trước tháng 5 năm 1975, th́ hăy âm thầm chăm sóc các phần mộ như những cá nhân lẫn tổ chức, đă và đang làm./. Làm tại Houston , 12 tháng 7 năm 2007 Phạm Bá Hoa, Chủ Tịch Ủy Ban Thường Trực. Lê Khắc Hai, Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành. Ngô Tôn, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát. ***** (*) Ngày 11 tháng 8 năm 2005, ông Nguyễn Phú B́nh, Thứ Trưởng Ngoại Giao CSVN, Chủ Nhiệm Ủy Ban Về Người Việt Nam Ở Nước Ngoài, đưa lên trang báo điện tử Người Viễn Xứ bài Cộng Đồng Người Việt Nam Ở Nước Ngoài, Khơi Dậy Nguồn Lực Chất Xám Của Việt Kiều. “…. Trong số gần 3.000.000 người Việt Nam sinh sống định cư ở nước ngoài, ước tính có khoảng 300.000 người được đào tạo ở tŕnh độ đại học và công nhân kỹ thuật cao, có kiến thức cập nhật về văn hoá, khoa học và công nghệ, về quản lư kinh tế. Trong đó có nhiều người đạt được vị trí quan trọng trong các viện nghiên cứu, trường đại học, bệnh viện, công ty kinh doanh của các nước, và các tổ chức quốc tế. Tiềm lực khoa học và công nghệ của các thế hệ người Việt Nam ở nước ngoài không ngừng phát triển. Trong đó, một thế hệ trí thức mới người nước ngoài gốc Việt đang h́nh thành và phát triển, nhất là ở các nước Bắc Mỹ, Tây Âu, và Châu Đại Dương. Đội ngũ này tập trung ở nhiều lănh vực khoa học chuyên ngành và kinh tế như tin học, viễn thông, điện tử, vật liệu mới, chế tạo máy, điều khiễn học, sinh học, quản lư kinh tế, ngân hàng, chứng khoán, ..v..v.. Chính thế hệ trẻ Việt Nam ở nước ngoài, đang làm thay đổi cơ cấu Cộng Đồng từng bước thay thế lớp người lớn tuổi, chủ yếu là đối tượng hưởng trợ cấp xă hội, mà ít nhiều c̣n vướng mắc với quá khứ. Thế hệ trẻ này đang trở thành một thành phần quan trọng của công tác vận động nhằm động viên khuyến khích sự hợp tác, đóng góp của họ vào công cuộc xây dựng quê hương đất nước. Thế mạnh của đội ngũ trí thức người Việt Nam ở nước ngoài là được đào luyện, tiếp cận môi trường khoa học công nghệ tiên tiến, và nắm bắt được phương pháp quản lư kinh tế vĩ mô và chuyên ngành. Họ có khả năng phát kiến sáng tạo, có năng lực tổng hợp thông tin, tư vấn và tạo dựng mối quan hệ với các cơ sở khoa học, cơ sở kinh tế ở nước sở tại. Từ trước đến nay, đội ngũ trí thứ kiều bào vẫn được các cơ quan chức năng trong nước đánh giá là thế mạnh của Cộng Đồng, là một nguồn lực có thể góp phần tích cực cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước….” |
| MIEN VISA VAO VIET-NAM... MOT CAM BAY DAY GIAN MANH,NGUY HIEM,CUA TAP-DOAN CSVN.NHAM VO HIEU HOA QUOC-TICH NUOC NGOAI CUA NGUOI VIET HAI-NGOAI. VE VIET-NAMPHAI LAM DON,XAC MINH,LA NGUOI VIET,NHU VAY,VIET CONG SE TOAN QUYEN SU LY,KHI CHUNG TA TRO VE VIET-NAM,MA,CAC CHINH PHU KHAC,NOI CHUNG TA DA LA CONG-DAN ( CITIZEN )CUNG KHG CO QUYEN CAN THIEP... QUY DONG-HUONG HAI-NGOAI,HAY COI CHUNG... |
| Đảng Viên Đào Văn Huệ Đặt Vấn Đề Với Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Vụ Tham Nhũng Hồ Tây (LÊN MẠNG Thứ hai 13, Tháng Tám 2007) Hà Nội, ngày 03 tháng 8 năm 2007 Thư gửi các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư và toàn thể các đồng chí uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng. Dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật xung quanh Hồ Tây đă và đang bị đục khoét tham nhũng, các cấp ủy Đảng đă lănh đạo như thế nào? Kính thưa các đồng chí, Tôi tên là Đào Văn Huệ, Đảng viên 50 tuổi Đảng, giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học & công nghệ, ngụ tại số nhà 374 Lạc Long Quân, cụm 3 phường Xuân La, Tây Hồ, Hà Nội. Trong thời gian qua tôi là người đă viết nhiều đơn thư tố cáo vạch trần những sai trái vi phạm của những người lănh đạo trong Đảng và chính quyền từ Phường đến Quận lên Thành phố liên quan dự án kè Hồ Tây. Tôi viết những đơn thư kể trên với ư thức xây dựng mong sao Đảng và Nhà nước ta thanh loại được những con sâu mọt. Nhưng ngược lại tôi và những người tích cực tham gia đấu tranh chống tham nhũng liền bị trả thù một cách khốc liệt. Những sai phạm về dự án kè Hồ Tây là rất nghiêm trọng trắng trợn và kéo dài, những khiếu nại tố cáo của nhân dân chúng tôi là rất đúng với những quy định của pháp luật nên đă được đến 4 lần Văn pḥng Chính phủ có công văn truyền đạt ư kiến của Thủ tướng Chính phủ, hoặc công văn của đồng chí thứ trưởng Bộ Công an Lê Thế Tiệm chỉ đạo Công an Hà Nội điều tra làm rơ. Như chúng ta đều biết tính chất nghiêm trọng hiện nay là những chỉ thị, chỉ đạo bị rơi vào "im lặng" hoặc sự đáp lại là sự xuyên tạc, bóp méo sự thật để thực hiện cho bằng được tham vọng của đám quan tham này. Sự khiếu nại tố cáo của chúng tôi là trường hợp hiếm có, vụ việc bị đục khoét xung quanh các dự án, đặc biệt là dự án kè Hồ Tây đă được sự lưu ư của Bộ trưởng Nguyễn Hồng Quân, Tổng Thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền và đồng chí Trương Vĩnh Trọng, Phó thủ tướng Chính phủ đă đóng vai dân thường xuống xem xét tận nơi. Nhưng để rồi kết cục của nó mà dân chúng tôi đang phải gánh chịu mà tôi sẽ nói tới sau đây: Tôi đă được làm việc với Uỷ ban Kiểm tra Quận ủy Tây Hồ, thanh tra từ Quận đến Thành phố, trực tiếp làm việc với Thanh tra Chính phủ dưới sự chỉ đạo của Phó thủ tướng Trương Vĩnh Trọng để giải quyết về việc dự án kè Hồ Tây làm sai quy hoạch nhằm trục lợi đục khoét Dự án có mức đầu tư hàng ngh́n tỷ đồng. Từ tháng 8/2006 đến tháng 1/2007 Thủ tướng Chính phủ giao cho thanh tra Chính phủ chủ tŕ, cùng Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Văn pḥng Chính phủ, UBND thành phố Hà Nội, đại diện Ủy ban Kiểm tra TW, Ban Nội chính TW cùng tham gia để kiểm tra làm rơ, kết luận nội dung khiếu nại, tố cáo của một số công dân cụm 3 phường Xuân La, quận Tây Hồ liên quan đến quy hoạch, xây dựng hạ tầng kỹ thuật xung quanh Hồ Tây, đoạn đi qua cụm 3, phường Xuân La. Trong bản kết luận đă khẳng định: Nội dung báo cáo của UBND thành phố Hà Nội là không đúng với thực tế trong việc triển khai dự án. Nội dung khiếu nại của nhân dân cụm 3, phường Xuân La về việc nắn đường sai quy hoạch là có cơ sở, các bản vẽ quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 đă được Kiến trúc sư TP chấp thuận và UBND TP phê duyệt tháng 11/1997 liên quan đoạn qua cụm 3 Xuân La, các ban ngành của thành phố đă cố t́nh giấu đi, không tŕnh ra cho đoàn thanh tra, mà đồng loạt kêu "bị thất lạc" để đưa ra những tấm bản đồ "dởm". Chỉ một việc này thôi đủ biết TP Hà Nội coi thường pháp luật như thế nào. Vậy là quy hoạch được phê duyệt với "đường bám kè, sát mép nước" đă bị điều chỉnh để đường tách ra khỏi kè xuyên sâu vào khu dân cư. Người phải chịu trách nhiệm liên quan đến các sai phạm, đứng đầu là ông Đỗ Hoàng Ân, Phó chủ tịch UBND TP Hà Nội (mới bị miễn nhiệm), danh sách kiến nghị xử lư gồm có 11 người. Nhưng ngay sau đó những người khiếu nại tố cáo liền bị đưa vào "tầm ngắm" của Thành phố Hà Nội, mà trực tiếp là ông Đỗ Hoàng Ân đă thực hiện một loạt các cuộc cưỡng chế "thảm sát" trái pháp luật, huy động cả hệ thống chính trị, bộ máy chuyên chế độc tài kiểu phát xít để kéo đến đập phá nhà cửa của chúng tôi, ông Ân đă đứng trên pháp luật và đứng ngoài pháp luật. Cây cột nắn đường của dự án và mốc giới quy hoạch trong vườn gia đ́nh tôi đứng sánh vai nhau như là một thách đố. Thế rồi gia đ́nh tôi đă trở thành nạn nhân của họ chứ không c̣n là thách đố nữa. Đợt cưỡng chế ngày 27/4/2007, các công tŕnh nằm ngoài mốc giới quy hoạch bị đập phá tàn hoang, có nhiều cây trị giá hàng chục triệu đồng bị chặt đứt ngổn ngang, tàn phá tang thương. Trước khi có cuộc cưỡng chế xảy ra, chúng tôi đă có rất nhiều đơn kêu cứu khẩn cấp đến Thủ tướng Chính phủ, nhưng như là một sự bố trí sẵn, Thủ tướng đi công tác dài ngày ở miền nam, TP.Hà Nội được dịp tha hồ làm mưa làm gió. Đợt thứ 2 ngày 29/5/2007 tiếp tục cưỡng chế tiếp 4 hộ gia đ́nh và ngày 31/5/2007 các hộ c̣n lại, một số hộ do bị bức ép, đe dọa nên đă phải đặt bút kư "bàn giao" để họ đạt được hai chữ "đồng thuận" báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Đơn kêu cứu khẩn thiết của người dân đến Thủ tướng và các cấp lănh đạo, Thủ tướng đă có sự can thiệp nhắc nhở với Chủ tịch UBND TP, ngay cả đồng chí Thường trực Ban Bí thư Trung ương Trương Tấn Sang cũng đă rất quan tâm và đă có nhắc nhở Hà Nội, Chủ tịch UBND TPHN cũng đă có lời hứa hẹn với Thủ tướng Chính phủ, thế nhưng lần này cũng như là có sự bố trí sẵn, ông Chủ tịch "đi công tác nước ngoài", ông Ân cấp phó ở nhà lại được dịp tha hồ tung hoành ngang dọc, dọc ngang. Riêng đối với gia đ́nh của ông Ngô Hạ và bà Trần Thị Đạt bị cưỡng chế vào ngày 29/5/07, là đối tượng của bộ máy chuyên chế tàn bạo nhục mạ con người mà ông Đỗ Hoàng Ân đă chỉ đạo. Đây là lần thứ 2 họ cưỡng chế trái pháp luật đối với gia đ́nh này. Bọn sai nha kéo đến với hàng trăm người gồm có công an, cảnh sát các loại, lăm lăm dùi cui roi điện khoá số 8 để "đối thoại". Sẵn sàng vu cho tội dám "chống người thi hành công vụ". Ông Nguyễn Bá Hùng, Phó công an quận Tây Hồ, ông Phạm Đ́nh Phong, Trưởng công an phường Xuân La và ông Đinh Chiến Thắng cảnh sát khu vực đuổi những người hàng xóm đến để chứng kiến ra khỏi nhà ông Hạ. Hai lần những người mặc áo lính vào nhà nằm ngoài mốc giới quy hoạch để ḍ ḿn đều bị bà Đạt yêu cầu ra sân, phía ngoài mốc giới, họ thấy có lư đă ra ngoài, nhưng ông Nguyễn Bá Hùng, Phó công an Quận chỉ huy một đoàn người xông vào định bắt mẹ ông Hạ đang ở trong nhà, bị bà Đạt cản lại, ông Nguyễn Bá Hùng ra lệnh bằng ám hiệu, ông Phong cùng 2 công an lực lượng khác lôi vợ ông Hạ ra khỏi nhà, đồng thời cho bắt mẹ đẻ ông Hạ 93 tuổi, cụ tuy già nhưng rất tỉnh táo, minh mẫn, đi lại b́nh thường vậy mà họ ép bỏ cụ lên cáng khiêng đi, cụ không chịu, cố ngoi dậy để ra khỏi cáng, liền bị những người khiêng cụ lấy tay ấn cụ xuống cáng, c̣n người khác th́ dùng mũ cảnh sát nhăm nhăm chực úp lên mặt cụ nếu cụ nhổm dậy, họ rầm rập khiêng cụ diễu qua trước mặt ông Hạ đang đứng quan sát ở ban công gác 2 số nhà 12 cùng ngơ, chỉ một tích tắc th́ ông Hạ đă sa vào cái bẫy của bọn chúng, ông Hạ thấy mẹ bị bắt khiêng qua nhà ḿnh đang đứng, định chạy xuống can thiệp nhưng mọi người đă ngăn lại, xe ô tô 113 đă chực sẵn phía Đ́nh làng đầu ngơ 354 hốt cụ đi. Ông Nguyễn Bá Hùng đă cùng ông Đinh Chiến Thắng, cảnh sát khu vực, trực tiếp ra giám sát bà Đạt tại phía ngoài để ngăn không cho vợ ông Hạ t́m cách quay trở vào nhà. Khi không c̣n ai trong nhà, tài sản nhà ông Hạ liền được họ tự do "xử lư", không ai hay biết họ đă đút túi những tài sản quư giá ǵ, với những đồ đạc cồng kềnh th́ họ cho vất lên xe chở đi, không người làm chứng biên bản, đến bây giờ gia đ́nh cũng chưa biết tài sản gia đ́nh ḿnh c̣n mất ra sao. Riêng cụ Đại khi chúng tôi vào thăm, cụ cho biết cụ có số tiền do bà con và các con cháu mừng tuổi cụ từ tết nguyên đán nay lại bị chúng nó cướp mất rồi. Trắng trợn nữa là việc họ ngang nhiên bán tài sản trong khi đập phá nhà cửa, đập nhà đến đâu trưởng Đoàn cưỡng chế, chỉ đạo cho ông Nguyễn Đăng Hưng, Phó giám đốc BQL Dự án kè Hồ Tây trực tiếp cho gom hết lại chở về lán tạm công nhân của BQLDA làm ngay cạnh đó phía đầu Đ́nh làng và gọi xe vào bán, chở về đến đâu bán hết đến đó trong khi đang "thi hành công vụ". Đồng thời biến tướng việc cướp tài sản để bán này bằng việc cho người xông vào hôi của sau khi họ đă "tự hôi của" chán chê. Chỉ một nhoáng thôi đă có cả một đám người ào ào xông vào, kẻ tranh, người cướp, người vác cái này, người khuân cái kia trông vào thảm cảnh mà năo cả ḷng. Vậy mà Ngày 30-5-2007, ngay sau ngày nhà ông Hạ bị san bằng Uỷ ban nhân dân TPHN, lập tức đă có thư biểu dương chính quyền quận Tây Hồ, phường Xuân La cùng các cơ quan đơn vị, lực lượng tham gia GPMB kè Hồ Tây tại cụm 3 Xuân La rằng: "Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Thành uỷ, HĐND và UBND Thành phố, với quyết tâm, thống nhất và nỗ lực cao của cả hệ thống chính trị; cùng với việc vận động, thuyết phục công dân tự giác bàn giao mặt bằng; sự chuẩn bị kỹ lưỡng, chu đáo về cơ sở vật chất, lực lượng... quận Tây Hồ đă chỉ đạo, tổ chức thực hiện GPMB khu vực cụm 3, phường Xuân La nhanh, gọn, an toàn tuyệt đối, bảo đảm đúng quy tŕnh, quy định của pháp luật". Thật là họ biết cách tô son để báo cáo Thủ tướng Chính phủ là đă thực hiện "đúng" theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ là đă: "thuyết phục công dân tự giác bàn giao mặt bằng" và"bảo đảm đúng quy tŕnh, quy định của pháp luật". Cứ theo kiểu báo cáo này th́ thủ tướng nào mà không sướng, việc "bắt giữ người biến tướng" hay sự "tự hôi của" làm ǵ có, sau này họ báo cáo rằng: "ông Hạ không có mặt ở nhà, c̣n bà Đạt th́ tự động bỏ ra ngoài để lại cụ già một ḿnh, không tự bảo quản tài sản đấy chứ". Thật là một sự vu khống vô liêm sỉ, "vừa ăn cắp vừa la làng". Lại nói về cụ Cao Thị Đại, mẹ ông Hạ sau khi bị bắt giữ biến tướng, nếu thực sự chỉ v́ an toàn cho cụ th́ trong ngày hôm đó, ngay sau khi đập phá xong, an toàn rồi th́ họ phải đưa trả cụ về v́ họ biết chắc chắn vợ chồng ông Hạ vẫn đang đứng trên gác 2 ban công nhà số 12 quan sát đám người hôi của. Nhưng ư đồ của họ là c̣n muốn giữ cụ lại để thực hiện các tṛ nhục mạ bôi xấu con người. Trước tiên họ biến cụ thành người lang thang cơ nhỡ, không nơi nương tựa để "nhốt" cụ vào cái "trại tế bần" với cái tên Trung tâm Bảo trợ xă hội 3, Tây Mỗ Từ Liêm Hà Nội như tôi đă có dịp nêu đến trong đơn tố cáo ngày 10/6/2007 là ở đây chó được nuôi nhiều hơn người. Ấy thế mà sau khi đơn tố cáo của tôi được gửi tới các đồng chí th́ ngay lập tức đàn chó được di dời đi, tấm lưới bao B40 cũng được dỡ bỏ, vườn chuối được tu bổ sạch sẽ đẹp đẽ. Vậy là đơn của chúng tôi cũng đă được các vị lănh đạo quan tâm, nhưng lại là đàn chó, chứ không phải với cụ Cao Thị Đại, cụ th́ ngược lại. Trong khi đó chính quyền quận Tây Hồ cũng vẫn giọng điệu vu khống, bôi xấu nhục mạ vợ chồng gia đ́nh ông Hạ như trên để đưa lên kênh truyền h́nh, lên mặt báo và văn bản thông báo về tận quê hương ông Hạ Nghệ An để đ̣i con cháu cụ phải ra đưa cụ về quê, v́ cụ không phải hộ khẩu ở Hà Nội? Quen thói có tiền muốn làm ǵ ở cái địa bàn Hà Nội này đều được, họ đem áp dụng vào ngay cho cả tỉnh Nghệ an, tổ chức một đoàn 11 người do Chủ tịch Quận Nguyễn Mạnh Cường cầm đầu vào UBND tỉnh Nghệ An, lên huyện Nghĩa Đàn rồi cùng nhau về xă Nghĩa Thuận đ̣i các con cháu cụ ra cái Trung tâm ấy mà "thủ tục đón cụ". Ép buộc không xong v́ các con cháu cụ tham dự cuộc họp đ̣i lập biên bản, đ̣i họ phải chịu trách nhiệm với cụ già vô tội. Các con cháu đặt những câu hỏi rất gắt gao: "cụ phạm tội ǵ mà các ông bắt cụ?", "cớ ǵ mà phải ép cụ về quê trong khi cụ chỉ muốn sống với con trai ở Hà Nội?" và khẳng định họ đă bắt ở đâu phải trả cụ về nơi đó. Không thực hiện được trong quê họ kéo nhau ra Hà Nội t́m cách vừa đe dọa vừa lừa ông Hạ vào cái trung tâm đó mà nhận cụ, như nhận thân nhân do chính ḿnh bỏ rơi, c̣n họ vô can. Cuối tháng 7/2007 UBND quận Tây Hồ lại gửi văn bản về cho các con cụ trong quê, hạn cho trong ṿng 10 ngày không ra Trung tâm Bảo trợ xă hội 3 bắt cụ về th́ họ sẽ báo cáo cấp trên của họ cho "xử lư theo pháp luật". Giờ đây, cụ Cao Thị Đại đang hàng ngày bị giam giữ biến tướng, cụ cần được trả tự do, quyền công dân của cụ phải được bảo đảm và tôn trọng đó là quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhà ở và tài sản. Trong đơn tố cáo lần trước tôi có nói đến việc áp chế và khủng bố là cách làm của chính quyền quận Tây Hồ hiện nay mà điển h́nh là việc ông Phương Văn Hối, cụm 1 Xuân La bị cảnh sát khu vực "hỏi thăm" và bị đe dọa bằng điện thoại khi ông có nhiều đơn thư tố cáo về việc cướp đất di tích. Bây giờ bắt đầu đến lượt tôi, ông Long, đội trưởng đội an ninh Công an quận Tây Hồ cũng đă đến "hỏi thăm" tôi v́ có ai đó đă đưa bài lên internet mà họ nghi vấn cho là tôi. Tôi già tuổi rồi đâu có biết internet là cái ǵ mà họ bảo tôi đưa bài lên internet, không nghi ngờ được tôi họ quay sang tra vấn để cột con trai tôi v́ nó có máy tính và có nối mạng internet trong nhà, phải chăng đây là cái cớ để dẫn đến bắt bớ người trong gia đ́nh tôi. Tôi đi hỏi nhiều người th́ được biết trên mạng internet có đăng tải bài do một luật sư nào đó đưa lên với tiêu đề: "nói lên một sự thật thiếu dân chủ ở Việt Nam" mà nội dung bài là đ̣i trả tự do cho cụ Cao Thị Đại 93 tuổi bị Công an bắt giữ biến tướng từ ngày 29/5/2007, theo đơn tố cáo của tôi ngày 10/6/2007. Vậy là lần này họ lại cố t́nh quy chụp cho chúng tôi về chính trị để dễ dàng trong việc trả thù gia đ́nh tôi chăng? Sự trắng trợn ở đây không c̣n ǵ để che đậy nữa! Thực hiện một cuộc cưỡng chế mà không tuân theo một quy định nào của pháp luật: bắt người, cướp của giữa ban ngày nhưng lại nói "thực hiện theo sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ". Chúng tôi đặt câu hỏi, bàn tay nào đang ngấm ngầm chỉ đạo những tham quan này mà họ dám ngang nhiên như vậy? Phải chăng cái việc bắt giữ người biến tướng, việc "tự hôi của" đem bán này lại cũng là do sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Cũng chẳng khó để phải t́m kiếm, bóng dáng ló dạng của sự chỉ đạo này thực chất nó ngay trong các văn bản, hay thông báo mà Tây Hồ luôn luôn bám lấy là việc gửi báo cáo vượt cấp lên Văn pḥng Chính phủ liên quan việc giải quyết cụ Đại mẹ ông Hạ, họ phải tốn nhiều thông báo, phải tốn tiền của nhà nước để vào tận quê ông Hạ khi họ muốn đổ cái lỗi lên đầu vợ chồng ông Hạ. Làm thế họ mới chối được tội. Ngoài ra việc gửi báo cáo vượt cấp này c̣n là với chủ ư muốn gửi cho người dân một thông điệp mang tính thách đố rằng đúng là họ đang được Văn pḥng Chính phủ bao che, nơi gồm những người thân cận với Thủ tướng, tham mưu trực tiếp cho Thủ tướng trong mọi vấn đề, vậy th́ làm ǵ Tây Hồ c̣n phải sợ ai nữa, kể cả làm sai? Việc này chắc ông Vụ trưởng Vụ khiếu nại tố cáo thuộc Văn pḥng Chính phủ biết rơ? Sự việc ở đây quanh Hồ Tây này chỉ thấy không có dân chủ, giả dối, tàn bạo, vi phạm nhân quyền, không có pháp luật, hàng loạt những vi phạm tham nhũng ăn cắp đều bị bưng bít, trả thù người khiếu nại tố cáo là một thực tế đă và đang tồn tại ở đây, ở quanh Hồ Tây này. Ta thử đi đến phường Quảng An th́ thấy rơ: - Ở khu vực Bến Chùm: diện tích 8.080m2, cách mép nước Hồ Tây ba bốn trăm mét, không nằm trong quy hoạch dự án kè Hồ Tây, nhưng thành phố Hà Nội, mà trực tiếp là phó chủ tịch Đỗ Hoàng Ân cùng với Quận Tây Hồ, phường Quảng An và Ban QLDA kè Hồ Tây, đă lợi dụng dự án kè Hồ tây để cướp đất của dân phục vụ cho mục đích kinh doanh, trong khi đó ông Ân lại kư quyết định cho Ban QLDA kè Hồ Tây dược phép làm kinh doanh. Nhân dân có đất khu Bến Chùm đă gửi biết bao đơn thư tố cáo, nhưng chính quyền thành phố đồng lơa để quận Tây Hồ cố t́nh cướp đất của dân. Ngày 5/6/2007 UBND quận Tây Hồ ra quyết định cưỡng chế và ngày 8/7/2007 thực hiện việc cưỡng chế sau khi đă san phẳng mấy chục hộ gia đ́nh tại Cụm 3 Xuân La. Trước việc Chính quyền dùng quyền lực để đàn áp dân, bằng mọi cách áp chế dân, nh́n thấy bộ máy độc tài kiểu phát xít cưỡng chế dân ở phường Xuân La, các hộ dân ở Quảng An quá sợ hăi phải kư bàn giao, đền bù như thí như cho, ḷng dân chứa chất đầy nỗi căm giận. C̣n các quan chức, những người chức có tiền để đầu tư tại khu Bến Chùm làm Câu Lạc bộ Đầm Sen th́ hả hê, bằng chân như vại, họ cho xây dựng ngay các công tŕnh kiên cố ảnh hưởng đến cảnh quan trước di tích lịch sử xếp hạng cấp quốc gia là Đ́nh Quảng Bá. - Tại Gói thầu số 12: Bà Hoàn, một cán bộ trong BQLDA kè Hồ Tây đă lập khống vào trong phương án đền bù gia đ́nh bà Chúc Mai để rút 10 triệu đồng. Khi bị tố cáo, chính quyền quận Tây Hồ, phường Quảng An cùng Ban QLDA kè Hồ Tây đă quay sang trả thù gia đ́nh này. Quy hoạch chỉ lấy từ mép hồ vào 10,5m để làm đường nhưng gia đ́nh bà Chúc Mai bị lấy vào sâu hơn 24m. Mảnh đất nhà bà chúc Mai có 9 gia đ́nh các con sinh sống, lúc đầu Dự án làm 9 phương án đền bù, nhưng sau khi bị tố cáo họ cho xuống c̣n 3 phương án để số tiền đền bù bị sụt xuống. Tại đoạn kè qua nhà hàng Phương Nguyên, đường và kè lại được nắn ra ngoài mặt nước đến hơn 10m. - Tại Gói thầu 21: Nắn quy hoạch lấn ra phía hồ, chở cát lấp hồ để có khu đất vài chục ngh́n mét vuông chia cho các quan chức và chia lô bán. Cho xây 38 ki ốt lấn vào trong mốc giới quy hoạch để cho thuê, đơn thư khiếu nại tố cáo, trực tiếp Chủ tịch TP Nguyễn Quốc Triệu hứa giải quyết phá bỏ nhưng nay vẫn ngang nhiên tồn tại? - Diện tích 1,38ha tại phường Quảng An là đất đấu thầu lấy tiền xây dựng kè Hồ Tây, nhưng họ đă cho thông thầu giá rẻ mạt, đấu thầu 1,38ha nhưng khi giao chỉ 0,8ha. Số c̣n lại chia nhau hưởng, Giám đốc dự án Hoàng Văn Lộc cũng có suất trong khi ông đă có biệt thự cùng đất đai rộng lớn tại mép bờ Hồ Tây phường Quảng An này. Sự ai oán của người dân Quảng An đă được thể hiện qua bài thơ "hành tŕnh khiếu kiện" mà chắc các quư Vị đă được đọc khi nhân dân Quảng An gửi tới. Ngay ở Xuân La này việc đền bù khống mặt nước để rút lấy 162 triệu tại số nhà 372 Lạc Long Quân đă thực hiện suôn sẻ, khi bị phản ảnh họ nói là họ sẽ thu hồi lại, không biết thu hồi đến đâu. Sự việc diễn ra sát nách gia đ́nh tôi.Việc rút ruột công tŕnh mà tôi đă đề cập đến, kết luận thanh tra Chính phủ có nhắc đến, vậy mà cũng được bỏ qua? Việc cố t́nh mở con đường nối xuống hồ để lấy hơn 1.000m2 đất ngoài quy hoạch của dân, trong khi cách đó 12m đă có sẵn đường xuống hồ rồi. Không thể để Đảng và Nhà nước mất ḷng tin của nhân dân măi được, chúng tôi kiến nghị các đồng chí lănh đạo Đảng Nhà nước và nhất là Thủ tướng Chính phủ hăy cho mở cuộc điều tra làm rơ trách nhiệm, sự vi phạm pháp luật trắng trợn này và xử lư thích đáng. Cụ thể: - Trả tự do ngay cho cụ Cao Thị Đại 93 tuổi theo đúng quy định của pháp luật. Không thể dùng sức mạnh và quyền lực của Nhà nước bắt giữ và cưỡng bức cụ già 93 tuổi đang sống b́nh yên cùng con cháu thành người lang thang cơ nhỡ không nơi nương tựa, sử dụng đủ các phương tiện vu khống, bôi nhọ con cháu cụ, đổ lỗi cho con cháu cụ, chối tội bằng cách bắt người thân vào Trung tâm Bảo trợ 3 Tây Mỗ Từ Liêm mà đón cụ, c̣n họ đứng ngoài cuộc, vô can. - Phải xử lư những kẻ lợi dụng chức quyền, trả thù người khiếu nại tố cáo. Không thể để Đảng, Nhà nước và Chính phủ mang tiếng không bảo vệ được người khiếu nại tố cáo và thân nhân của họ: cụ Cao Thị Đại - 93 tuổi v́ con cháu cụ nghe theo lời kêu gọi của Đảng, Nhà nước và Chính phủ tham gia tích cực chống tham nhũng tại Cụm 3, phường Xuân La, quận Tây Hồ, Hà Nội này. - Làm rơ việc những kẻ đă lợi dụng Thủ tướng Chính phủ để vi phạm pháp luật. Không thể để thành phố Hà Nội sau khi đă thực hiện được cuộc trả thù trái pháp luật, tàn khốc vô nhân tính và hết sức bẩn thỉu này xong lại chối tội bằng việc rêu rao là thực hiện " theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ". - Phải cho thanh tra tiếp các nơi khác trên toàn tuyến kè Hồ Tây mà như Thanh tra Chính phủ có lần đă đề nghị. Tôi đă có thư có đơn gửi tới đồng chí Trưởng Ban tổ chức TW tố cáo những cán bộ có quyền cao chức trọng trên Thành phố cho tới những kẻ dưới quyền vi phạm pháp luật ngay tại phường Xuân La nơi tôi cư trú như nguyên chủ tịch phường Nguyễn Xuân Định là một kẻ lừa đảo đă có kết luận của thanh tra thành phố trong vụ lừa đảo bà Nguyễn Thị Bích Dung 52 Phan Đ́nh Phùng để chiếm đoạt tài sản của bà Dung lúc Định, c̣n là Chủ tịch UBND phường Xuân La, nhưng Định vẫn yên vị, đến Quân Ngọc Anh chủ tịch hiện tại đủ thứ nhũng nhiễu dân đến nỗi người dân ai cũng thuộc câu "Thằng chủ tịch trước đă đểu giả lưu manh, thằng chủ tịch sau c̣n đểu giả lưu manh và khốn nạn hơn, có tới 4 bằng đại học, trong đó có một bằng luật, nhưng lại là "luật rừng", cùng với cán bộ địa chính thao túng về đất đai biến từ thổ canh sang thổ cư và ngược lại gây ra bao bất b́nh cho dân chúng. Các ông cán bộ UBND quận Tây Hồ như ông Chử Ngọc Tuất, nguyên là chủ tịch rồi Bí thư bao nhiêu tội, bầu bí thư không trúng phải ra đi, nhưng vẫn c̣n luyến tiếc cố bám lấy một vị trí tại dự án Tây Hồ Tây nhiều tiền, lắm đất để làm ăn. Ông Nguyễn Phúc Quang, Trưởng công an Quận bị tố giác có liên quan đến các ṣng bạc, liên quan đến Bổng Đề, đến Năm Cam, báo chí đưa tin xôn xao một thời rồi im lặng, không một lời cải chính vẫn nguyên vị, nay nghe tin được sang làm chủ tịch UBND quận Tây Hồ hay Bí thư Quận ủy ǵ đó, c̣n ông Vũ Hồng Khanh, Bí thư Quận ủy ra sức bảo kê cho việc cướp đất di tích chùa Vạn Niên - đ́nh Xuân Tảo Sở xây khách sạn tư nhân và chỉ đạo huy động cả hệ thống chính trị quận Tây Hồ vào vụ cưỡng chế trái pháp luật trong tháng 4, tháng 5 vừa qua lại trúng cử về thay vị trí ông Lê Quư Đôn khi ông Đôn vừa bị miễn nhiệm! Kính thưa các đồng chí, Chúng ta hiện nay có thanh tra, kiểm tra, điều tra các cấp cứ như là lưới trời dày đặc làm sao cho thoát, sự thực như chúng ta đă thấy. Là một Đảng viên sớm giác ngộ cách mạng tự hỏi ḿnh và hỏi đến các đồng chí, cứ như thế này Đảng ta nay là của ai, sẽ đi đến đâu? Kính mong được sự quan tâm của các đồng chí, xin trân trọng cám ơn./. Kính thư Đào Văn Huệ Số 374 Lạc Long Quân, Cụm 3 Xuân La, Tây Hồ, Hà Nội ĐT: 8362873 |
| Lan man về những xét lại bắt buộc Tan VanPhương Duy Xin đi thẳng vào những nhận định xét lại bắt buộc của ông Nguyễn Gia Kiểng (NGK) qua “Thời điểm của một xét lại bắt buộc”: 1. Khí thế đấu tranh trong nước đang tàn lụi, hải ngoại chỉ biểu lộ một sự bất lực: Nhận định sau những cuộc đàn áp dữ dội trong vài tháng qua, công cuôc đấu tranh trong nước đang tàn lụi v́ một số nhà hoạt động dân chủ VN vào tù, một số phải đào thoát và một số bỏ cuôc, theo tôi, thiếu khách quan. Đó là một nhận định cho rằng vào tù là xong chuyện. Bắt bớ, giam cầm, kết án, tù tội, số người tham gia vào các tổ chức đấu tranh không sút giảm. Cộng sản Việt Nam (CSVN) đă đàn áp bỏ tù hàng triệu người dân VN, hàng triệu người khác đă phải đào thoát chaỵ trốn trong mấy chục năm qua, sự đấu tranh phản kháng, khi ẩn khi hiện, thời điểm nào cũng tồn tại, c̣n lan rộng từ miền Nam ra đến cả miền Bắc, từ tỉnh thành này sang tỉnh thành khác, từ giới tri thức, lănh đạo qua đến thành phần nhân dân lao động. Như thế, sự đấu tranh không những không tàn đi mà c̣n mạnh hơn. Cá nhân những người được coi là lănh đạo công cuộc đấu tranh bị bắt bớ giam cầm, chưa có ai tỏ dấu đầu hàng. Trái lại, dù ở trong cái nhà tù nhỏ hay ra ngoài nhà tù lớn, tất cả đều kiên định lập trường đấu tranh cho dân chủ của họ. Nhà tù, trong một ư niệm tích cực, là một nơi cho người lănh đạo rèn luyện bản thân, giữ vững tư cách. Như lời của LM Lư từ trong tù vừa gửi ra: cha Lư cho rằng thời gian trong tù của cha lúc này có lẽ lại tốt hơn, làm việc hiệu quả hơn nếu như cha đang ở Xóm Củi bên ngoài, cha nói chắc chẳng làm được ǵ. Lịch sử thế giới cũng đă chứng minh những nhà lănh đạo lớn Mandela, Wałesa, Gandhi… đều có những quá tŕnh tù tội lâu năm, một hy sinh cần phải có cho sự tôi luyện ư chí và củng cố tinh thần trước những thử thách cam go của một công cuộc lớn lao. Lửa thử vàng, gian nan thử sức. Những khó khăn gian khổ ấy cũng là những phương tiện sàng lọc những người yếu đuối, không bền tâm, thiếu tài năng và loại bỏ những kẻ cơ hội. Đám quần chúng th́ có cơ may phân biệt đá vàng. Hoàng Minh Chính, Nguyễn văn Lư đă từng vào tù ra khám nhiều lần, lửa đấu tranh trong ḷng vẫn ngùn ngụt. Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Khắc Toàn, Nguyễn Vũ B́nh …bước ra khỏi song sắt vẫn cất cao tiếng nói của lương tâm, bước đấu tranh đâu có chùn bước. Nói về hiện trạng ở ngoài VN, có thực khối hải ngoại chỉ biệu lộ một sự phẫn nộ bất lực không? Giữ cho một khối người trải rộng khắp nơi trên thế giới biểu lộ được sự phẫn nộ không quá thờ ơ đă là một điều đáng ghi nhận. Không có một phương tiện chính trị, ngoại giao chính thức nào để có thể ảnh hưởng lên quốc tế, nhưng đă thúc đẩy các cơ quan, chính quyền các nước lên tiếng biểu lộ những phẫn nộ cùng với ḿnh , không phải là một thành công sao? Cho dù có đánh giá những lên tiếng quốc tế đó c̣n quá yếu và chưa đúng mức? Sự phẫn nộ lại càng chứng tỏ phong trào đấu tranh cho dân chủ Việt Nam không tàn lụi đi mà mạnh mẽ hơn, một điểm mà ông NGK đă tư mâu thuẫn. Người Việt hải ngoại đang làm cho thế giới thấy rơ CSVN đang lừa bịp họ,làm cho người Việt trong nước vững tâm hơn trong việc xuống đường biểu t́nh chống đối đ̣i hỏi công bằng xă hội v́ biết bên cạnh họ có sự hậu thuẫn mạnh mẽ từ bên ngoài, như vậy là phẫn nộ bất lực? 2. Dự án thống nhất của ông Hoàng Minh Chính (HMC) tự nó tiêu tan dù không bị đàn áp. Chuyến đi của ông HMC vào năm 2005 với mục đích chữa bệnh, có thể có mục tiêu liên kết chính đảng của ông và một số nhân sự, tổ chức ngoài nước, không phải là đại diện cho tất cả mọi khuynh hướng trong và ngoài. Mục tiêu thành công hay thất bại, vẫn c̣n là một ẩn số, chỉ chính ông HMC và một số tổ chức như của bác sĩ Nguyễn Xuân Ngăi có thể trả lời. Một điều chắc chắn, không có sự liên hệ mật thiết giữa chuyến đi này với Khối 8406, v́ sau khi bản tuyên ngôn nhân quyền của khối 8406 ra đời, nhóm này đă cho phổ biến một bản tuyên ngôn riêng chỉ mấy ngày sau đó V́ thế, dự án thống nhất này chỉ là một sự suy đoán của ông NGK không có cơ sở và bằng chứng. Khối 8406, như tên gọi của nó, là tập hợp của nhiều cá nhân, tổ chức với khuynh hướng khác nhau nhưng có chung một mục tiêu đ̣i hỏi tự do, dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam. V́ vậy, không thể đ̣i hỏi khối này có sự kết hợp chặt chẽ và có kỷ cương như một tổ chức.Ngày 08/04/2006,Khối đă ra bản tuyên ngôn nhân quyền. Mọi cá nhân , tổ chức đă kư tên trong đó có thể hoạt động theo cách riêng của ḿnh trong tinh thần của bản tuyên ngôn và cho cùng một mục tiêu dân chủ và nhân quyền. Nều khối chỉ dừng lại ở bản tuyên ngôn, th́ hoạt động của khối coi như không hữu hiệu hay chỉ có giá trị h́nh thức. Chính các cá nhân, các tổ chức trong khối cần dựa vào bản tuyên ngôn, dựa vào vị trí và khả năng của từng người từng tổ chức để hành động thực hiện hay đ̣i hỏi phía bên kia phải đáp ứng những điều khoản của tuyên ngôn cho nhu cầu đ̣i hỏi của nhân dân. Hiểu như thế, chúng ta sẽ thấy mỗi người có một phương cách hành xử đấu tranh khác nhau, trong nước khác ngoài nước, tu sĩ khác người thường, trong đảng khác ngoài đảng. Điều quan trông là mọi hành động đều nằm trong phạm vi và phù hợp với tinh thần của bản tuyên ngôn. Một số người nhẫn định rằng bản tuyên ngôn, trên lư thuyết, rất hay, nhưng rất khó thực hiện trong t́nh thế độc tài độc đảng hiện nay của VN. Đây là một điểm đáng bàn luận. Tuy nhiên , theo thiển ư, một bản tuyên ngôn cần có sự cô đọng và hoàn thiện. Các cá nhân, tổ chức sẽ tuỳ hoàn cảnh và thời điểm để thưc thi. 3. LM Nguyễn Văn Lư, Ls Nguyễn văn Đài cùng những nhà dân chủ trong nước khác là nạn nhân của cách đối lập tại hải ngoại. Người Việt hải ngoại chống lại ách độc tài đảng trị và việc dung bạo lực đàn áp dă man đồng bào trong nước. Phương cách của người Việt hải ngoại là kết hợp trong ngoài để xây dựng và phát huy công cuộc đấu tranh đ̣i hỏi tự do dân chủ nhân quyền cho người Việt trong nước, những quyền mà họ đă đang được hưởng từ những quốc gia định cư. Việc thúc đẩy tiến tŕnh dân chủ hoá đất nước phải tận dụng mọi cơ hội và thường là không đầy đủ, không có chuyện vận dụng quá mức sức anh em trong nước như nhận định của ông NGK. Các nhân sự mà ông cho là nạn nhân của người Việt hải ngoại, những nhà hoạt động dân chủ đối kháng trong nước, hần như tất cả là những người trí thức, có tầm hiểu biết trong ngoài khá rộng răi. Họ dư biết những trở ngại khó khăn, họ chấp nhận hy sinh gian khổ, họ sẵn sàng chờ đợi những bắt bớ giam cầm. Ho không phải là loại ngây thơ bị hải ngoại xúi dục như ông nhận định. Những lời tuyên bố của họ (cha Lư. luật sư Đài, luật sư Công Nhân, nhà văn Trần Khải Thanh Thuỷ) trước khi họ vào tù là những bằng chứng hiển nhiên. Cho rằng họ nhẹ dạ nghe lời hải ngoại để dấn thân vào tù tội là một sự mạ lỵ nặng nề khả năng hiểu biết của họ và chối bỏ sự hy sinh cao quư của họ. Hơn thế nữa, những hy sinh cao cả này đang đạt được những thành quả to lớn cả trong và ngoài nước. Đó là tiếng sét đánh động lương tâm con người trong và ngoài nước trước bạo lực CS, mở mắt dư luận thế giới đang đui mù khỏi sự giả trá lừa bịp của CSVN, trấn an nỗi sợ của nhân dân, để họ tự phát đứng lên tranh đâú giành lại quyền lợi của ḿnh. Ông NGK có lối nhận định quái đản: kết tội nạn nhân thay v́ tội phạm, giống như một giáo sĩ Hồi Giáo tại Úc vài tháng trước đây lên án những nạn nhân bị hiếp dâm tại Úc là có tội ăn mặc hở hang để khiêu khích bọn hiếp dâm như đưa thịt vào miệng mèo. Ông nhận địng rằng các nhà dân chủ trong nuớc thi đua lên tiếng xô bố, khiêu khích cốt gây tiếng vang để vào tù, Không biết ông đă có kinh nghiệm ngồi tù, nhất là tù trong một chế độ CS như thế nào chưa để có thể viết rằng những người tranh đấu vào tù cố lấy tiếng? 4. Phải biết trước bị đàn áp và phải có phương án để khai thác sự đàn áp. Tưởng rằng đảng CSVN sẽ không dám đàn áp thẳng tay v́ sợ phản ứng của thế giới. Dĩ nhiên là người Việt Nam, ai cũng có thưà kinh nghiệm về CSVN, miền Bắc hơn 60 năm và miền Nam hơn 32 năm qua. Ai cũng biết, một người có tư tưởng đầu óc phản kháng lại sự độc quyền lănh đạo của đảng CSVN, dù là bất bạo động, trưiớc sau ǵ cũng bị đàn áp. Đảng CSVN không cho phép bất cứ ai, kể cả đảng viên của đảng CS, được quyền phê phán thách thức độc quyền lănh đạo này. Do đó, đặt vấn đề như vậy thất là thừa thăi. Các nhà dân chủ trong nước họ biết và họ chấp nhận cái giá phải trả. C̣n phương án để khai thác ư? Thế th́ tấm h́nh “bịt miệng” trong phiên toà xử cha Lư cùng những h́nh ảnh,cùng băng đoạn thu h́nh ghi âm các phiên toà xử những nhà đấu tranh khác” Nguyễn Văn Đài, Lê thị Công Nhân, Lê Nguyên Sang, Huỳnh Nguyên Đạo, Nguyễn Thế Truyền, những tấm h́nh ghi cảnh dân oan khiếu kiện và sự đàn áp dă man của công an đang được phổ biến rộng răi cùng khắp thế giới , không phải là sự khai thác hữu hiệu, triệt để và khôn ngoan về sự bạo hành của CSVN th́ là ǵ? Nhà cầm quyền CSVN đâu c̣n có thể dùng ngôn từ bịp bợm giả dối để bao che cho những tội ác của họ được nữa. Cũng nên nói thêm rằng, những bản án xét xử từ 3 đến 8 năm tù của nhà cầm quyền CSVN dành cho các nhà đấu tranh dân chủ trong nước vừa qua, so với những cái án chung thân, tử h́nh dành cho Mai Văn Hạnh, Trần văn Bá ... và rất nhiều chiến sĩ tự do dân chủ vô danh khác ở thời điểm mười, mười lăm năm về trước, chúng ta cũng thấy đảng CSVN ít nhiều đă có sự chùn tay, không chỉ v́ sợ phản ứng của thế giới, mà lo ngại luôn sức bất của người dân, già néo đứt dây, như chúng ta thường nghe. Phản ứng của thế giời, đặc biệt Hoa Kỳ có chừng mực, đó là lẽ đương nhiên . Theo cách nh́n trong chiều hướng dân tộc, đây là vấn nạn của nhân dân Việt Nam, th́ người dân Việt phải là thành phần tự nhận lấy trách nhiệm chính giải quyết vấn đề. Người ngoài cuộc chỉ góp công sức cổ vơ, yểm trợ. Chúng ta không bảo họ làm thay chúng ta. Do đó không thể áp lực họ cắt đưt mọi quan hệ b́nh thường hay từ bỏ những ích lợi kinh tế, thương mại cho đất nước của họ. Điều chúng ta cần làm là hướng dẫn họ đi sát với thực tế, để cho mối quan hệ có lợi thế cho cả hai bên, quyền lợi thu được phải nằm trong nguyên tắc bảo đảm dân chủ nhân quyền, không trở thành phương tiện cho bọn độc tài chuyên chế gây nguy hại đến người dân b́nh thường. Theo tầm nh́n bao quát nhân loại, đấu tranh đ̣i hỏi tự do dân chủ nhân quyền cho người dân thấp cổ bé miệng là nghĩa vụ chung của mọi người, nhất là những người đang được hưởng đầy đủ những quyền này. Trong cái tinh thần tương thân tương ái này, chúng ta kêu gọi thế giới cùng nhập cuộc, tạo áp lực họ có thể có. Chẳng hạn những quan hệ có điều kiện với nhà cầm quyền CSVN để thúc đẩy công cuộc thay đổi dân chủ hoá Việt Nam tiến triển mau chóng hơn. 5. Có thể lật đổ nhà cầm quyền CSVN không? Bằng vũ lực và các phương tiện chiến tranh, có thể nói là không. Không một quốc gia nào trong thời đại hiện nay sẽ giúp ta làm chuyện ấy. Lật đổ một chính quyền cũng có nhiều phương cách không cần tới vũ lực. Các quốc gia Đông Âu thời thập niên 90 và một số khác trong một vài năm vừa qua đă làm được chuyện đó: những cuộc cách mạng nhung. Ở Việt Nam, điều này cũng có thể xảy ra. Giả thuyết một ngày nào đó, tập thể Quân Đội Nhân Dân VN bỗng nhận ra họ không thể là một công cụ cho nhà cầm quyền CSVN để đàn áp chính nhân dân VN , lại hèn hạ làm tay sai, bán đất nhượng biển cho CS Trung Quốc, thay v́ phục vụ đảng CSVN, họ trở về phục vụ đất nước, dân tộc, đứng lên buộc tách ảnh hưởng đảng CS ra khỏi quân đội, giải thể đảng viên, nhận trách nhiệm bao vây áp lực đảng CSVN trả lại quyền lănh đạo về tay nhân dân. Một viễn tượng khác: những cảnh biểu t́nh khiếu kiện của nhân dân cứ ngày một lan rộng đến một mức nhà cầm quyền không thể đàn áp nổi, mọi sinh hoạt của quốc gia bị ngưng trệ và chúng ta có thể tiên đoán điều ǵ sẻ xảy ra. Một sự thực đau ḷng là trong khi khí thế quần chúng trong nước đang lên, họ đang cần những người lănh đạo để tổ chức hoá và kết hợp chặt chẽ, cần những bộ óc trí thức để suy luận, phân tích, phán đoán t́nh thế chính xác để đưa ra những hướng dẫn đấu tranh khôn khéo và cu thể th́ giới trí thức trong nước hầu hết trùm chăn, thờ ơ với thời cuộc. Ai cũng biết thành phần trí thức của một quốc gia nằm ở trong tầng lớp thanh niên, sinh viên học sinh, những người trẻ tuổi, năng động và có nhiều nhiệt huyết, chính họ là linh hồn của mọi phong trào, mọi cuộc cách mạng. Thế nhưng xem ra, ở Việt Nam hiện tại, thành phần này nhạt mờ sương khói. Trung Quốc c̣n có một vụ Thiên An Môn một sự kiện mà giới trí thức Trung Quốc có thể ngửng cao đầu. Nhưng tại sao lại đặt vấn đề lật đổ ở đây. Mục đích của công cuộc đấu tranh đ̣i hỏi tự do dân chủ đa nguyên cho Việt Nam nằm trong ư nghĩa của những chữ tự do, dân chủ và nhân quyền. Các nhà đấu tranh, nhân dân trong và ngoài nước đang đ̣i hỏi những quyền căn bản đó, dù có phải lật đổ nhà cầm quyền đương thời hay không. Những tiếng nói lên tiếng đấu tranh , những cuộc đ́nh công xuống đường khiếu kiện trong nước, những cuộc biều t́nh ngoài nước chống sự đàn áp dă man người dân của nhà cầm quyền CS trong nước , yêu cầu xoá bỏ bất công, những thông tin thế giới và nhận thức dân chủ loan truyền về trong nước có nên bị kết án là những hành động , phương tiện nhằm lật đổ nhà cầm quyền CS không? Cứ cho đó là những “diễn biến hoà b́nh của các thế lực phản động nước ngoài nhằm lật đổ nhà nước CHXHCNVN” không nên có, mà cần đi đến kịch bản hoà hợp hoà giải, th́ hăy nh́n thẳng vào thực tế. Người dân VN vừa bị buộc đi bầu Quốc Hội, những đại diện của dân với sự khoe mẽ: đa số đắc cử trên 90% số phiếu, nhưng khi họ đến văn pḥng để kêu oan khiên kéo dài cả tháng , không có được một đại biểu ra tiếp th́ giải pháp hoà hợp hoà giải sẽ được thưc hiện với ai, ở đâu và ra sao? Chưa có được cái tự do ngôn luận tối thiểu, tai bị che, mắt bi bưng, miệng bị bịt, tay bị c̣ng, chân bị xiềng, bụng bi bỏ đói, đít không cho ỉa th́ đối thoại, hoà hợp hoà giải chỉ là chuyện nằm mơ giữa ban ngày. 6. Sự tranh chấp trong các phe phái nội bộ CSVN kể như đă chấm dứt. Không ai thực sự biết rơ t́nh trạng phe phái nội bộ CSVN thực hư ra sao. Từ những lối phân chia thủ cựu/ cấp tiến, phe Bắc/ phe Nam hoặc phe thân Trung Quốc/ phe thân Mỹ…Tất cả chỉ là sự suy đoán. Sự suy đoán này cũng không có mấy chính xác khi thực tế xảy ra cứ chồng chéo lên nhau ngược với những suy đoán. Việc ông cựu Tổng bí thư Lê Khả Phiêu được cho là do phe cánh Đỗ Mười/ Lê Đức Anh bảo thủ đưa lên, rồi cũng chính 2 ông này hạ ông Phiêu xuống là một ví dụ. Việc Nguyễn Tấn Dũng/ Nguyễn Minh Triết được coi là thành phần phe đổi mới nhưng khi làm thủ tướng/ chủ tịch nước, dù đang làm ra vẻ cải cách hành chính, trẻ trung hoá chính quyền theo lối dân chủ Tây Phương, hàng năm vẫn cứ phải qua bái kiến, nhận sự chỉ đạo của Bắc Kinh là một thí dụ khác. Một điều chắc chắn là dù có nhiều tranh chấp phe phái, dù cho họ tiêu diệt tàn sát lẫn nhau, bọn cầm quyền CSVN củng đồng t́nh và hợp lực với nhau ở một điểm là nhất quyết không để cho bất cứ ai đụng chạm đến quyền lănh đạo độc tài đảng trị của họ, kể cả đó là những đảng viên CS trung kiên cao cấp nhất của họ. V́ vậy, việc CSVN đoàn kết hay chia rẽ, sự tranh chấp phe phài vẫn c̣n hay đă chấm dứt không phải là mối quan tâm chính cho công cuộc đấu tranh dân chủ cũa nhân dân VN. Điếu đó có th́ càng tốt , phong trào đấu tranh có thêm một chút lợi thế khai thác. Khôn g có điều đó th́ con đường đấu tranh cho dân chủ vẫn cứ đi. Riêng về nhận định” t́nh trạng ổn vững nội bộ của đảng CSVN chưa chắc là điều xấu cho tiến tŕnh dân chủ, c̣n có thể là tốt” của ông NGK, th́ quá sức hiểu biết của tôi, xin miễn bàn. 7. Khẩn cấp từ bỏ ngôn ngữ giả dối quốc nội là chủ lực, hải ngoại chỉ có vai tṛ yểm trợ. Trước hết, xin hoàn toàn phản đối cách dùng từ “ngôn ngữ giả dối “ trong câu viết đó. Lư do: cho dù xét lại này của ông Kiểng có đúng đắn chăng nữa, th́ cái chủ trương quốc nội là lực lượng chủ lực, hải ngoại là thành phần yểm trợ cùng lắm là có chỗ sai lầm, ông NGK phát biểu đó là ngôn ngữ giả dối, có nghĩa ông buộc tội chúng tôi, những người có quan niệm đó lừa gạt quần chúng trong nước. Đây là một lời kết tội nặng nề không thể bỏ qua bởi v́ khi chúng ta tranh đấu cho lẻ phải, công b́nh và sự thật th́ không thể giả dối. Chúng tôi không dùng giả dối để chống lại cái ác CS. Dù có là sai lầm, không ai phán xét một sai lầm vế phương cách hành động của môt đồng minh cùng chí hướng với ḿnh bằng lời tuyên án mạnh bạo có tính cáxh thoá mạ như thế. Thành thực mà nói, tôi nghĩ rằng khi có nhận định xét lại này, ông NGK đă đứng trên quan điểm của (những) người ( tổ chức) có ước vọng lănh đạo chính trị, ông dựa vào những diễn biến lịch sử thế ǵới của những năm trước thời chiến tranh lạnh và ông quên đi phần lịch sử của những năm hậu hiện đại, nhất là trong vài năm vừa qua với những cuôc cách mạng Cam, Hoa Hồng, Hoa Cẩm Chướng... Trong khi đó chúng tôi đặt chủ trương theo quan điểm quần chúng đa số (80 triệu trong nước + 3 triệu ở hải ngoại), bất cứ công cuộc cách đấu tranh nào nếu muốn thành công phải phát xuất từ trong nước và thành phần trong nước phải là chủ lực, hải ngoại có làm ǵ cũng chỉ là thành phần hỗ trợ. Tổ Chức Hải ngoại muốn lănh đạo phong trào, công khai hay bí mật, hăy cử nhân sự trở về trong nước trực tiếp chỉ huy, không thể đứng hô hào từ xa. Như trên đă nói, đây là một chủ trương, có thể đúng đắn hay sai lầm, không nên đặt vấn đề chân thật hay giả dối. Cũng cần nói thêm, v́ chỉ là quan niệm của quần chúng nên có thể chỉ là tiếng nói của lương tâm, chưa có giải pháp cho đất nước. Những giải pháp, những chiến lược cho đất nườc để dành cho những thành phần lănh đạo. C̣n sự đấu tranh cho dân chủ VN là sự đấu tranh chung, dành cho tất cả mọi người có tấm ḷng với đất nước. Không nên v́ sự khác biệt trong h́nh thức đấu tranh mà lên tiếng khinh bỉ những h́nh thức đấu tranh bộc phát này là “một cuộc lên đồng, một sự gây ảo tưởng mạnh,” và lên án một chế độ là: “tuy không bạo ngược như chề độ cộng sản nhưng cũng không phải là một chế độ tốt (xấu chỗ nào không thấy nói tới, ít nhất nó không bạo ngược đă là một điều quá tốt), một chế độ không có ư chí (Không hiểu ư ông?) và chưa bao giờ có một nhân sự chính trị đúng nghĩa (như thế nào là một nhân sự chính trị đúng nghĩa? một nhân vật làm thí dụ điển h́nh?). Xin chấm dứt luận bàn về một chế độ đă qua ở đây, v́ ông NGK cũng như tôi, có lẽ tuổi đời, kinh nghiệm và những dữ kiện trong thực tế và trong nghiên cứu chưa đầy đủ,chưa minh bạch cho sự phê phán của chúng ta. 8. Khối người thoát ra được nước ngoài là một khối người ră hàng, đầy cắm thù và tuyệt vọng, đấu tranh chỉ cốt để biểu lộ và trút bớt hận thù. Một nhận định xét lại mang tính mạ lỵ hàng triệu người khắp nơi trên thế giới không cơ sở, không bằng chứng và giống hết luận điệu của nhà cầm quyền CSVN nói về khối người Việt nước ngoài. Trước tiên, thống kê nào cho ông thấy khối người Việt hải ngoại chỉ là một khối người ră hàng, đầy căm thù và tuyệt vọng? Người Việt hải ngoại là một tập hợp rất nhiều thành phần ở rải rác khắp nơi trên thế giới: có những người có mặt từ trước những ngày cuối tháng Tư - Bẩy Lăm, một số lớn đă di tản trong những ngày ấy, số lớn khác ,( bao gồm cả miền Bắc không thuộc chế độ cũ) ra đi bằng vượt biển; một số, đa số từ miền Bắc,llao động chọn ở lại sau sự kiện Đông Âu, một số sau này định cư qua các chương tŕnh định cư bảo lănh,hôn nhân, đoàn tụ gia đ́nh, du học, xuất khẩu lao động. Nói chung là đủ mọi thành phần trong cái khối người thoát ra nước ngoài. Dồn tất cả vào một khối là một nhận địng quá chủ quan. Họ có căm thù và tuyệt vọng không? Con người chỉ tuyệt vọng khi đi đến chỗ cùng đường. Thực tế hiện nay, đại đa số người Việt tại hải ngoại dù ở đâu trên thế giới đều có một đời sống tương đối tự do, sung túc và hạnh phúc đầy đủ hơn đa số người Việt trong nước, sư thật này là hiển nhiên ai cũng công nhận, vậy sao lại gán cho họ có t́nh trạng tuyệt vọng? C̣n căm thù. Nếu nói căm thù Cộng Sản v́ bại trận th́ chỉ là một số nhỏ. Tuy vậy, họ cũng có lư do để căm thù, khi mà cửa nát nhà tan, tài sản bị cướp bóc, gia đ́nh ly tán hay đă tan hoang,người thân đả mất, cuộc sống không c̣n ư nghĩa. Ai có thể thấu hiểu nỗi mất mát đớn đau của họ, trong khi những kẻ tàn nhẫn gây nên đau khổ ấy vẫn nhơn nhơn tự đắc sống trên những thứ mà chúng cướp đoạt được, lại luôn miệng thoá mạ họ là những kẻ phản bội tổ quốc, loài cặn bă của xă hội. Với những đau thương mất mát quá to lớn như thế, chỉ biểu lộ căm thù bằng cảm xúc mà không phải bằng những hành động trả thù vi phạm pháp luật th́ đâu đă là một cái tội. Chúng tôi là những con người b́nh thường với những t́nh cảm b́nh thường, không thể đ̣i hỏi người thường xử sự như những Bồ Tát, thánh nhân. Có được sự vị tha càng tốt, không có th́ những biểu lộ cảm xúc với kẻ gia hại ḿnh như thế chưa đến nỗi đáng phê phán chê trách. Ba mươi hai năm qua, chưa có một hành động trả thù chém giết người CSVN được ghi nhận. Đó không phải là một điều đáng trân trọng hay sao? Dù sao, thời gian cũng đă xóa bớt nỗi đau, họ chỉ là một số. Đa số không căm thù vị bại trận. Họ chưa một lần bại trận. Nếu có sự căm thù, đó là căm thù sự phi nhân tàn bạo, sự gỉả trá lừa bịp, sự độc tài độc đảng của đảng CSVN lên đất nước VN hiện tại chứ không v́ một chế độ cũ. Cái mà họ mong muốn VN thay đổi là xây dựng một chế độ ít nhất bằng hoặc hơn chế độ cũ, không phải dựng lại chế độ cũ.Các công cuộc đấu tranh mà họ tham gia hoàn toàn v́ ḷng thiết tha với đất nước, v́ t́nh dân tộc, nghĩa đồng bào chứ không phải để biểu lộ hận thù, trút bớt hận thù. Chúng tôi tan hàng, mang mặc cảm bại trận trong cuôc chiến nhưng không mang nỗi nhục trong ḷng. Trái lại chúng tôi tiếp tục ngẩng cao đầu v́ xét ḿnh không làm bất cứ điều ǵ có hại cho đất nước và dân tộc. Một số lănh đạo, tướng tá miền Nam tham nhũng thối nát, không làm tṛn nhiệm vụ, để cho CS có cơ may chiếm trọn VN, đó là lỗi của họ. Lịch sử sẽ phê phán họ. Lịch sử cũng sẽ xét đoán công b́nh công tội của đảng CSVN. Những tài liệu sách vở, văn bản, nghị quyết họ đưa ra trong mấy chục năm qua để áp đặt sự độc tài đảng trị và đàn áp người dân vô tội, cùng những đường lối tuyển truyền lừa bịp nhân dân trong nước và thế giới sẽ là những chứng cớ rất rơ ràng để kết tội mà sau này họ sẽ không thể chối căi Đôi khi trong một thời điểm nhất định, dưới khí thế của những cuộc xuống đường biểu t́nh, một vài lời quá khích của một vài cá nhân không kiềm chế được không phải là quan điểm của đám đông, cũng không biểu lộ hoàn toàn cái tâm những cá nhân trong nhất thời ấy. Đồng nhất cảm xúc của một số cá nhân, một nhóm người cho cả một tập thể cộng đồng hải ngoại lớn lao như ông NGK viết là một việc làm không công b́nh, thiếu vô tư. Nói chung, khối người Việt hải ngoại, như ông nhận định, có một đời sống ổn định, đă hoà nhập vào các quôc gia sở tại có đầy đủ tự do, dân chủ và nhân quyền. Không ai bắt buộc họ phải đấu tranh. Họ tự nguyện đấu tranh, không v́ họ mà cho nhân dân trong nước. V́ thế khi cho rằng họ đấu tranh chỉ cốt để biểu lộ hận thù đă không những phủ nhận giá trị ḷng yêu nước thương đồng bào của họ mà c̣n gán ghép thoá mạ sự tham gia đấu tranh của họ vào một hành vi có mục đích đê tiện nhỏ nhen. Tôi nghĩ ông NGK là người có tấm ḷng với đất nước, và việc ông phê phán nhằm mục đích xét lại các phương thức đấu tranh có vẻ như bế tắc hiện nay để cải thiện và hướng dẫn công cuộc đấu tranh đến một hướng đi mới, cố gắng tập hợp đoàn kết quần chúng, kiện toàn tổ chức để có thể thúc đẩy một giải pháp khả thi cho đất nước hơn. Thế nhưng, rộng lượng đến đâu cũng không thể chấp nhận cái quan điểm hoà giải đơn phương của ông, cái lối hoà giải bắt buộc phe đấu tranh cho dân chủ, những nạn nhân cũa CS phải chấp nhận bằng mọi giá trong khi phe CS không làm ǵ cả. Chúng ta không hoà giải với những bóng ma. Muốn có sự hoà giải phải có sự tương đồng hai phía, phải chấp nhận thực thể của nhau, phải có đối thoại, sự đối thoại dù chưa có sự công b́nh cũng cần có sự lắng nghe. Với chủ trương đàn áp mọi tiếng nói bất đồng của nhà cầm quyền CSVN hiện nay, phong trào đấu tranh cho dân chủ VN chưa thể nói đến hoà giải. Tôi cũng biết, qua các bài viết, ông NGK có nhiều tham vọng, và tham vọng lănh đạo chính trị là một trong những ước mơ lớn của ông. Thế nhưng, để là một nhà lănh đạo chính trị có tầm vóc, chưa nói đến tài ba lỗi lạc., dù trong tinh thần phê phán hay tự phê, dù những lời phê phán đúng sai, có cần những ngôn từ quá mạnh đến gần như thoá mạ đó hay không? Nhất là những lời lẽ được đưa ra công khai trên báo trên, mạng cho một cuộc tranh luận. Một lời chỉ trích quá nặng cho một tập thể quá lớn, trong khi ư của ông chỉ muốn đặt vấn đề xét lại cho một số nhân vật, tổ chức mà ông nghĩ là thành phần lănh đạo, chịu trách nhiệm cho công cuộc đấu tranh đ̣i hỏi tự do dân chủ cho Việt Nam. Quần chúng sẽ nghĩ gỉ khi nghe một nhà lănh đạo có những lời hiệu triệu với những lời lẽ trong bài “Thời điểm của môt xét lại bắt buộc” của ông? Ngay cả những nhóm người “làm nhiệm vụ lănh đạo” cũng đă phải“nhăn mặt” góp ư trong nhiều bài nhận định gần đây cả trong và ngoài nước. Lănh đạo không chỉ là có tài đức mà c̣n là một nghệ thuật. Một điểm trong cái nghệ thuật lănh đạo là cách lên tiếng phê phán sao để người bị phê phán nh́n thấy được tinh thần xây dựng, cảm nhận được cái sai lầm của họ, thấy được cái tâm của người lănh đạo muốn có sự sửa chữa và khuyến khích họ làm tốt hơn,cho họ sự an ủi vỗ về để họ vẫn mến phục, thay v́ để họ có cảm giác bị lăng nhục thoá mạ, sinh ra niềm oán ghét, xa lánh và đi đến chống đối Chưa kể, người lănh đạo phải hiểu ḿnh cũng sai lầm, cũng cần học hỏi, biết nhận thức, hoà nhă với thuộc cấp, lắng nghe họ và cố gắng sửa chữa những lầm lỗi. Đến đây, cũng xin hỏi thử ông NGK một câu: ông đă cât công phê phán ,xét lại cả cá nhân và tập thể, từ người xưa đến người nay, cả anh hùng lẫn kẻ cùng đinh; vậy có bao giờ ông tự phê phán, xét lại ngôn ngữ và cách cư xử của chính ḿnh chưa? Cũng như nhiều người khác, tôi sẽ ủng hộ Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên (THDCDN) của ông hết ḿnh và đứng sau lưng ông, khi ông và tổ chức THDCĐN có một giải pháp rơ ràng khả dĩ thúc đẩy mau chóng các quyền tự do căn bản nhất cho nhân dân VN. Bước đầu, chỉ để đạt mục tiêu đơn giản ba Tự Do căn bản cho người dân thôi, thưa ông: Tự do sinh sống, tự do ngôn luận, tự do tôm giáo. Australia, Aug. 12, 2007 © DCVOnline |
| Lan man về những xét lại bắt buộc Tan VanPhương Duy Xin đi thẳng vào những nhận định xét lại bắt buộc của ông Nguyễn Gia Kiểng (NGK) qua “Thời điểm của một xét lại bắt buộc”: 1. Khí thế đấu tranh trong nước đang tàn lụi, hải ngoại chỉ biểu lộ một sự bất lực: Nhận định sau những cuộc đàn áp dữ dội trong vài tháng qua, công cuôc đấu tranh trong nước đang tàn lụi v́ một số nhà hoạt động dân chủ VN vào tù, một số phải đào thoát và một số bỏ cuôc, theo tôi, thiếu khách quan. Đó là một nhận định cho rằng vào tù là xong chuyện. Bắt bớ, giam cầm, kết án, tù tội, số người tham gia vào các tổ chức đấu tranh không sút giảm. Cộng sản Việt Nam (CSVN) đă đàn áp bỏ tù hàng triệu người dân VN, hàng triệu người khác đă phải đào thoát chaỵ trốn trong mấy chục năm qua, sự đấu tranh phản kháng, khi ẩn khi hiện, thời điểm nào cũng tồn tại, c̣n lan rộng từ miền Nam ra đến cả miền Bắc, từ tỉnh thành này sang tỉnh thành khác, từ giới tri thức, lănh đạo qua đến thành phần nhân dân lao động. Như thế, sự đấu tranh không những không tàn đi mà c̣n mạnh hơn. Cá nhân những người được coi là lănh đạo công cuộc đấu tranh bị bắt bớ giam cầm, chưa có ai tỏ dấu đầu hàng. Trái lại, dù ở trong cái nhà tù nhỏ hay ra ngoài nhà tù lớn, tất cả đều kiên định lập trường đấu tranh cho dân chủ của họ. Nhà tù, trong một ư niệm tích cực, là một nơi cho người lănh đạo rèn luyện bản thân, giữ vững tư cách. Như lời của LM Lư từ trong tù vừa gửi ra: cha Lư cho rằng thời gian trong tù của cha lúc này có lẽ lại tốt hơn, làm việc hiệu quả hơn nếu như cha đang ở Xóm Củi bên ngoài, cha nói chắc chẳng làm được ǵ. Lịch sử thế giới cũng đă chứng minh những nhà lănh đạo lớn Mandela, Wałesa, Gandhi… đều có những quá tŕnh tù tội lâu năm, một hy sinh cần phải có cho sự tôi luyện ư chí và củng cố tinh thần trước những thử thách cam go của một công cuộc lớn lao. Lửa thử vàng, gian nan thử sức. Những khó khăn gian khổ ấy cũng là những phương tiện sàng lọc những người yếu đuối, không bền tâm, thiếu tài năng và loại bỏ những kẻ cơ hội. Đám quần chúng th́ có cơ may phân biệt đá vàng. Hoàng Minh Chính, Nguyễn văn Lư đă từng vào tù ra khám nhiều lần, lửa đấu tranh trong ḷng vẫn ngùn ngụt. Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Khắc Toàn, Nguyễn Vũ B́nh …bước ra khỏi song sắt vẫn cất cao tiếng nói của lương tâm, bước đấu tranh đâu có chùn bước. Nói về hiện trạng ở ngoài VN, có thực khối hải ngoại chỉ biệu lộ một sự phẫn nộ bất lực không? Giữ cho một khối người trải rộng khắp nơi trên thế giới biểu lộ được sự phẫn nộ không quá thờ ơ đă là một điều đáng ghi nhận. Không có một phương tiện chính trị, ngoại giao chính thức nào để có thể ảnh hưởng lên quốc tế, nhưng đă thúc đẩy các cơ quan, chính quyền các nước lên tiếng biểu lộ những phẫn nộ cùng với ḿnh , không phải là một thành công sao? Cho dù có đánh giá những lên tiếng quốc tế đó c̣n quá yếu và chưa đúng mức? Sự phẫn nộ lại càng chứng tỏ phong trào đấu tranh cho dân chủ Việt Nam không tàn lụi đi mà mạnh mẽ hơn, một điểm mà ông NGK đă tư mâu thuẫn. Người Việt hải ngoại đang làm cho thế giới thấy rơ CSVN đang lừa bịp họ,làm cho người Việt trong nước vững tâm hơn trong việc xuống đường biểu t́nh chống đối đ̣i hỏi công bằng xă hội v́ biết bên cạnh họ có sự hậu thuẫn mạnh mẽ từ bên ngoài, như vậy là phẫn nộ bất lực? 2. Dự án thống nhất của ông Hoàng Minh Chính (HMC) tự nó tiêu tan dù không bị đàn áp. Chuyến đi của ông HMC vào năm 2005 với mục đích chữa bệnh, có thể có mục tiêu liên kết chính đảng của ông và một số nhân sự, tổ chức ngoài nước, không phải là đại diện cho tất cả mọi khuynh hướng trong và ngoài. Mục tiêu thành công hay thất bại, vẫn c̣n là một ẩn số, chỉ chính ông HMC và một số tổ chức như của bác sĩ Nguyễn Xuân Ngăi có thể trả lời. Một điều chắc chắn, không có sự liên hệ mật thiết giữa chuyến đi này với Khối 8406, v́ sau khi bản tuyên ngôn nhân quyền của khối 8406 ra đời, nhóm này đă cho phổ biến một bản tuyên ngôn riêng chỉ mấy ngày sau đó V́ thế, dự án thống nhất này chỉ là một sự suy đoán của ông NGK không có cơ sở và bằng chứng. Khối 8406, như tên gọi của nó, là tập hợp của nhiều cá nhân, tổ chức với khuynh hướng khác nhau nhưng có chung một mục tiêu đ̣i hỏi tự do, dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam. V́ vậy, không thể đ̣i hỏi khối này có sự kết hợp chặt chẽ và có kỷ cương như một tổ chức.Ngày 08/04/2006,Khối đă ra bản tuyên ngôn nhân quyền. Mọi cá nhân , tổ chức đă kư tên trong đó có thể hoạt động theo cách riêng của ḿnh trong tinh thần của bản tuyên ngôn và cho cùng một mục tiêu dân chủ và nhân quyền. Nều khối chỉ dừng lại ở bản tuyên ngôn, th́ hoạt động của khối coi như không hữu hiệu hay chỉ có giá trị h́nh thức. Chính các cá nhân, các tổ chức trong khối cần dựa vào bản tuyên ngôn, dựa vào vị trí và khả năng của từng người từng tổ chức để hành động thực hiện hay đ̣i hỏi phía bên kia phải đáp ứng những điều khoản của tuyên ngôn cho nhu cầu đ̣i hỏi của nhân dân. Hiểu như thế, chúng ta sẽ thấy mỗi người có một phương cách hành xử đấu tranh khác nhau, trong nước khác ngoài nước, tu sĩ khác người thường, trong đảng khác ngoài đảng. Điều quan trông là mọi hành động đều nằm trong phạm vi và phù hợp với tinh thần của bản tuyên ngôn. Một số người nhẫn định rằng bản tuyên ngôn, trên lư thuyết, rất hay, nhưng rất khó thực hiện trong t́nh thế độc tài độc đảng hiện nay của VN. Đây là một điểm đáng bàn luận. Tuy nhiên , theo thiển ư, một bản tuyên ngôn cần có sự cô đọng và hoàn thiện. Các cá nhân, tổ chức sẽ tuỳ hoàn cảnh và thời điểm để thưc thi. 3. LM Nguyễn Văn Lư, Ls Nguyễn văn Đài cùng những nhà dân chủ trong nước khác là nạn nhân của cách đối lập tại hải ngoại. Người Việt hải ngoại chống lại ách độc tài đảng trị và việc dung bạo lực đàn áp dă man đồng bào trong nước. Phương cách của người Việt hải ngoại là kết hợp trong ngoài để xây dựng và phát huy công cuộc đấu tranh đ̣i hỏi tự do dân chủ nhân quyền cho người Việt trong nước, những quyền mà họ đă đang được hưởng từ những quốc gia định cư. Việc thúc đẩy tiến tŕnh dân chủ hoá đất nước phải tận dụng mọi cơ hội và thường là không đầy đủ, không có chuyện vận dụng quá mức sức anh em trong nước như nhận định của ông NGK. Các nhân sự mà ông cho là nạn nhân của người Việt hải ngoại, những nhà hoạt động dân chủ đối kháng trong nước, hần như tất cả là những người trí thức, có tầm hiểu biết trong ngoài khá rộng răi. Họ dư biết những trở ngại khó khăn, họ chấp nhận hy sinh gian khổ, họ sẵn sàng chờ đợi những bắt bớ giam cầm. Ho không phải là loại ngây thơ bị hải ngoại xúi dục như ông nhận định. Những lời tuyên bố của họ (cha Lư. luật sư Đài, luật sư Công Nhân, nhà văn Trần Khải Thanh Thuỷ) trước khi họ vào tù là những bằng chứng hiển nhiên. Cho rằng họ nhẹ dạ nghe lời hải ngoại để dấn thân vào tù tội là một sự mạ lỵ nặng nề khả năng hiểu biết của họ và chối bỏ sự hy sinh cao quư của họ. Hơn thế nữa, những hy sinh cao cả này đang đạt được những thành quả to lớn cả trong và ngoài nước. Đó là tiếng sét đánh động lương tâm con người trong và ngoài nước trước bạo lực CS, mở mắt dư luận thế giới đang đui mù khỏi sự giả trá lừa bịp của CSVN, trấn an nỗi sợ của nhân dân, để họ tự phát đứng lên tranh đâú giành lại quyền lợi của ḿnh. Ông NGK có lối nhận định quái đản: kết tội nạn nhân thay v́ tội phạm, giống như một giáo sĩ Hồi Giáo tại Úc vài tháng trước đây lên án những nạn nhân bị hiếp dâm tại Úc là có tội ăn mặc hở hang để khiêu khích bọn hiếp dâm như đưa thịt vào miệng mèo. Ông nhận địng rằng các nhà dân chủ trong nuớc thi đua lên tiếng xô bố, khiêu khích cốt gây tiếng vang để vào tù, Không biết ông đă có kinh nghiệm ngồi tù, nhất là tù trong một chế độ CS như thế nào chưa để có thể viết rằng những người tranh đấu vào tù cố lấy tiếng? 4. Phải biết trước bị đàn áp và phải có phương án để khai thác sự đàn áp. Tưởng rằng đảng CSVN sẽ không dám đàn áp thẳng tay v́ sợ phản ứng của thế giới. Dĩ nhiên là người Việt Nam, ai cũng có thưà kinh nghiệm về CSVN, miền Bắc hơn 60 năm và miền Nam hơn 32 năm qua. Ai cũng biết, một người có tư tưởng đầu óc phản kháng lại sự độc quyền lănh đạo của đảng CSVN, dù là bất bạo động, trưiớc sau ǵ cũng bị đàn áp. Đảng CSVN không cho phép bất cứ ai, kể cả đảng viên của đảng CS, được quyền phê phán thách thức độc quyền lănh đạo này. Do đó, đặt vấn đề như vậy thất là thừa thăi. Các nhà dân chủ trong nước họ biết và họ chấp nhận cái giá phải trả. C̣n phương án để khai thác ư? Thế th́ tấm h́nh “bịt miệng” trong phiên toà xử cha Lư cùng những h́nh ảnh,cùng băng đoạn thu h́nh ghi âm các phiên toà xử những nhà đấu tranh khác” Nguyễn Văn Đài, Lê thị Công Nhân, Lê Nguyên Sang, Huỳnh Nguyên Đạo, Nguyễn Thế Truyền, những tấm h́nh ghi cảnh dân oan khiếu kiện và sự đàn áp dă man của công an đang được phổ biến rộng răi cùng khắp thế giới , không phải là sự khai thác hữu hiệu, triệt để và khôn ngoan về sự bạo hành của CSVN th́ là ǵ? Nhà cầm quyền CSVN đâu c̣n có thể dùng ngôn từ bịp bợm giả dối để bao che cho những tội ác của họ được nữa. Cũng nên nói thêm rằng, những bản án xét xử từ 3 đến 8 năm tù của nhà cầm quyền CSVN dành cho các nhà đấu tranh dân chủ trong nước vừa qua, so với những cái án chung thân, tử h́nh dành cho Mai Văn Hạnh, Trần văn Bá ... và rất nhiều chiến sĩ tự do dân chủ vô danh khác ở thời điểm mười, mười lăm năm về trước, chúng ta cũng thấy đảng CSVN ít nhiều đă có sự chùn tay, không chỉ v́ sợ phản ứng của thế giới, mà lo ngại luôn sức bất của người dân, già néo đứt dây, như chúng ta thường nghe. Phản ứng của thế giời, đặc biệt Hoa Kỳ có chừng mực, đó là lẽ đương nhiên . Theo cách nh́n trong chiều hướng dân tộc, đây là vấn nạn của nhân dân Việt Nam, th́ người dân Việt phải là thành phần tự nhận lấy trách nhiệm chính giải quyết vấn đề. Người ngoài cuộc chỉ góp công sức cổ vơ, yểm trợ. Chúng ta không bảo họ làm thay chúng ta. Do đó không thể áp lực họ cắt đưt mọi quan hệ b́nh thường hay từ bỏ những ích lợi kinh tế, thương mại cho đất nước của họ. Điều chúng ta cần làm là hướng dẫn họ đi sát với thực tế, để cho mối quan hệ có lợi thế cho cả hai bên, quyền lợi thu được phải nằm trong nguyên tắc bảo đảm dân chủ nhân quyền, không trở thành phương tiện cho bọn độc tài chuyên chế gây nguy hại đến người dân b́nh thường. Theo tầm nh́n bao quát nhân loại, đấu tranh đ̣i hỏi tự do dân chủ nhân quyền cho người dân thấp cổ bé miệng là nghĩa vụ chung của mọi người, nhất là những người đang được hưởng đầy đủ những quyền này. Trong cái tinh thần tương thân tương ái này, chúng ta kêu gọi thế giới cùng nhập cuộc, tạo áp lực họ có thể có. Chẳng hạn những quan hệ có điều kiện với nhà cầm quyền CSVN để thúc đẩy công cuộc thay đổi dân chủ hoá Việt Nam tiến triển mau chóng hơn. 5. Có thể lật đổ nhà cầm quyền CSVN không? Bằng vũ lực và các phương tiện chiến tranh, có thể nói là không. Không một quốc gia nào trong thời đại hiện nay sẽ giúp ta làm chuyện ấy. Lật đổ một chính quyền cũng có nhiều phương cách không cần tới vũ lực. Các quốc gia Đông Âu thời thập niên 90 và một số khác trong một vài năm vừa qua đă làm được chuyện đó: những cuộc cách mạng nhung. Ở Việt Nam, điều này cũng có thể xảy ra. Giả thuyết một ngày nào đó, tập thể Quân Đội Nhân Dân VN bỗng nhận ra họ không thể là một công cụ cho nhà cầm quyền CSVN để đàn áp chính nhân dân VN , lại hèn hạ làm tay sai, bán đất nhượng biển cho CS Trung Quốc, thay v́ phục vụ đảng CSVN, họ trở về phục vụ đất nước, dân tộc, đứng lên buộc tách ảnh hưởng đảng CS ra khỏi quân đội, giải thể đảng viên, nhận trách nhiệm bao vây áp lực đảng CSVN trả lại quyền lănh đạo về tay nhân dân. Một viễn tượng khác: những cảnh biểu t́nh khiếu kiện của nhân dân cứ ngày một lan rộng đến một mức nhà cầm quyền không thể đàn áp nổi, mọi sinh hoạt của quốc gia bị ngưng trệ và chúng ta có thể tiên đoán điều ǵ sẻ xảy ra. Một sự thực đau ḷng là trong khi khí thế quần chúng trong nước đang lên, họ đang cần những người lănh đạo để tổ chức hoá và kết hợp chặt chẽ, cần những bộ óc trí thức để suy luận, phân tích, phán đoán t́nh thế chính xác để đưa ra những hướng dẫn đấu tranh khôn khéo và cu thể th́ giới trí thức trong nước hầu hết trùm chăn, thờ ơ với thời cuộc. Ai cũng biết thành phần trí thức của một quốc gia nằm ở trong tầng lớp thanh niên, sinh viên học sinh, những người trẻ tuổi, năng động và có nhiều nhiệt huyết, chính họ là linh hồn của mọi phong trào, mọi cuộc cách mạng. Thế nhưng xem ra, ở Việt Nam hiện tại, thành phần này nhạt mờ sương khói. Trung Quốc c̣n có một vụ Thiên An Môn một sự kiện mà giới trí thức Trung Quốc có thể ngửng cao đầu. Nhưng tại sao lại đặt vấn đề lật đổ ở đây. Mục đích của công cuộc đấu tranh đ̣i hỏi tự do dân chủ đa nguyên cho Việt Nam nằm trong ư nghĩa của những chữ tự do, dân chủ và nhân quyền. Các nhà đấu tranh, nhân dân trong và ngoài nước đang đ̣i hỏi những quyền căn bản đó, dù có phải lật đổ nhà cầm quyền đương thời hay không. Những tiếng nói lên tiếng đấu tranh , những cuộc đ́nh công xuống đường khiếu kiện trong nước, những cuộc biều t́nh ngoài nước chống sự đàn áp dă man người dân của nhà cầm quyền CS trong nước , yêu cầu xoá bỏ bất công, những thông tin thế giới và nhận thức dân chủ loan truyền về trong nước có nên bị kết án là những hành động , phương tiện nhằm lật đổ nhà cầm quyền CS không? Cứ cho đó là những “diễn biến hoà b́nh của các thế lực phản động nước ngoài nhằm lật đổ nhà nước CHXHCNVN” không nên có, mà cần đi đến kịch bản hoà hợp hoà giải, th́ hăy nh́n thẳng vào thực tế. Người dân VN vừa bị buộc đi bầu Quốc Hội, những đại diện của dân với sự khoe mẽ: đa số đắc cử trên 90% số phiếu, nhưng khi họ đến văn pḥng để kêu oan khiên kéo dài cả tháng , không có được một đại biểu ra tiếp th́ giải pháp hoà hợp hoà giải sẽ được thưc hiện với ai, ở đâu và ra sao? Chưa có được cái tự do ngôn luận tối thiểu, tai bị che, mắt bi bưng, miệng bị bịt, tay bị c̣ng, chân bị xiềng, bụng bi bỏ đói, đít không cho ỉa th́ đối thoại, hoà hợp hoà giải chỉ là chuyện nằm mơ giữa ban ngày. 6. Sự tranh chấp trong các phe phái nội bộ CSVN kể như đă chấm dứt. Không ai thực sự biết rơ t́nh trạng phe phái nội bộ CSVN thực hư ra sao. Từ những lối phân chia thủ cựu/ cấp tiến, phe Bắc/ phe Nam hoặc phe thân Trung Quốc/ phe thân Mỹ…Tất cả chỉ là sự suy đoán. Sự suy đoán này cũng không có mấy chính xác khi thực tế xảy ra cứ chồng chéo lên nhau ngược với những suy đoán. Việc ông cựu Tổng bí thư Lê Khả Phiêu được cho là do phe cánh Đỗ Mười/ Lê Đức Anh bảo thủ đưa lên, rồi cũng chính 2 ông này hạ ông Phiêu xuống là một ví dụ. Việc Nguyễn Tấn Dũng/ Nguyễn Minh Triết được coi là thành phần phe đổi mới nhưng khi làm thủ tướng/ chủ tịch nước, dù đang làm ra vẻ cải cách hành chính, trẻ trung hoá chính quyền theo lối dân chủ Tây Phương, hàng năm vẫn cứ phải qua bái kiến, nhận sự chỉ đạo của Bắc Kinh là một thí dụ khác. Một điều chắc chắn là dù có nhiều tranh chấp phe phái, dù cho họ tiêu diệt tàn sát lẫn nhau, bọn cầm quyền CSVN củng đồng t́nh và hợp lực với nhau ở một điểm là nhất quyết không để cho bất cứ ai đụng chạm đến quyền lănh đạo độc tài đảng trị của họ, kể cả đó là những đảng viên CS trung kiên cao cấp nhất của họ. V́ vậy, việc CSVN đoàn kết hay chia rẽ, sự tranh chấp phe phài vẫn c̣n hay đă chấm dứt không phải là mối quan tâm chính cho công cuộc đấu tranh dân chủ cũa nhân dân VN. Điếu đó có th́ càng tốt , phong trào đấu tranh có thêm một chút lợi thế khai thác. Khôn g có điều đó th́ con đường đấu tranh cho dân chủ vẫn cứ đi. Riêng về nhận định” t́nh trạng ổn vững nội bộ của đảng CSVN chưa chắc là điều xấu cho tiến tŕnh dân chủ, c̣n có thể là tốt” của ông NGK, th́ quá sức hiểu biết của tôi, xin miễn bàn. 7. Khẩn cấp từ bỏ ngôn ngữ giả dối quốc nội là chủ lực, hải ngoại chỉ có vai tṛ yểm trợ. Trước hết, xin hoàn toàn phản đối cách dùng từ “ngôn ngữ giả dối “ trong câu viết đó. Lư do: cho dù xét lại này của ông Kiểng có đúng đắn chăng nữa, th́ cái chủ trương quốc nội là lực lượng chủ lực, hải ngoại là thành phần yểm trợ cùng lắm là có chỗ sai lầm, ông NGK phát biểu đó là ngôn ngữ giả dối, có nghĩa ông buộc tội chúng tôi, những người có quan niệm đó lừa gạt quần chúng trong nước. Đây là một lời kết tội nặng nề không thể bỏ qua bởi v́ khi chúng ta tranh đấu cho lẻ phải, công b́nh và sự thật th́ không thể giả dối. Chúng tôi không dùng giả dối để chống lại cái ác CS. Dù có là sai lầm, không ai phán xét một sai lầm vế phương cách hành động của môt đồng minh cùng chí hướng với ḿnh bằng lời tuyên án mạnh bạo có tính cáxh thoá mạ như thế. Thành thực mà nói, tôi nghĩ rằng khi có nhận định xét lại này, ông NGK đă đứng trên quan điểm của (những) người ( tổ chức) có ước vọng lănh đạo chính trị, ông dựa vào những diễn biến lịch sử thế ǵới của những năm trước thời chiến tranh lạnh và ông quên đi phần lịch sử của những năm hậu hiện đại, nhất là trong vài năm vừa qua với những cuôc cách mạng Cam, Hoa Hồng, Hoa Cẩm Chướng... Trong khi đó chúng tôi đặt chủ trương theo quan điểm quần chúng đa số (80 triệu trong nước + 3 triệu ở hải ngoại), bất cứ công cuộc cách đấu tranh nào nếu muốn thành công phải phát xuất từ trong nước và thành phần trong nước phải là chủ lực, hải ngoại có làm ǵ cũng chỉ là thành phần hỗ trợ. Tổ Chức Hải ngoại muốn lănh đạo phong trào, công khai hay bí mật, hăy cử nhân sự trở về trong nước trực tiếp chỉ huy, không thể đứng hô hào từ xa. Như trên đă nói, đây là một chủ trương, có thể đúng đắn hay sai lầm, không nên đặt vấn đề chân thật hay giả dối. Cũng cần nói thêm, v́ chỉ là quan niệm của quần chúng nên có thể chỉ là tiếng nói của lương tâm, chưa có giải pháp cho đất nước. Những giải pháp, những chiến lược cho đất nườc để dành cho những thành phần lănh đạo. C̣n sự đấu tranh cho dân chủ VN là sự đấu tranh chung, dành cho tất cả mọi người có tấm ḷng với đất nước. Không nên v́ sự khác biệt trong h́nh thức đấu tranh mà lên tiếng khinh bỉ những h́nh thức đấu tranh bộc phát này là “một cuộc lên đồng, một sự gây ảo tưởng mạnh,” và lên án một chế độ là: “tuy không bạo ngược như chề độ cộng sản nhưng cũng không phải là một chế độ tốt (xấu chỗ nào không thấy nói tới, ít nhất nó không bạo ngược đă là một điều quá tốt), một chế độ không có ư chí (Không hiểu ư ông?) và chưa bao giờ có một nhân sự chính trị đúng nghĩa (như thế nào là một nhân sự chính trị đúng nghĩa? một nhân vật làm thí dụ điển h́nh?). Xin chấm dứt luận bàn về một chế độ đă qua ở đây, v́ ông NGK cũng như tôi, có lẽ tuổi đời, kinh nghiệm và những dữ kiện trong thực tế và trong nghiên cứu chưa đầy đủ,chưa minh bạch cho sự phê phán của chúng ta. 8. Khối người thoát ra được nước ngoài là một khối người ră hàng, đầy cắm thù và tuyệt vọng, đấu tranh chỉ cốt để biểu lộ và trút bớt hận thù. Một nhận định xét lại mang tính mạ lỵ hàng triệu người khắp nơi trên thế giới không cơ sở, không bằng chứng và giống hết luận điệu của nhà cầm quyền CSVN nói về khối người Việt nước ngoài. Trước tiên, thống kê nào cho ông thấy khối người Việt hải ngoại chỉ là một khối người ră hàng, đầy căm thù và tuyệt vọng? Người Việt hải ngoại là một tập hợp rất nhiều thành phần ở rải rác khắp nơi trên thế giới: có những người có mặt từ trước những ngày cuối tháng Tư - Bẩy Lăm, một số lớn đă di tản trong những ngày ấy, số lớn khác ,( bao gồm cả miền Bắc không thuộc chế độ cũ) ra đi bằng vượt biển; một số, đa số từ miền Bắc,llao động chọn ở lại sau sự kiện Đông Âu, một số sau này định cư qua các chương tŕnh định cư bảo lănh,hôn nhân, đoàn tụ gia đ́nh, du học, xuất khẩu lao động. Nói chung là đủ mọi thành phần trong cái khối người thoát ra nước ngoài. Dồn tất cả vào một khối là một nhận địng quá chủ quan. Họ có căm thù và tuyệt vọng không? Con người chỉ tuyệt vọng khi đi đến chỗ cùng đường. Thực tế hiện nay, đại đa số người Việt tại hải ngoại dù ở đâu trên thế giới đều có một đời sống tương đối tự do, sung túc và hạnh phúc đầy đủ hơn đa số người Việt trong nước, sư thật này là hiển nhiên ai cũng công nhận, vậy sao lại gán cho họ có t́nh trạng tuyệt vọng? C̣n căm thù. Nếu nói căm thù Cộng Sản v́ bại trận th́ chỉ là một số nhỏ. Tuy vậy, họ cũng có lư do để căm thù, khi mà cửa nát nhà tan, tài sản bị cướp bóc, gia đ́nh ly tán hay đă tan hoang,người thân đả mất, cuộc sống không c̣n ư nghĩa. Ai có thể thấu hiểu nỗi mất mát đớn đau của họ, trong khi những kẻ tàn nhẫn gây nên đau khổ ấy vẫn nhơn nhơn tự đắc sống trên những thứ mà chúng cướp đoạt được, lại luôn miệng thoá mạ họ là những kẻ phản bội tổ quốc, loài cặn bă của xă hội. Với những đau thương mất mát quá to lớn như thế, chỉ biểu lộ căm thù bằng cảm xúc mà không phải bằng những hành động trả thù vi phạm pháp luật th́ đâu đă là một cái tội. Chúng tôi là những con người b́nh thường với những t́nh cảm b́nh thường, không thể đ̣i hỏi người thường xử sự như những Bồ Tát, thánh nhân. Có được sự vị tha càng tốt, không có th́ những biểu lộ cảm xúc với kẻ gia hại ḿnh như thế chưa đến nỗi đáng phê phán chê trách. Ba mươi hai năm qua, chưa có một hành động trả thù chém giết người CSVN được ghi nhận. Đó không phải là một điều đáng trân trọng hay sao? Dù sao, thời gian cũng đă xóa bớt nỗi đau, họ chỉ là một số. Đa số không căm thù vị bại trận. Họ chưa một lần bại trận. Nếu có sự căm thù, đó là căm thù sự phi nhân tàn bạo, sự gỉả trá lừa bịp, sự độc tài độc đảng của đảng CSVN lên đất nước VN hiện tại chứ không v́ một chế độ cũ. Cái mà họ mong muốn VN thay đổi là xây dựng một chế độ ít nhất bằng hoặc hơn chế độ cũ, không phải dựng lại chế độ cũ.Các công cuộc đấu tranh mà họ tham gia hoàn toàn v́ ḷng thiết tha với đất nước, v́ t́nh dân tộc, nghĩa đồng bào chứ không phải để biểu lộ hận thù, trút bớt hận thù. Chúng tôi tan hàng, mang mặc cảm bại trận trong cuôc chiến nhưng không mang nỗi nhục trong ḷng. Trái lại chúng tôi tiếp tục ngẩng cao đầu v́ xét ḿnh không làm bất cứ điều ǵ có hại cho đất nước và dân tộc. Một số lănh đạo, tướng tá miền Nam tham nhũng thối nát, không làm tṛn nhiệm vụ, để cho CS có cơ may chiếm trọn VN, đó là lỗi của họ. Lịch sử sẽ phê phán họ. Lịch sử cũng sẽ xét đoán công b́nh công tội của đảng CSVN. Những tài liệu sách vở, văn bản, nghị quyết họ đưa ra trong mấy chục năm qua để áp đặt sự độc tài đảng trị và đàn áp người dân vô tội, cùng những đường lối tuyển truyền lừa bịp nhân dân trong nước và thế giới sẽ là những chứng cớ rất rơ ràng để kết tội mà sau này họ sẽ không thể chối căi Đôi khi trong một thời điểm nhất định, dưới khí thế của những cuộc xuống đường biểu t́nh, một vài lời quá khích của một vài cá nhân không kiềm chế được không phải là quan điểm của đám đông, cũng không biểu lộ hoàn toàn cái tâm những cá nhân trong nhất thời ấy. Đồng nhất cảm xúc của một số cá nhân, một nhóm người cho cả một tập thể cộng đồng hải ngoại lớn lao như ông NGK viết là một việc làm không công b́nh, thiếu vô tư. Nói chung, khối người Việt hải ngoại, như ông nhận định, có một đời sống ổn định, đă hoà nhập vào các quôc gia sở tại có đầy đủ tự do, dân chủ và nhân quyền. Không ai bắt buộc họ phải đấu tranh. Họ tự nguyện đấu tranh, không v́ họ mà cho nhân dân trong nước. V́ thế khi cho rằng họ đấu tranh chỉ cốt để biểu lộ hận thù đă không những phủ nhận giá trị ḷng yêu nước thương đồng bào của họ mà c̣n gán ghép thoá mạ sự tham gia đấu tranh của họ vào một hành vi có mục đích đê tiện nhỏ nhen. Tôi nghĩ ông NGK là người có tấm ḷng với đất nước, và việc ông phê phán nhằm mục đích xét lại các phương thức đấu tranh có vẻ như bế tắc hiện nay để cải thiện và hướng dẫn công cuộc đấu tranh đến một hướng đi mới, cố gắng tập hợp đoàn kết quần chúng, kiện toàn tổ chức để có thể thúc đẩy một giải pháp khả thi cho đất nước hơn. Thế nhưng, rộng lượng đến đâu cũng không thể chấp nhận cái quan điểm hoà giải đơn phương của ông, cái lối hoà giải bắt buộc phe đấu tranh cho dân chủ, những nạn nhân cũa CS phải chấp nhận bằng mọi giá trong khi phe CS không làm ǵ cả. Chúng ta không hoà giải với những bóng ma. Muốn có sự hoà giải phải có sự tương đồng hai phía, phải chấp nhận thực thể của nhau, phải có đối thoại, sự đối thoại dù chưa có sự công b́nh cũng cần có sự lắng nghe. Với chủ trương đàn áp mọi tiếng nói bất đồng của nhà cầm quyền CSVN hiện nay, phong trào đấu tranh cho dân chủ VN chưa thể nói đến hoà giải. Tôi cũng biết, qua các bài viết, ông NGK có nhiều tham vọng, và tham vọng lănh đạo chính trị là một trong những ước mơ lớn của ông. Thế nhưng, để là một nhà lănh đạo chính trị có tầm vóc, chưa nói đến tài ba lỗi lạc., dù trong tinh thần phê phán hay tự phê, dù những lời phê phán đúng sai, có cần những ngôn từ quá mạnh đến gần như thoá mạ đó hay không? Nhất là những lời lẽ được đưa ra công khai trên báo trên, mạng cho một cuộc tranh luận. Một lời chỉ trích quá nặng cho một tập thể quá lớn, trong khi ư của ông chỉ muốn đặt vấn đề xét lại cho một số nhân vật, tổ chức mà ông nghĩ là thành phần lănh đạo, chịu trách nhiệm cho công cuộc đấu tranh đ̣i hỏi tự do dân chủ cho Việt Nam. Quần chúng sẽ nghĩ gỉ khi nghe một nhà lănh đạo có những lời hiệu triệu với những lời lẽ trong bài “Thời điểm của môt xét lại bắt buộc” của ông? Ngay cả những nhóm người “làm nhiệm vụ lănh đạo” cũng đă phải“nhăn mặt” góp ư trong nhiều bài nhận định gần đây cả trong và ngoài nước. Lănh đạo không chỉ là có tài đức mà c̣n là một nghệ thuật. Một điểm trong cái nghệ thuật lănh đạo là cách lên tiếng phê phán sao để người bị phê phán nh́n thấy được tinh thần xây dựng, cảm nhận được cái sai lầm của họ, thấy được cái tâm của người lănh đạo muốn có sự sửa chữa và khuyến khích họ làm tốt hơn,cho họ sự an ủi vỗ về để họ vẫn mến phục, thay v́ để họ có cảm giác bị lăng nhục thoá mạ, sinh ra niềm oán ghét, xa lánh và đi đến chống đối Chưa kể, người lănh đạo phải hiểu ḿnh cũng sai lầm, cũng cần học hỏi, biết nhận thức, hoà nhă với thuộc cấp, lắng nghe họ và cố gắng sửa chữa những lầm lỗi. Đến đây, cũng xin hỏi thử ông NGK một câu: ông đă cât công phê phán ,xét lại cả cá nhân và tập thể, từ người xưa đến người nay, cả anh hùng lẫn kẻ cùng đinh; vậy có bao giờ ông tự phê phán, xét lại ngôn ngữ và cách cư xử của chính ḿnh chưa? Cũng như nhiều người khác, tôi sẽ ủng hộ Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên (THDCDN) của ông hết ḿnh và đứng sau lưng ông, khi ông và tổ chức THDCĐN có một giải pháp rơ ràng khả dĩ thúc đẩy mau chóng các quyền tự do căn bản nhất cho nhân dân VN. Bước đầu, chỉ để đạt mục tiêu đơn giản ba Tự Do căn bản cho người dân thôi, thưa ông: Tự do sinh sống, tự do ngôn luận, tự do tôm giáo. Australia, Aug. 12, 2007 © DCVOnline |
| KINH-THUA : QUY DONG-HUONG VA UY-BAN PHAP-LY LE-PHUOC-TUAN&KELLY Kinh-Thua Quy Vi.Vu An Anh Le-Phuoc-Tuan,Mot lan nua,chung to,Co-Quan Tu-Phap Hoa-Ky,da coi thuong Cong-Dong Nguoi Di Dan.Ho da khong ton trong Hien-Phap Hoa-Ky,Ho da vi Quyen Loi rieng tu den tu CSVN,ma cha dap len Hien-Phap.Khi,Ho quyet dinh khoi to vu an,da la ap dat,bat cong doi voi mot Nguoi Di Dan roi,Dang nay,Anh Tuan lai chi la mot Nguoi Goc Viet,Cha von la mot Quan-Nhan Hoa-Ky,da tung tac chien tai Viet-Nam.Neu,truong hop nay,do mot Nguoi My Trang,co The Luc,Tien Tai,Lieu vu viec co bi truy-to hay khong? Hon the nua,Toa An da xu Anh,sau (06)thang tu,va Anh da thai hanh xong.Mot vu an,khong the bi xu nhieu lan ( mot toi danh ) Hoi cac Luat-Su Viet/American,Quy Vi dang o dau?Quy Vi hay lam mot chut gi cho Quyen-Loi,Cong-Ly,De,Dong-Huong con tin tuong vao Quy Vi. Cac To-Chuc Cong-Dong,Chung ta phai co thai-do,Doi hoi Quoc-Hoi,va Chinh Phu Hoa-Ky phai tra loi ve vu viec nay.Day khong con la ca nhan Anh Tuan nua,Ma se tro thanh Tien le,neu Cong-Dong khong cuong quyet, Neu can,co the to-chuc Bieu tinh truoc Bo Tu-Phap,Quoc-Hoi,Toa Bach-Oc. Kinh Chao Doan-Ket va Thang-Loi. VU - HOA |
| Giám Đốc Công Ty Đồ Chơi Trung Quốc Tự Tử 8/14/2007 Tin Bắc Kinh - Người đứng đầu công ty bị thu hồi gần một triệu sản phẩm đồ chơi trẻ em hồi tháng trước là ông Zhang Shuhong, đă treo cổ tự tử trong nhà kho hôm thứ bảy. Sự việc xảy ra vài ngày sau khi chính phủ Trung cộng tuyên bố tạm thời ngừng xuất khẩu sản phẩm của công ty của ông ta là Lee Der. 967.000 sản phẩm của công ty Lee Der đă bị công ty đồ chơi Fisher-Price thu hồi ở thị trường Mỹ hồi tháng trước v́ sơn dùng để sản xuất chúng có hàm lượng ch́ quá lớn. Trong gần một triệu sản phẩm bị thu hồi có những mặt hàng bán rất chạy như búp bê các nhân vật hoạt h́nh Elmo, Big Bird hay Dora được trẻ em nhiều nước ưa chuộng. Công ty cung cấp sơn cho Lee Der được cho là thuộc về bạn thân của ông Zhang. Một quản đốc có tên Liu cho biết ông Zhang đă bị chính bạn thân của ḿnh hăm hại. Theo những chuyên gia nghiên cứu, trẻ nhiễm độc ch́ có thể bị nôn mửa, mất trí nhớ, học hành kém. Nặng hơn, năo của các em có thể bị tổn thương, thậm chí dẫn tới cái chết. Cơ quan quản lư chất lượng Trung Quốc đang điều tra hai công ty nữa liên quan tới việc dùng chất nhuộm giả nhưng không cho biết chi tiết. Các công ty của Trung Quốc thường có một hệ thống dây chuyền sản xuất rất dài, gây khó khăn trong việc kiểm tra xuất xứ chinh xác của chất liệu. Cũng trong ngày hôm qua báo chí Trung cộng cho biết cựu chủ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố Tế Nam, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc, bị kết án tử h́nh v́ sát hại người t́nh. Cũng bị kết án tử h́nh cùng Duan Yihe là Chen Zhi, cháu rể của ông đồng thời là một sĩ quan cảnh sát. Họ Duan 61 tuổi, duy tŕ quan hệ ngoài luồng với người t́nh Liu Haiping, trẻ hơn ông 30 tuổi, kể từ năm 2000. Ông đă mua nhà cho người phụ nữ từng ly dị này và kiếm việc cho cô cùng họ hàng. Tuy nhiên, Duan dần trở nên mệt mỏi và muốn chấm dứt quan hệ với Liu v́ cô liên tiếp đ̣i thêm tiền. Liu cũng yêu cầu ông ly dị vợ và thậm chí dọa tố cáo ông. Nhận thấy khó thoát khỏi Liu và lên kế hoạch với người cháu rể là Chen Zhi để gây tai nạn giao thông nhằm làm mất khả năng suy nghĩ của Liu. Ông Duan khai rằng chính lỗi của Chen Zhi đă làm Liu thiệt mạng. Hôm 9 tháng 7, Chen Zhi cùng một người nữa là Chen Changbing đặt một quả bom tự tạo trong xe của cô Liu và kích nổ bằng thiết bị điều khiển từ xa khi Liu đang cầm lái. Vụ nổ khiến Liu chết ngay tại chỗ và làm hai người đi đường bị thương. Duan cũng bị buộc tội nhận hối lộ và đ̣i hối lộ 223 ngàn mỹ kim tiền mặt. Ông cũng không giải thích được nguồn gốc khối tài sản trị giá 171 ngàn mỹ kim. Ông này bị bắt hôm 16 tháng 7, bị cách chức và khai trừ khỏi đảng Cộng sản. Kẻ đồng phạm Chen Changbing lĩnh án chung thân. Bắc Kinh cũng loan báo việc một phóng viên truyền h́nh Trung Quốc vừa bị kết án một năm tù v́ đưa tin sai lệch rằng bánh bao có nhân bằng b́a cạc-tông. Anh Zi Beijia 28 tuổi, bị ṭa án Bắc Kinh kết tội xâm phạm uy tín hàng hóa. Phóng viên tự do này lĩnh án một năm tù và phải nộp 132 đô-la tiền phạt. Câu chuyện về bánh bao nhân b́a cạc-tông trộn hóa chất và mỡ heo mà Zi bí mật quay, khiến những mối lo về an toàn thực phẩm ở Trung Quốc tăng lên. Trong đoạn phóng sự truyền h́nh mà phóng viên này làm, có cảnh một chiếc bếp tạm bợ, vài nhân công hấp bánh bao có nhân là b́a cạc-tông được làm mềm bằng chất natri hydroxit và trộn cùng mỡ heo. Ṭa án kết luận Zi đă thuê 4 lao động nhập cư từ tỉnh Thiểm Tây làm bánh để quay phim. Số bánh bao đó sau đó được cho chó ăn. Đoạn phim được phát sóng lần đầu tiên trên đài truyền h́nh Đời sống của Bắc Kinh hôm 8 tháng 7 và sau đó trên đài trung ương. Đoạn video này cũng được tung lên YouTube. Ṭa án Hoa lục khẳng định Zi đă biên tập đoạn băng đó ở nhà và nói dối đài truyền h́nh Bắc Kinh để thăng tiến trong nghề nghiệp . Sau tin đó, cơ quan an toàn thực phẩm thành phố này đă kiểm tra hơn 20 hàng bánh bao dạo trên phố, thứ đồ ăn sáng rất phổ biến ở Trung Quốc, mà không t́m thấy loại nào sử dụng b́a cạc-tông. |
| các nước cs chuyêm phá hoại nhân loại là chanh chính 100% đề nghị bổ quốc phồng và cộng đồng thế giới lên án các nước cs cố t́nh gây thương tích cho loài người và cs luôn bao che cho các khủng bố thế giới về mọi mặt tiền và vật chất vv và vv chính tay của cs làm nên khủng hoạn thế giới ngày nay ! 16/8/2007 |
| Tường thuật và tố cáo của công dân Lư Thị Thu Duyên về việc công an Thành phố Sài G̣n ( Bộ phận An Ninh Chính Trị PA - 38 ) tổ chức lập trạm canh gác để kiểm soát hoàn toàn việc đi lại và sinh hoạt cá nhân của tất cả mọi người trong gia đ́nh tôi. Tôi là Lư Thị Thu Duyên, hiện ngụ tại số nhà 77/13B đường Trần B́nh Trọng, Phường 1, quận G̣ Vấp, TP Sài G̣n (TP.Hồ Chí Minh). Tôi xin thuật lại những sự việc đă xảy ra gây xáo trộn cuộc sống riêng tư của gia đ́nh chúng tôi, làm , ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín và danh dự của chị em tôi tại Khu phố nơi tôi đang cư ngụ. Những việc làm sai trái của công an Thành phố đă liên tục diễn ra trong 02 tháng vừa qua, tôi xin được tŕnh bày trung thực và hoàn toàn chịu trách nhiệm với nội dung như sau: * Thứ năm 14/06/2007 công an Thành púngài G̣n + công an quận G̣ Vấp đă thẩm vấn tôi suốt hơn 3 giờ đồng hồ tại đồn công an phường 1, nơi tôi cư trú. Với lư do cần làm rơ một số vấn đề có liên quan đến khiếu kiện (tôi có viết bài tường thuật về vụ việc này gửi lên mạng internet ngày 20.06.2007) buổi thẩm vấn đó bắt đầu vào lúc 8 giờ 30 và kết thúc vào lúc hơn 12 giờ trưa cùng ngày. * Sáng thứ bảy 16.06.2007 tôi phát hiện điện thoại không liên lạc được, tôi yêu cầu bưu điện quận G̣ Vấp đến kiểm tra, nhưng 02 ngày sau họ mới đến xem và trả lời rằng điện thoại và đường dây của gia đ́nh chị không hư rồi ra về ( lúc bấy giờ là 10 giờ sáng thứ hai 18.06.2007). Sau nhiều lần tới G̣ Vấp để hỏi về việc xin sửa Miếu thờ của gia tộc họ Lư không được cấp phép mà sẽ đưa vào diện nhà nước quản lư. Chị em tôi lại chờ đợi rồi lên quận G̣ Vấp lần thứ ba 29.06.2007 th́ gặp được các ông Kim Hiếu cùng các ông Đỗ Anh Khang phó pḥng quản lư đô thị, ông Trương Thanh Triều chánh văn pḥng tư pháp quận, ông Lê Thiền hội luật gia quận, ông Nguyễn Hữu Nghĩa phụ trách an ninh quận, ông Mai Đức Khôi Nguyên, ông Nguyễn Ngọc Hồng + bà Thu Hồng cán bộ quận buổi họp này không có biên bản nên không biết hết chức danh của các vị c̣n lại thuộc bộ phận nào. Sau khi nhận đơn cùng các giấy tờ hợp pháp khác do chị em tôi cung cấp họ chỉ trả lời miệng là đă hết trách nhiệm v́ đă có quyết định số 16 của quan tham cựu chủ tịch quận đang ở tù Trần Kim Long. V́ đă có quyết định số 3991 của ông Vũ Hùng Việt phó chủ tịch UBND Thành phố HCM và mới nhất là công văn số 8673 của ông Nguyễn Hữu Tín phó chủ tịch UBND Thành phố kư ngày 20.11.2006. Chị em tôi ra về c̣n được ông Trương Thanh Triều gửi theo nụ cười của kẻ tiểu nhân đắc chí cùng câu nói nhạo báng : “Gia đ́nh họ Lư này đi kiện bền quá”. * Thứ hai ngày 02.07.2007 tôi ra văn pḥng 2 của quốc hội vụ công tác phía Nam số 194 đường Hoàng Văn Thụ - Phường 9 - quận Phú Nhuận để tham gia biểu t́nh th́ mọi di chuyển của hai chị em tôi đều bị công an kiểm soát chặt chẽ ( Chẳng hạn cụ thể như khi tôi đi chợ, đưa cháu đi học, mua thức ăn sáng cho con họ đều bám theo sát gót từng ly một y như họ kèm tội phạm nghiêm trọng vậy. Tôi nghĩ giá như công an nhà nước của ĐCSVN mà kèm sát và theo dơi chặt bọn tội phạm tham nhũng ăn cướp, ăn cắp của công tốt như vậy th́ quốc nạn tham nhũng nước ta đă giảm nhiều lắm rồi chứ không lan tràn như hiện nay đến nhức nhối và xấu hổ thế này đâu !!!). Cùng thời điểm này chị Thu Trang phát hiện ra điện thoại bàn của gia đ́nh bị nghe lén và bị ngăn chặn cuộc gọi. Họ trắng trợn đến độ khi bạn của chị Thu Trang gọi đến từ Vũng Tàu để hỏi thăm sức khoẻ gia đ́nh và nhờ tư vấn về việc may mặc. Khi 2 chị đang tṛ chuyện với nhau họ đă ngắt liên lạc để kiểm tra cuộc gọi đến khi đường dây được rồi chị Trang nghe được họ thầm th́ với nhau: “Không có ǵ quan trọng gác máy đi ”. Thoạt đầu khi chị Trang kể lại tôi đă không tin công an lại làm những việc ŕnh ṃ nghe lén điện thoại của nhà ḿnh đến như vậy, v́ thực tế chúng tôi không làm ǵ vi phạm pháp luật. Chị em tôi là một trong số những người dân oan b́nh thường như bao dân oan khác đang đấu tranh đ̣i công lư và công bằng xă hội mà thôi. Thế đấy ở một đất nước mà không ngày nào họ không nói đến “nhà nước của dân, do dân và v́ dân ”, nhưng trên thực tế th́ không phải như vậy. Mà phải gọi cho đúng thực trạng hiện nay và không thể gọi khác đi được, đó là nhà nước của đảng CSVN và của công an, mật vụ, cảnh sát để ḱm kẹp và tước đoạt tự do dân chủ của nhân dân !!! Chuyện họ đặt máy nghe trộm điện thoại của gia đ́nh 2 chị em tôi chỉ là chuyện nhỏ “thường ngày ở huyện” mà thôi !!! * Chủ nhật 22.07.2007 Ba ngày sau cuộc cưỡng chế đàn áp dă man đêm 18/7/2007 và tôi cùng chị Vũ Thanh Phương tạm thời được thả ra sau 18 giờ đồng hồ liên tục bị thẩm vấn. Vào lúc 11 giờ 30’ có người bạn gọi điện thoại đến thăm hỏi và cuộc gọi đă bị chặn ngay lập tức. Tôi cho rằng thời tiết xấu nên việc liên lạc bị gián đoạn tôi kiên nhẫn chờ đợi bạn bè quan tâm gọi lại….nhưng đợi măi không thấy. * Thứ ba 24.07.2007 tôi thấy những nhà trong xóm điện thoại vẫn hoạt động b́nh thường. Tôi lại yêu cầu bưu điện quận G̣ Vấp nhanh chóng kiểm tra lại đường dây để khắc phục sự cố. Cũng như lần trước sau khi kiểm tra kỹ hơn, họ khẳng định với tôi điện thoại và đường dây không bị hư. Nghe đến đây tôi thắc mắc quá nên hỏi lại anh nhân viên nếu đường dây và máy đều hoạt động th́ tại sao các cuộc gọi đến và đi của số máy này thường xuyên không thực hiện được trong khi gia đ́nh tôi không nợ tiền cước phí bưu điện. Anh nhân viên này ấp úng trả lời không biết và ra về. Thứ tư 20 giờ 20’ ngày 01.08.2007 có người bà con Hoa Kỳ gọi về hỏi thăm việc tôi bị công an Cộng Sản bắt giam do họ đọc báo thấy đưa tin. Chị Thu Trang tṛ chuyện khoảng 20 phút th́ cuộc gọi lại bị ngắt không liên lạc được. * Thứ sáu 03.08.2007 khoảng 14 giờ 30’ tôi cùng một số bà con dân oan khiếu kiện các tỉnh B́nh Thuận, Bến Tre, Đồng Tháp độ khoảng 30 người xuất phát từ số 210 đường Vơ Thị Sáu và đi ra trung tâm Sài G̣n. Thấy thế lực lượng công an Cộng Sản Việt Nam lại huy động lực lượng hùng hậu ra kéo rào ngăn chặn người dân oan không cho bà con đi qua đường Lê Thánh Tôn và Nguyễn Huệ khi bà con hỏi tại sao tất cả mọi người dân đều có quyền đi lại trên những con đường này riêng chúng tôi th́ không được. Công an nói rằng riêng dân khiếu kiện th́ không được phép. Bởi chính quyền trong tay họ nên đă tự cho phép ḿnh cản trở quyền tự do đi lại của công dân thế nào cũng được rất tùy tiện và vô luật pháp… * 09 giờ sáng thứ bảy 04.08.2007 ông Tỉnh cảnh sát khu vực + 2 công quận G̣ Vấp thuộc bộ phận an ninh chính trị đội mưa đến nhà tôi vận động chị em tôi không nên ra đường biểu t́nh nữa, và hăy ở nhà chờ chính quyền giải quyết chớ nghe lời kẻ xấu sẽ nhận lănh hậu quả không tốt ảnh hưởng đến lư lịch của con em về sau. Trước những lời nói mang tính chất đe doạ của công an tôi trả lời ngay: “ Các ông không cần phải đem việc tù tội ra để hù doạ chúng tôi có giỏi th́ đi mà bắt sạch bọn chính quyền tham những đă tước đoạt tài sản mồ mả của gia tộc tôi suốt 32 năm qua, dân oan chúng tôi v́ bị áp bức bất công nên tự đứng lên đi đ̣i công lư phải được thực thi, những quyền căn bản của con người đều được hiến pháp VN và công ước quốc tế công nhận, các ông giả vờ không biết tiếp tay cho bọn tham nhũng, bọn ăn cướp đấy nhé ”. * Chủ nhật 05.08.2007 15 giờ chiều tôi phát hiện có 02 an ninh mật vụ ngồi ở quán cà phê cóc sát vách miếu thờ của gia tộc họ Lư đối diện cổng rào nhà tôi và cánh cửa rào vào nhà 3 m và theo dơi sát sao mọi cử động của chúng tôi. Kể cả từ việc nhỏ cho đến việc tôi quét sân miếu thờ và hót rác họ cũng không bỏ qua. Đến 20 giờ họ đổi ca gác, tôi ghi được số xe của 2 người ngày như sau: Người thanh niên mập trắng c̣n rất trẻ khoảng 25 tuổi đi xe máy hiệu Atila Victoria màu đen bảng số 51 - VH V4 – 1486, người c̣n lại gầy hơn nước da ngăm khoảng 30 tuổi đi xe Draem biển số 53 V4-0770 . 18 giờ chị Trang đi làm về và bảo rằng đă thấy họ ngồi đấy từ sáng sớm. 20 giờ cùng ngày th́ đổi ca, người mới đến mặc áo gió lùng thùng đội nón kết che kín mặt đi xe Draem biển số 50 V1-2752 22 giờ họ lại đổi ca gác tôi không thấy rơ bảng số xe và cũng không nh́n rơ mặt anh này v́ đường đèn không đủ sáng mà họ lại cố t́nh lẩn vào bóng đêm không muốn tôi nh́n thấy mặt. Lúc 00 giờ 00 trước khi đi ngủ tôi nh́n ra cửa sổ trên gác và thấy rằng họ đă đổi người khác. Như vậy là cả 1 ngày nay họ đă đưa điều 21 khoản b trong “Luật an ninh quốc gia” để đối phó với chị em tôi, những người phụ nữ tay yếu chân mềm tŕnh độ văn hoá hạn chế. Chỉ v́ đ̣i quyền được đối xử công bằng mà bị liệt vào danh sách đối tượng có khả năng gây nguy hại đến cái gọi là “nền an ninh quốc gia”, th́ đây là chuyện cười hiện đại của Việt Nam thật mỉa mai và đáng xấu hổ quá đi mất !!! * 8 giờ 30’ sáng 06.08.2007 Trung uư Minh đến nhà tôi lấy hồ sơ khiếu kiện để làm báo cáo. Tôi hỏi thẳng anh Minh việc công an cắm chốt trước cửa nhà tôi gây xáo trộn cuộc sống riêng tư của gia đ́nh chúng tôi, làm cho các cháu nhỏ khiếp sợ và kinh hăi khi thấy nhiều người lạ mặt cứ ngồi trước cổng nhà và nh́n chằm chặp vào chúng mỗi khi chúng ra sân chơi. Anh Minh trả lời “tôi không biết” và ra về. 10 giờ sáng chị em tôi đến số 210 đường Vơ Thị Sáu và gặp ngay anh Công thuộc bộ phận PA 38 công an Thành phố. Tôi nói cho anh này biết việc công an cắm chốt trước cửa nhà tôi và yêu cầu họ chấm dứt ngay hành vi gây thiệt hại đến danh dự và uy tín của chúng tôi. Nếu vẫn không dừng lại tôi sẽ làm đơn tố cáo. Anh Công né tránh và nói rằng “ hông biết việc đó ” Ngày 07.08.2007 người hàng xóm gần nhà qua hỏi thẳng mẹ tôi về việc công an canh gác nhà tôi hôm trước, bà c̣n nói rằng nghe một số người trong xóm nói lại chị em tôi làm ǵ đó phạm pháp nên bị công an thành phố bắt nhốt mấy ngày, may nhờ có ông cảnh sát khu vực và tổ trưởng tổ dân phố ra làm giấy bảo lănh th́ công an mới thả ra !!!??? Thật là sự xuyên tạc và vu cáo rẻ tiền hết mức !!! Tôi phải cố gắng giải thích cho bà này hiểu việc làm của chị em tôi không vi phạm pháp luật. Chính quyền cộng sản đă tước đoạt tài sản hợp pháp của gia tộc tôi, nay lại mượn tay công an để bôi nhọ và xúc phạm đến danh dự chị em tôi, tôi yêu cầu họ đứng ra làm chứng giúp bằng cách kư tên xác nhận những việc mà họ đă nghe và thấy trong ngày hôm đó để tôi viết đơn tố cáo công an nhưng họ không dám làm chứng v́ sợ bị công an và chính quyền trả thù. * Thứ tư 08.08.2007 chị em tôi ra văn pḥng số 210 đường Vơ Thị Sáu và công an thành phố lại lẽo đẽo đi theo ŕnh ṃ khi hai chị em tôi đi bộ đến quán nước gần đấy. * Thứ năm 09.08.2007 chị Thu Trang tôi đă cắt được đuôi của công an khi chúng tôi trên đường về nhà và ghé vào nhà sách chị em tôi chỉ muốn đùa vui với họ v́ thấy nghiệp vụ của họ c̣n non kém quá, v́ vậy việc bắt giữ người trái phép và xét xử oan sai là việc xảy ra thường xuyên. Cũng bởi v́ phương châm của họ là thà bắt lầm chứ không bỏ sót. * Thứ sáu 10.08.2007 Hôm nay, ông Tư công an bộ đến thăm hỏi tôi với thái độ rất ôn hoà và nhă nhặn, ông hỏi thăm con và các cháu tôi đă được bao nhiêu tuổi và đang học trường nào ở G̣ Vấp. Tôi trả lời con tôi không được đến trường như những trẻ b́nh thường khác điều đó các ông biết rơ hơn ai hết, nếu cháu được đi học tôi cũng không cho học ở G̣ Vấp v́ chính quyền quận này chỉ chực chờ ai có quan hệ họ hàng hoặc dính líu đến họ Lư th́ sẽ t́m mọi cách để trù dập ngay. Từ lúc tham gia kư tên ủng hộ phong trào dân chủ của Khối 8406 tôi ư thức được những việc làm chính đáng của ḿnh sẽ bị họ t́m cách trả thù v́ tôi đă dám nói lên sự thật. Tôi đoán biết việc họ đe doạ cho tôi đi tù nếu vẫn viết bài đưa lên mạng internet và việc này họ đă không thành công, tiếp theo có thể họ sẽ t́m cách bắt cóc con và các cháu của tôi để gây áp lực y như bọn khủng bố Hồi Giáo Cực đoan đă tiến hành bắt cóc các con tin ngoại quốc ở I Rắc hay Ápganixtan.... ḥng dập tắt sự đấu tranh quyết liệt của chúng tôi. Việc này họ cũng đă tiến hành như họ đă làm với kỹ sư Đỗ Nam Hải khi dùng áp lực gia đ́nh để buộc anh phải viết giấy tạm rút tên ra khỏi phong trào đấu tranh dân chủ hồi tháng 3/2007 vừa qua. Nhưng tôi kiên quyết đấu tranh đến cùng, ngày nào đất thật sự có Tự do Dân chủ, Nhân quyền th́ dân oan mới thoát khỏi cảnh lang thang đói rách, con cháu chúng ta sẽ được học hành tử tế và sống trong hạnh phúc ấm no thật sự . Ngày 14/07/2007 Người viết tố cáo đă kư tên Lư Thị Thu Duyên Số nhà 77/13, đường Trần B́nh Trọng, Phường 1, quận G̣ Vấp –Thành phố Sài G̣n |
| Phóng sự bà con Tiền Giang khiếu kiện: Gặp lại đồng bào! [VI] Chính trị - xă hội Ái Sản H́nh người phụ nữ Bến Tre mà tôi phỏng vấn (h́nh do chính bác cung cấp) "Chết rồi tôi vẫn đội đơn đi khiếu kiện" Người phụ nữ Bến Tre mà tôi được gặp là nạn nhân trực tiếp của cuộc chiến mà Đảng Cộng Sản Việt nam gọi là chống Mỹ cứu nước. Bác đă bị chính bom đạn năm 1968 cướp đi một chân. Chiến tranh cũng cướp đi của gia đ́nh bác ba người bên phía cách mạng và một người bên phía quốc gia… Những tưởng ba liệt sĩ sẽ phù hộ cho bác có cuộc sống tốt đẹp, nhưng đất đai đă làm mờ mắt những người lănh đạo từ xă Mỹ Ḥa, huyện Ba Tri cho đến Tỉnh ủy Bến Tre, khiến cho bác lâm vào cảnh lang thang khiếu kiện. Nhưng, trong phần trả lời của ḿnh, bác c̣n cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở đất đai, mà c̣n ở những khía cạnh khác của quyền lợi, di chứng của sự chia cắt hai miền. Cũng như Cựu thủ tướng Kiệt nói: "thời chiến có gia đ́nh vừa có người ở bên này, vừa có người ở bên kia". Và gia đ́nh bác là một trường hợp như vậy. Cuộc phỏng vấn được thực hiện với một người dân Bến Tre, có lẽ phương ngữ Bến Tre nói riêng và vùng Tây Nam Bộ nói chung sẽ làm cho các bạn khó nghe một chút, đặc biệt các bạn ở nước ngoài khá lâu. Tôi đă lược đi những khẩu ngữ, những cách nói đặc biệt của người Bến Tre để chúng ta có thể hiểu được chính xác những ǵ mà người phụ nữ này đă nói. Tôi cũng có lược đi một phần bác nói về gia cảnh cũng như những chuyện không hay trong gia đ́nh… Bác mở đầu câu chuyện bằng hành tŕnh đi khiếu kiện! "Tôi đi khiếu kiện từ năm 2001, tôi nộp đơn ở xă, rồi xă trả lại cho tôi một công bảy (1,7 công đất - Phóng viên), nhưng địa chính tỉnh xuống đo th́ chỉ c̣n có 1,3 công. Sau đó tôi tiếp tục nộp đơn, nhưng xă bác đơn tôi, rồi đưa qua huyện. Ông Đỗ Minh Đức ra quyết định không trả (đất) cho tôi nữa, tôi mới làm đơn lên tỉnh Bến Tre chống lại quyết định. Nhưng họ nói không trả cho tôi nữa, họ bảo tôi lên Trung ương mà thưa. Tới năm 2006, tôi ra Hà Nội, gặp bác Xí, bác Xí bảo bà con Bến Tre đáo về 210 Vơ Thị Sáu làm đơn đi. Chúng tôi nghe lời bác Xí, về 210 Vơ Thị Sáu, nằm ở đó đă rồi bác Xí vào. Bác Xí bảo phải làm đơn ngắn gọn lại, rồi bác Xí vào giải quyết. Sau đó, bác Xí vào tỉnh Bến Tre ba ngày, mời bà con lên rồi nói: “Đất của bà con đ̣i bây giờ đi ra biển lấy, chứ giờ không có đất đâu trả cho bà con hết”. Chúng tôi về, rồi lại kéo lên 210 Vơ Thị Sáu gặp bác Xí, bác Xí bảo: “Trả cho bà con như thế là hết rồi, để chờ ra công văn”. Rồi ông Lê Tiến Hào, thanh tra nhà nước không ra đối thoại với dân, không gặp mặt dân, ông ra công văn bác đơn chúng tôi, (buộc) chấm dứt khiếu kiện. Thành ra chúng tôi bức xúc, cứ kéo lên 210 Vơ Thị Sáu, nhưng ở đây bảo: "không nhận đơn dân Bến Tre". Tôi mới hỏi lư do tại sao không nhận đơn nữa. Ông Ninh (phụ trách tiếp dân ở 210 Vơ Thị Sáu) nói dân Bến Tre th́ không nhận đơn nữa, trả vậy là xong rồi. Chúng tôi đáo về tỉnh, tỉnh bảo là giải quyết vậy là xong rồi, bà con không đi đâu được nữa, chấm dứt khiếu kiện. Nhưng chúng tôi bức xúc. Đất này do ông bà chúng tôi để lại, đưa vào tập đoàn (tức Hợp tác xă - PV), sau khoán lại cho tôi là 3,6 công. Tôi đi đ̣i riết th́ trả thêm, tổng cộng 8 công. C̣n của tôi hơn hai mẫu nữa. Tôi đ̣i nữa th́ không trả… Hoàn cảnh nhà tôi mẹ giá con côi, nhà th́ hưu hao… xă th́ bảo là không trả nữa. Năm 2006 tôi lên 210 Vơ Thị Sáu đi kiện, mang theo h́nh Bác Hồ, đi khắp thành phố. Khi về địa phương nó quản thúc tôi 6 tháng. Tiền vay bạc hỏi tôi đi khiếu kiện, ở nhà con tôi không có ǵ ăn nó mới sinh ra ăn cắp vặt. Bị bắt, rồi bị đưa (kết án - PV) 21 tháng tù… Giờ tôi yêu cầu các cấp ban ngành, Thủ tướng, Nhà nước trả đất cho tôi để mẹ con tôi có cơm ăn áo mặc như người ta thôi chứ tôi không đ̣i hỏi ǵ hết. Bây giờ, ông Hồng, chủ tịch huyện Ba Tri, cũng như ông Nguyễn Quốc Bảo, Phó chủ tịch tỉnh Bến Tre đều nói không trả đất cho chúng tôi nữa. C̣n ông Truyền (tức Trần Văn Truyền, hiện là Tổng Thanh tra) trước đây là Bí thư tỉnh ủy Bến Tre, đất đưa vào tập đoàn là ông ấy biết. Chính phủ có chi về 90 tỉ để trả cho nhân dân chúng tôi, nhưng ôn Truyền không chi trả, rồi sau đó ra ngoài Bộ Nông nghiệp xin thêm 30 tỉ nữa, tổng cộng là 120 tỉ, nhưng về không trả cho nhân dân chúng tôi, để cho nhân dân tỉnh Bến Tre chúng tôi đi lang thang đầu đường xó chợ. Đi kêu oan mà không thấy ai cứu hết. Tôi yêu cầu ông Nguyễn Tấn Dũng, ông Nguyễn Minh Triết về Bến Tre để giải quyết cho chúng tôi, th́ tôi thành thật cám ơn mấy ông lắm. Dân Bến Tre bây giờ đi đến đâu cũng không ai nhận đơn. Mới đây (chúng tôi) gây lộn với ông Ninh nữa, vô nộp đơn th́ ông Ninh không nhận đơn, chửi bới tụi tui, rục đơn tụi tui, qua bữa sau ổng rục đơn dân B́nh Thuận, dân B́nh Thuận uưnh (uưnh) ổng… Dân chúng tôi bây giờ vay tiền vay bạc đi riết rồi nghèo khổ, bán đất bán nhà đi riết mà chẳng ai quan tâm hết. Dân chẳng biết kêu ai hết th́ kêu Quốc hội, ông Nguyễn Minh Triết, ông Nguyễn Tấn Dũng cứu dân…" Mấy hôm nay người dân khiếu kiện sống thế nào? "Bây giờ dân chúng tôi người vay nhiều người vay ít lên đây đi khiếu kiện, ăn cơm với muối tiêu, có tiền th́ mua hộp cơm 7 ngàn, c̣n không th́ mua cơm không ăn với muối tiêu, ăn ngày một bữa có, ngày 2 bữa có… Đi ngủ nhà trọ. Chủ nhật, thứ Bảy, 210 Vơ Thị Sáu không cho ở, đem xe đuổi tụi tui, ra nhà ga (ga Sài G̣n) th́ bảo vệ đuổi, ra nhà trọ th́ nhà trọ chỉ chứa ban đêm, ban ngày không chứa. Chúng tôi xách giỏ đi lang thang đầu dường xó chợ, đi góc này ngồi, đi góc kia ngồi, riết rồi nhà trọ cũng không cho ở nữa… Chúng tôi đi ra xa cảng (nơi nhạc sĩ tài hoa Trúc Phương, tác giả ca khúc Thói đời, đă từng lang thang - PV) ngủ, rồi ra Thủ Đức, ngủ bờ ngủ bụi… để chờ ngày kết quả thành công của Thủ tướng đưa về." Về gia cảnh, bà cho biết: "Nhà tôi bên ngoại có 3 cậu hy sinh trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, một người th́ đi lính (tham gia lực lượng quân đội VNCH). Nhưng xă bảo phải họp hội đồng lại xem có cho bà cúng không. Nhưng bây giờ ông bà tui tuyệt tự, chẳng lẽ tôi không cúng được sao mà để Phan Văn Diên, chủ tịch xă Mỹ Ḥa phải xem được hay là không?... Tư Diên không cho tôi cúng là để tôi không được hưởng chế độ, chính sách. Gia đ́nh tôi nghèo, tôi lại tàn tận, nhưng từ hồi tiếp quản đến giờ, tôi chưa hề nhận của nhà nước này một đồng 200 rách nào cả. Giờ đất cát bị lấy hết, Tư Diên bảo tôi là: bà đi đến chết cũng không trả cho bà. Vậy số đất này sẽ đi về đâu? Đất của tui sao không trả tui để tui đi lang thang thế này? Giờ kêu tôi ở nhà đi, chấm dứt khiếu kiện rồi sẽ xây cho cái nhà t́nh thương t́nh nghĩa ǵ đó, giá 7 triệu. Nhưng tôi không nhận, không phải tui phụ bạc đồng tiền của nhà nước, nhưng mà tui yêu cầu trả đất cho tui sống, mẹ con tui có cơm ăn áo mặc… Gia đ́nh tui có một căn (nhà) cũng xiêu rồi, tôi đợ (cầm - PV) hết một căn rồi (nói đến đây, người phụ nữ nghẹn ngào - PV) không có tiền chuộc, giờ tui không biết làm sao để sống, với có tiền để trả nợ. Giờ tui yêu cầu nhà nước trả đất lại cho mẹ con tui sống, đặng (để, hoặc được - PV) có cơm ăn áo mặc thôi chứ tui không đ̣i hỏi ǵ hết… Con tui vay nhà nước 15 triệu, nợ ngoài 15 triệu. Tui đă phải bán 1,3 công đất, cầm căn nhà một cây vàng, giờ người ta không cho chuộc, người ta đ̣i 70 triệu. Giờ tui mong được trả đất lại, bán 1, 2 công chuộc nhà lại để lấy chỗ thờ phượng ông bà tui được rồi chứ tui không đ̣i hỏi ǵ hết!" Về t́nh h́nh khiếu kiện hiện nay bà cho biết: "Từ hồi tụi tui đi đến nay văn pḥng chính phủ ở 210 Vơ Thị Sáu này trốn hết, không nhận đơn. Bữa nay trong ṿng một tuần tụi tui quậy th́ có nhận đơn, nhưng bảo là nhận đơn tập thể chứ không nhận từng đơn, để về tŕnh thủ tướng. Nhưng có tŕnh hay không th́ tui không biết. Tụi tui làm dữ, đ̣i xuống đường, thành ra mới nhận đơn tụi tui, chứ từ hồi nào tới giờ tụi tui đi đơn cũng nhiều lắm nhưng các cơ quan cứ đóng cửa không nhận… Dân Bến Tre hôm ở Quốc hội (tức Văn Pḥng 2- PV) là 112 người, từ hôm bữa 3 tây đến nay là 50 người, giờ về th́ c̣n bốn mấy người. Mấy người về để vay tiền tiếp tục lên nữa. Khi đi tui vay 600 ngàn, giờ tui cũng c̣n 2 trăm mấy à! Hết th́ lại về hỏi nữa, đặng lên trực tiếp để chờ thủ tướng có giải quyết thế nào không, rồi mới về. Tỉnh lên rước bảo về để xem xét, đối thoại, nhưng đơn từ của chúng tôi đâu có c̣n ǵ để xem xét, đối thoại. Bây giờ yêu cầu trả cho tụi tui tụi tui mới về, c̣n không th́ tụi tui tiếp tục xuống đường kêu oan. Hôm rồi Quốc Bảo, phó chủ tịch tỉnh gởi thư, lên mời nhưng tụi tui cũng không về. Tụi tui bảo giờ cứ trả đất th́ tụi tui về, c̣n không th́ chúng tôi không về. Tối đem xe rước về th́ tụi tui cũng chạy tản lạc hết. Khi tụi tui về th́ không gặp ai hết, chỉ có công an mời tụi tui ra làm việc thôi. Họ hỏi đi lên đó đi hồi nào, ở đâu, có ai cho tiền không. Tui nói có ông nhà sư cho tỉnh Bến Tre 20 triệu, chia ra mỗi người được 300 ngàn, nhiêu đó thôi chứ ǵ nữa th́ tui không biết. Hỏi tới hỏi lui cũng nhiêu đó thôi. Yêu cầu tui chấm dứt khiếu kiện, tui nói quyền lợi của tui chừng nào trả tui mới thôi, không trả tui tiếp tục đi hoài. Mấy anh công an cũng khuyên thôi nằm ở nhà chờ thủ tướng ra lệnh xem có trả cho bà con không chứ bây giờ bà con đi tiền th́ hết, mà thủ tướng chưa có trả lời. Tui trả lời là: tiền vay bạc hỏi tui vẫn đi, đi chừng nào mà thủ tướng kư giấy trả tụi tui tụi tui mới không đi nữa Giờ tui đi, tui khóa cửa lại. Thằng con lớn chiều chiều nó ghé qua thắp hương, thằng nhỏ th́ ở tù năm 18 tuổi, chiều nào mưa th́ nhang tàn khói lạnh..." Bác có tin là ḿnh sẽ lấy lại được đất không? "Giờ ḿnh cũng đi tới đây chắc cũng hy vọng chính phủ xem xét trả lại, đó là điều hy vọng nhất. Nhưng cũng không biết là có trả hay không, tới đâu hay tới đó. Mấy hôm nay ngủ ở ga xe lửa, nhưng rồi cũng không cho, mướn nhà trọ. Hôm bữa mấy ông công an lại xét nhà trọ rồi cái ông nhà trọ mới đầu chịu 10 ngàn/người, th́ hai phong hai mươi mấy người nằm chật ních cũng ráng nằm, bây giờ ổng tăng 15 ngàn/người, thành ra nhân dân chúng tôi không có tiền. Hôm thứ 7 quay lại 210 Vơ Thị Sáu th́ công an không cho ở, chúng tôi lên xe ra xa cảng ở hai ngày… Nếu bây giờ tỉnh lên khuyên về th́ phải kư giấy trả lại đất, nếu không tui nằm chờ thủ tướng. Có lần ông Nguyễn Việt Thành đưa tụi tui về tận tỉnh, nhưng ông Cao Tấn Khổng không ra tiếp tụi tui, tụi tui kêu riết th́ ổng ra mở cửa hội trường, mời dân vô rồi ổng chửi. Ổng nói ổng đang tiếp nước ngoài mà bà con phá ổng, để cho ổng tiếp nước ngoài mần (làm - PV) ăn. Cha mẹ ổng sanh ra ổng, dạy ăn dạy nói dạy gói dạy xách, cha mẹ mấy bà đẻ mấy bà ra không biết dạy mấy bà… Ổng chửi một hơi vậy ổng phóng cửa ổng chạy ra. Nhân dân chúng tôi mới đi ra ngoài sân, la lên chửi lại ổng, kêu oan th́ công an mấy chục người chạy lại, năn nỉ chúng tôi thôi bây giờ về đi rồi bữa sau lên… Ông Quốc Bảo ra năn nỉ: lỗi này do Quốc Bảo th́ để Quốc Bảo nhận, rồi tới đây th́ đi xem xét từng hộ. Từ ngày Quốc Bảo và Cao Tấn Khổng lên đến nay th́ cũng không xem xét đơn. Ông Tư (tức tướng Nguyễn Việt Thành) ba lần đưa dân về tỉnh bảo xem xét cho dân nhưng mà tỉnh không nghe lời. Năm 2006, tụi tui lên nữa th́ ông Tư qua, ổng bắt tay từng người, đăi tụi tui bữa cơm. Ổng nói bây giờ bà con nghe lời tui về đi, tui tới đây giúp đỡ cho bà con, nếu bà con không về th́ tui không giúp. Nhân dân Bến Tre chúng tôi nói: tụi con không về, ông Tư! Nhưng thấy ông Tư nói quá, cũng tội nghiệp, nên chúng tôi lên xe về. Qua bữa sau, ông Tư cho lính xuống xem Quốc Bảo và tỉnh Bến Tre tiếp dân như thế nào. Từ hồi ông Cao Tấn Khổng lên, lần ổng ra ổng chửi dân đó dân mới gặp, sau này ông Tư đưa về ổng mới chịu ra. Nhưng vẫn cái chữ “xem xét” đó. Giờ chúng tôi lên đây chờ đoàn chính phủ thanh tra vào xem xem có giải quyết ǵ cho chúng tôi không, tới đâu hay tới đó. Chứ về tỉnh, tỉnh không tiếp, cứ cho công an mời tới mời lui làm việc. Tụi tui cũng nói thẳng (với mấy anh công an-PV) bây giờ mấy anh khuyên th́ tụi tui cũng mang ơn, nhưng mà v́ quyền lợi của tụi tui, tụi tui vẫn đi. Giờ quyền lợi mất hết tụi tui đi cũng chỉ đ̣i trả đất thôi chứ tụi tui không làm ǵ hết. Cuộc khiếu kiện này kéo dài th́, nói thật, chúng tôi tiền vay bạc hỏi, bán nhà bán cửa cũng phải đi đ̣i được cái số đất này thôi, chứ không bỏ cuộc, chết cũng đi đ̣i. Chết rồi, xuống dưới ấy rồi cũng đi đ̣i nữa. Mấy thằng tham nhũng tôi bắt hết trơn à… Ḿnh cũng v́ nó mà ḿnh mới đau khổ, ḿnh mới đói khổ ḿnh chết. “Mầy không trả cho tao chết xuống dưới vẫn đội đơn đi khiếu kiện”. Giờ quá khổ rồi, không biết làm ǵ hơn, th́ tui nói vậy đó, chứ giờ chẳng c̣n cách nào. Cứ tỉnh đổ thừa huyện, huyện đổ thừa xă… Ông Cao Tấn Khổng ổng đăng báo bảo tháng 6 này giải quyết dứt điểm cho bà con nhưng rốt cuộc cũng không giải quyết." Khi được hỏi có muốn nói ǵ với ông Tư Thành, Ông Ba Dũng, Ông Sáu Phong, ông Trần Văn Truyền… bà bất chợt trở nên hiền hậu: "Ông Tư có cho số điện thoại, nhưng gọi ra mấy lần rồi mà không gặp ông Tư, cũng muốn ông Tư giúp đỡ, v́ nghe nói ông Tư về pḥng chống tham nhũng. Đơn từ tụi tui ông Tư biết quá sá rồi, cũng kêu cứu ông Tư giúp chúng tôi. Ông Tư Thành này rất tốt. Hồi ổng c̣n làm trong này ổng thương dân mến nước dữ lắm, nhưng về tỉnh tỉnh không nghe. Ông Truyền th́ hồi trước ổng làm bí thư tỉnh ủy Bến Tre, sau đó không biết sao ổng bị sa thải về Hà Nội. Vừa rồi ứng cử, ổng kêu: bà con bỏ thăm (cho ổng) trúng cử đi rồi ổng giúp đỡ bà con, nhưng ổng ứng cử rồi, ổng lên đăng báo với thủ tướng là đă trả đất cho bà con hết rồi, nhưng ổng không trả ai hết. Sự thật là dân chúng tôi chưa được trả đất. Giờ yêu cầu thủ tướng xem xét lời nói của ông Truyền, cho thanh tra đối thoại với dân tỉnh Bến Tre, xem ông Trần Văn Truyền, tổng thanh tra nói vậy đúng hay sai, nếu dân nói sai đem ra bắn bỏ, c̣n cán bộ sai th́ nhờ thủ tướng. Vậy thôi! Tôi chưa gặp tận mặt, nhưng nghe nói ông Nguyễn Tấn Dũng với ông Nguyễn Minh Triết cũng lo cho dân, cũng kêu các tỉnh lo cho dân, trả đất cho dân, nhưng các tỉnh nó không làm vậy. Giờ tui yêu cầu ông Nguyễn Tấn Dũng, ông Nguyễn Minh Triết cho thanh tra về gặp dân Bến Tre, đối thoại xem dân nói sai hay nói đúng. Giờ yêu cầu ông Nguyễn Tấn Dũng và ông Nguyễn Minh Triết giúp đỡ chúng tôi, trả đất lại cho chúng tôi. Nếu không th́ phải trả bằng tiền cho dân sống. Quốc Bảo và tỉnh Bến Tre ép chúng tôi quá, giờ chúng tôi kêu nài mấy ổng giúp cho để chúng tôi có cơm ăn áo mặc…" Sáng nay, 16-8, tôi đến thăm đồng bào. Tối qua, tôi đă quyết tâm phải chụp cho bằng được vài tấm h́nh để củng cố hơn nữa những bằng chứng về đồng bào khiếu kiện. Tôi chợt nhận ra rằng: cần phải bạo dạn hơn một tí... Thuyết phục người bạn cho mượn máy chụp h́nh xong, tôi vạch ra kế hoạch để có thể tiếp cận đồng bào, và may mắn, tôi đă thành công... Mới sáng sớm, nhưng đồng bào ở đây đă phải thức giấc. Tôi hỏi v́ sao, đồng bảo trả lời rằng: cả đêm cũng chẳng ngủ được... Mấy nay hết tiền rồi, không thuê nhà trọ được, ngủ đại ở đây, ai đuổi mặc kệ. Cả đêm, xe tải chạy qua rầm rầm... khói, bụi, c̣i, ánh đèn khiến nhiều người không ngủ được... Tội nghiệp nhất cho đứa trẻ. Mới có 8 tuổi đầu đă phải theo cha mẹ, ông bà đi khiếu kiện... Không biết em sẽ ra sao, nhưng nếu cứ mất ngủ, không ăn uống đầy đủ thế này, làm sao em lớn nổi, làm sao em có tuổi thơ giữa không khí "ngột ngạt" này? Một số người đêm qua khó ngủ, đến bây giờ mệt quá, thiếp đi một tí để lấy sức lát nữa chờ đợi... Có một chị người Quy Nhơn mới vào đây từ đầu tuần... Chị viết những lời tố cáo lên áo, lát nữa đây, chị sẽ "xoay ṿng, biểu diễn thời trang" (như lời chị nói) cho mọi người xem. Đọc vội, tôi thấy ḍng chữ: "Quy Nhơn, tham nhũng, cướp đất, đánh người". Xem ra đợt khiếu kiện này sẽ lan rộng... Chỉ tính riêng ngoài lề đường, không tính trong hẻm 210, đă có khoảng 50 người, chủ yếu là người già và phụ nữ, đang tập trung. Các bạn nh́n xa xa sẽ thấy người phụ nữ chống nạng... đó chính là đồng bào Bến Tre mà tôi đă gặp phỏng vấn hôm kia. Đồng bào thấy tôi nấn ná hơi lâu liền nói: Con đi đi, không có tụi nó đến giật máy bây giờ... Tôi nghe lời đồng bào, trở về bót h́nh lên đây cho các bạn. Giá như có một phép màu... Tôi vẫn ước như thế! |
| TRANH DAU DOI CONG-LY CHO ANH LE-PHUOC TUAN,DO,CHINH LA BAO-VE,DANH-DU, QUYEN LOI CUA NGUOI VIET HAI-NGOAI VAY... QUY VI LUAT-SU DOAN NGUOI MY GOC VIET DANG LAM GI? DE HO-TRO CHO CONG-LY? HAY CHI LA MOT TO-CHUC HUU DANH VO THUC??? TRAN - TON - TAM |
| Nhạc hội tŕnh diễn ca sĩ từ Việt Nam: Chống hay không chống ? - Cao Chánh Cương - Các đại nhạc hội tổ chức tại hải ngọai do các ca-sĩ từ Việt Nam tŕnh diễn đă tạo nhiều tranh luận trong cộng đồng người Việt hải ngoại. Một số người cho rằng các ca sĩ nầy ra hải ngoại hát chỉ để kiếm tiền v́ nghèo khó ở Việt Nam, họ không phải là VC hay người của chính phủ Hà Nội gởi ra nước ngoài. Vả lại chúng ta có bằng chứng ǵ các ca sĩ từ nầy là cán bộ giao lưu văn hóa của CSVN không? Tại sao chúng ta chống họ? Tŕnh diễn ca nhạc là một nghệ thuật thể hiện văn hóa dân tộc phục vụ cộng đồng người Việt Nam, lư do nào chúng ta lại ngăn cấm, chống đối họ ? v.v... Bài nầy hy vọng sẽ được giải bày thắc mắc đă nêu ra. Ca sĩ từ Việt Nam có phải là Việt Cộng không? Sự thật không ai cho rằng các ca sĩ từ Việt Nam tŕnh diễn ở hải ngoại là Việt cộng, nhưng cũng không ai dám quả quyết họ là những người không bị chính phủ Hà Nội lợi dụng hay có thể thi hành sứ mệnh giao lưu văn hoá của CSVN, v́ trong quá khứ họ đă làm? Tuy nhiên, một sự kiện biết chắc là qua Nghị quyết 36 (Xin đọc thêm NQ-36 bên dưới), bộ chính trị trung ương đảng CSVN, trong đó có một điều khoản đă chỉ thị các cơ quan chính phủ và Ủy ban người Việt nước ngoài thi hành gởi các đoàn ca nhạc văn hóa nghệ thuật (Chương 3, điều 5 của NQ-36) từ Việt Nam ra hải ngoại gọi là để "phục vụ" cộng đồng nước ngoài, kể cả sự giúp đỡ (trợ gíá) phương tiện cho các đoàn văn nghệ nầy . Mục đích chủ yếu là dùng lơi` ca tiếng hát để ru ngủ và chiêu dụ cộng đồng người Việt hải ngoại về phía họ, trong mưu kế đại hoà giải dân tộc mà chúng ta biết rơ. Nói một cách khác, chính phủ Hà Nội khuyến khích bảo trợ cho các đoàn ca nhạc từ Việt Nam đi tŕnh diễn nước ngoài, với chủ đích rơ rệt. Phục vụ cho ai ? Đến đây xin được nêu lên một nghi vấn về danh từ "phục vụ" người Việt nước ngoài. Thật ra, cộng đồng người Việt đáng được "phục vụ" hiện nay là tại Việt Nam, nhất là các thành thị thôn quê ở quốc nội, những người đang khao khát ước mơ được các đoàn ca nhạc với thành phần ca-sĩ thượng thặng như đă gởi ra nước ngoà i, không phải cộng đồng người Việt hải ngoại vốn đang có nhiều nghệ sĩ tài danh hơn các ca-sĩ quốc nội. Vấn đề được đặt ra là tại sao chính phủ Hà Nội không phục vụ cho chính người dân trong nước, mà lại đi phục vụ cho cộng đồng người Việt tị nạn hải ngoại, là thành phần đang ngày đêm tích cực chống đối họ? Đây là dấu hỏi được đặt ra để suy ngẫm? Từ những lư do nầy, chúng ta không quả quyết các ca-sĩ từ Việt Nam là cán bộ giao lưu văn hóa, nhưng cũng có quyền nghi ngờ sự sốt sắng trợ giúp các phái đoàn ca nhạc hùng hậu ra hải ngoại của chính phủ Hà Nội. Phải chăng đây là một thứ "phục vụ" dân tộc có chủ đích ? Có bằng chứng ǵ ca-sĩ từ Việt Nam là VC ? Đây là thắc mắc thứ hai chúng ta thường nghe từ một số người trong cộng đồng. Trước hết chúng ta biết chính phủ Hà Nội không bao giờ ngây thơ ngu dại để lộ bằng chứng các ca-sĩ gởi ra nước ngoài để thi hành chính sách văn hóa vận của họ. Lư do đơn giản là khi đă có bằng chứng là th́ chắc chắn họ sẽ bị đào thải bởi cộng đồng người Việt tị nạn hải ngoại. Ca-sĩ Ái Vân là một bằng chứng điễn h́nh. Bao nhiêu năm ca-sĩ Ái Vân là một trong những "thần tượng" của giới văn nghệ hải ngoại: hát hay, nhan sắc mặn mà, tài nghệ vẹn toàn .... rất được sự ái mộ của người yêu chuộng ca nhạc nghệ thuật. Nhưng sự thật Ái Vân là ai ? Là một ca-sĩ nằm vùng được CSVN cài vào trong cộng đồng người Việt tị nạn CSVN. Khi đă bị lộ tẫy là cán bộ văn hóa vận của VC, ca-sĩ Ái Vân đă lập tức bị xóa tên, không những trong làng văn nghệ sĩ mà ngay cả cộng đồng người Việi tị nạn chúng ta. Tóm tắt, nếu quả thật một hay nhiều ca-sĩ từ Việt Nam ra hát ở hải ngọai là cán bộ văn hóa tuyên vận, th́ chắc chắn họ không ngu dại để lộ tông tích cho chúng ta nhận biết. Người CSVN khôn ngoan hơn nhiều, thi hành một nghị quyết, chính sách đường lối như NQ-36 mà để tiết lộ cơ mưu cán bộ "nằm vùng" của họ để thất bại, th́ chắc chắn họ sẽ không làm. Nghệ sĩ nằm vùng trong quá khứ : Trở về quá khư', không ai ngờ Kim Cương – một nghệ sĩ được mọi người thuộc chế độ VNCH ngưỡng mộ – mà măi đến năm 1979 mới biết Kim Cương là một cán bộ văn công với 17 tuổi đảng CSVN. Nhạc sĩ tài ba Trịnh Công Sơn được nuôi dưỡng trọng dụng trong suốt cuộc chiến quốc cộng tại Việt Nam, nhưng khi đến khi VC cưỡng chiếm miền nam VN vào ngày 30-4-1975 cũng chính tên VC nằm vùng Trịnh Công Sơn đă đến đài phát thanh kêu gọi các ca nghệ sĩ lên đài hát bài ca mừng chiến thắng gọi là giải phóng miền Nam Việt Nam. Sau đó đă được bí thư đảng CSVN Lê Duẩn cấp phát nhà ở và cho đi du ngoạn ở Mạc Tư Khoa.... Ca sĩ Việt Nam có nghèo không ? Một số người cho rằng các ca sĩ Việt Nam nghèo cần tiền, nên cho họ ra ngoại quốc hát để kiếm tiền mưu sinh. Lư luận nầy có thể bắt nguồn từ người dân ở Việt Nam cơ cực nghèo đói hiện nay đang sống dưới chế độ xă hội chủ nghĩa do đảng CSVN cai trị. Sự thật không phải thế. Tin tức từ trong nước ghi nhận th́ ca nghệ sĩ tại Việt Nam không nghèo khó, mà c̣n khá giả hơn cả những ca-sĩ ở hải ngoại. Minh Tâm có đến 3 chiếc xe hơi, có tài xế phục vụ. Thoại Mỹ có một ngôi nhà đồ sộ lộng lẫy trị giá đến mấy trăm ngàn Mỹ kim. Hồng Nhung đă bỏ ra đến $10,000 đô la để tặng cho nạn nhân lũ lụt miền Trung, v.v... Thử hỏi giới văn nghệ sĩ ở hải ngoại đă có ai giàu có để làm một việc từ thiện như ca sĩ Hồng Nhung ? Bây giờ chúng ta thử làm một bài toán cho một buổi đại nhạc hội Thảm đỏ (Red Carpet Concert) sẽ tổ chức tại Dallas, với 16 ca-sĩ từ Việt nam qua, giá vé trung b́nh $35 đô la một vé (lấy trung b́nh từ $25 đến $75), số lượng khán giả 1000 người th́ số tiền thâu được khoảng trên dưới $35,000. Chi phí tiền máy bay, khách sạn, xe cộ ăn uống cho 16 nghệ sĩ từ Việt Nam khoảng $25,000 đô la, cộng thêm các chi phi' như ban nhac , tiền thuê mướn pḥng hội sân khấu, linh tinh khác v.v. khoảng $10,000 đô la. Như vậy số thu cho Nhạc Hội Thảm đỏ c̣n lại $5,000, chia cho 16 ca-sĩ và ban tổ chức (thí dụ 3 người) trung b́nh mỗi đầu người chưa đến $300 đô-la. Trong lúc đó mỗi ca sĩ tên tuổi như Nam Trường ở Việt Nam mỗi buổi tŕnh diễn được trả đến $5000 đô-la. Như vậy, thử hỏi ca sĩ từ Việt nam ra hải ngoại để kiếm tiền bằng cách nào, nếu không có những bàn tay bí mật " trợ giá (ngôn từ của NQ-36)" cho họ ??? Nói một cách khác, nếu ai cho là ca sĩ Việt nam nghèo cần ra hát ở hai ngoại để kiếm tiền - phải chăng họ đă lầm to ? Văn hóa vận: Giấy trắng mực đen Một số người trong cộng đồng thường qui trách các thành phần chống cộng hải ngoại bịa đặt chính sách nầy, đường loi' nọ của CSVN, để t́m cách chống phá các đoàn văn nghệ từ Việt Nam ra hải ngoại, nhất là nghị quyết 36(NQ-36) được nhắc nhở về chính sách văn hóa vận của CSVN. Vậy NQ-36 là ǵ, nội dung ra sao, mục đích để làm ǵ ? Văn bản NQ-36 dài hơn 7 trang, với 4 chương (chapter) và 19 điều, mục đích chính là để "chiêu hồi" cộng đồng người Việt hải ngoại theo chính sách gọi là "đại ḥa giải dân tộc" của đảng CSVN kể từ cuối thập niên 1990's. Riêng về chính sách gởi các đoàn văn nghệ ra hải ngoại, tại chương 3, mục 5 trích đoạn như sau: III - Nhiệm vụ chủ yếu 1,2,3,4,.... 5- .... Tổ chức cho các đoàn nghệ thuật, nhất là các đoàn ca nhạc dân tộc ra nước ngoài biểu diễn phục vụ cộng đồng\. Tạo điều kiện cho các nghệ sĩ, vận động viên là người Việt Nam ở nước ngoài về nước biểu diễn, thi đấu, tham gia các đoàn Việt Nam đi biểu diễn và thi đấu quốc tế\. T hường xuyên tổ chức các chương tŕnh giao lưu văn hóa, văn học, nghệ thuật, triển lăm, hội thảo, du lịch về cội nguồn. 6, 7, 8 9- ... Tăng cường cán bộ chuyên trách về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài tại cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở những nơi có đông người Việt Nam sinh sống\. Bổ sung kinh phí cho các công tác này\ . Ngoài NQ-36, thủ tướng chính phủ Hà Nội c̣n ban hành một Quyết định số 210/199/QD, trong đó tại mục 3 được tóm lược như sau: "Ban vật giá chủ tŕ, phối hợp với Bộ tài chánh, văn hóa thông tin, ngoại giao, cục hàng không và các cơ quan liên hệ nghiên cứu việc trợ giá vé máy bay cho các đoàn văn nghệ ở trong nước giới thiệu đi biểu diễn phục vụ cộng đồng người Việt Nam nước ngoài." Tạp chí cách mạng CSVN số 11, phát hành năm 2002 đă xác định: " Trong quá tŕnh lănh đạo cách mạng, đảng (CSVN) ta luôn coi trọng văn hóa bao gồm báo chí nghệ thuật tŕnh diễn sân khấu là vũ khí sắc bén để tuyên truyền, tập hợp, tổ chức và vận động nhân dân" ... Riêng về lời ca tiếng hát để ru ngủ quần chúng, Tố Hữu đă viết: "Rượu cứ rót cho say sưa cực hí. Đàn ca lên cho át tiếng đầu rơi" . Các cụ xưa thường dạy con cái: "Làm thân con gái chớ nghe đàn bầu" . "Đàn bầu" ám chỉ người ca hát, con cái sẽ mê muội tiếng hát của người nghệ sĩ. Chữ "bầu" theo nghĩa sâu xa hơn là người con gái dễ bị có bầu (thai) do sự dụ dỗ yêu đương của người ca hát với con cái ḿnh. Tại hải ngoại chính cá nhân tôi đă nghe một giới trẻ thổ lộ: "Cháu say mê ca-sĩ Trường Vũ đến nổi, nếu cháu có cơ hội được nắm tay anh ta một lần là măn nguyện sung sướng suốt đời...". Rơ ràng vai tṛ của người nghệ sĩ ca hát trong chiến dịch văn hóa vận chủ trương qua NQ-36 để chiêu dụ cộng đồng người Việt hải ngoại, đang chống đối họ, quả thật là một chính sách thâm hiểm, nhất là đối với giới trẻ và thành phần không am hiểu thời cuộc v́ bận biu sinh kế hằng ngày ở hải ngoại. Kết luận: Từ những luận bàn diễn dịch có chứng liệu đă tŕnh bày, thiết tưởng vấn đề chống hay không chống các đoàn ca-sĩ từ Việt Nam ra tŕnh diễn ở hải ngoại đă khá minh bạch đối với người tị nạn cộng sản Việt Nam. Chúng ta bỏ nước ra đi, không v́ miếng cơm manh áo mà chỉ v́ lư tưởng và chính nghĩa đă chọn, hy vọng v́ danh dự lương tri của chính ḿnh, chúng ta tự trả lời câu hỏi có nên chống hay không? Và nếu có, th́ chúng ta chống ai ? Người ca-sĩ từ Việt Nam hay chính sách CSVN dùng chiêu bài ca hát để chiêu dụ lôi kéo cộng đồng người Việt hải ngoại, môt tập thể mà họ cho là "khúc ruột ngàn dặm của họ", thay v́ là những phần tử du thủ du thực đầu đường xó chợ như cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đă dơng dạc tuyên bố trước báo chí tại Paris, Pháp năm 1985 (?).. Cao Chánh Cương |
| Hồ Chí Minh và hội Tam điểm (Kết) truyen thong Trần Gia Phụng Tiếp theo phần I 2. Danh xưng Nguyễn Ái Quấc (Quốc) và Hồ Chí Minh Danh xưng Nguyễn Ái Quấc (Quốc) lúc đầu không phải là tên một người, mà là tên chung của bốn người. Đó là Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành.(4) Cả bốn ông (Trinh, Trường, Truyền, Thành) cùng dùng một bút hiệu chung là Nguyễn Ái Quốc, đồng kư bản “Revendications du peuple annamite” (Thỉnh nguyện thư của dân tộc Việt), bằng Pháp văn do Phan Văn Trường viết, gởi cho các cường quốc trên thế giới, đang họp Hội nghị Versailles – Paris, sau thế chiến thứ nhất, bắt đầu từ 18/01/1919. Thỉnh nguyện thư của các ông xuất hiện lần đầu trên báo L'Humanité (Nhân Đạo) ngày 18/06/1919. Hai người khác đă dùng bí danh Nguyễn Ái Quốc: Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh Nguồn: DCVOnline Trong bốn người cùng dùng chung biệt hiệu (Nguyễn Ái Quốc), Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường sống và hoạt động chính trị tại Pháp khá lâu, đang bị mật thám Pháp theo dơi, không tiện ra mặt. Nguyễn Thế Truyền (1898-1969) là sinh viên du học, đang hưởng học bổng của Pháp để theo học ngành hóa học,(5) nên không thể công khai chống Pháp. Chỉ có Nguyễn Tất Thành là người mới đến, chưa bị mật thám chú ư. Nguyễn Tất Thành tên thật là Nguyễn Sinh Cung, sinh tại Nghệ An, con ông Nguyễn Sinh Sắc (1862-1929) và bà Hoàng Thị Loan. Lúc nhỏ, Nguyễn Sinh Cung học chữ Nho, rồi chuyển qua tân học, theo chương tŕnh Pháp. Sau khi đậu tiểu học khoảng năm 17 tuổi, Nguyễn Sinh Cung vào học lớp nhất niên (năm thứ nhất bậc trung học tức lớp 6 ngày nay) trường Quốc Học (Huế) năm 1907. Nguyễn Ái Quốc ở Moscow (1924) Nguồn: wumingfoundation.com Một người bạn học cùng lớp với Nguyễn Sinh Cung ghi nhận lúc học Quốc Học, Cung vẫn mang tên nầy. Tài liệu nầy cho biết thêm rằng đang học lớp nhất niên, Cung cùng học sinh Quốc Học tham gia biểu t́nh trong vụ Trung Kỳ dân biến tại Huế tháng 4, 1908. Pháp đàn áp cuộc dân biến. Cung lo sợ bị bắt, liền bỏ học, trốn vào nam.(6) Ông ghé Quảng Nam, Quảng Ngăi, Quy Nhơn, rồi làm giáo viên dạy Quốc ngữ và chữ Pháp ở trường Dục Thanh (Phan Thiết) vào năm 1910, với tên mới là Nguyễn Tất Thành.(7) Như vậy, có thể Nguyễn Sinh Cung đổi tên thành Nguyễn Tất Thành trong khoảng thời gian nầy. Trong khi đó, phụ thân của Nguyễn Sinh Cung là Nguyễn Sinh Huy (tên cũ là Nguyễn Sinh Sắc) đang làm thừa biện (thư kư) bộ Lễ ở Huế, được bổ làm tri huyện B́nh Khê (B́nh Định) tháng 5-1909, tức được thăng chức. Điều nầy chứng tỏ Pháp và triều đ́nh Huế lúc đó không quan tâm đến hoạt động của học sinh Nguyễn Sinh Cung, mới cho phụ thân của Cung thăng quan. Năm sau (1910), quan huyện Nguyễn Sinh Huy dùng roi mây đánh chết người nên bị sa thải. Dạy học tại trường Dục Thanh được nửa năm, Nguyễn Tất Thành vào Sài G̣n, lấy tên là Ba, xin làm phụ bếp trên tàu Amiral Latouche-Tréville và theo tàu nầy rời Sài G̣n, đi Pháp ngày 05/06/1911. Ông đặt chân đến Marseille, hải cảng miền Nam nước Pháp, ngày 06/07/1911. Sau hơn hai tháng có mặt ở Pháp, Nguyễn Tất Thành viết tay hai lá đơn đề ngày 15/09/1911, có nội dung giống nhau; một gởi cho tổng thống Pháp, một gởi cho bộ trưởng bộ Thuộc địa Pháp, xin vào học École Coloniale (Trường Thuộc địa) ở Paris, nơi đào tạo những quan chức cho các nước thuộc địa Pháp. Đơn của Nguyễn Tất Thành bị từ chối. Nguyễn Tất Thành tiếp tục đi tàu biển một thời gian. Sau đó, ông cư trú ở Luân Đôn (London), thủ đô của Anh. Giữa năm 1919, Nguyễn Tất Thành trở lại Pháp, tiếp xúc với nhóm Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền. Nhờ sự giới thiệu của ba người nầy, Thành bắt đầu làm quen với giới chính trị Paris, nhất là giới chính trị đối lập với chính phủ Pháp. Sau khi cả bốn người cùng kư bản “Revendications du peuple annamite”, ba người trước tránh mặt v́ lư do an ninh, Nguyễn Tất Thành thường đại diện nhóm, dùng tên Nguyễn Ái Quốc để liên lạc với báo giới và chính giới. Có thể do đó, dần dần Thành dùng luôn bút hiệu Nguyễn Ái Quốc làm tên riêng của ông. Trong suốt cuộc đời c̣n lại, Nguyễn Sinh Cung hay Nguyễn Ái Quốc c̣n có cả vài chục tên khác nhau, cho đến khi ông lấy tên cuối cùng là Hồ Chí Minh. Có một điểm đáng chú ư: Nguyễn Sinh Cung bắt đầu sự nghiệp chính trị bằng tên Nguyễn Ái Quốc và kết thúc sự nghiệp chính trị bằng tên Hồ Chí Minh. Hai tên nầy đều do Nguyễn Sinh Cung chiếm dụng của người khác. Nguyên tại Nam Kinh (Trung Hoa), Hồ Học Lăm, một nhà cách mạng Việt Nam, đă lập ra Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, gọi tắt là Việt Minh. Khi đến Hồ Nam năm 1937, Hồ Học Lăm lấy bí danh là Hồ Chí Minh.(8) Năm 1938, Nguyễn Sinh Cung, lúc đó lấy bí danh là Hồ Quang, từ Liên Xô qua Trung Hoa lần thứ ba. Theo lệnh của Hồ Quang, những đảng viên cộng sản như Lâm Bá Kiệt (Phạm Văn Đồng), Dương Hoài Nam (Vơ Nguyên Giáp), Lư Quang Hoa (Hoàng Văn Hoan)... len lỏi vào hàng ngũ của Hồ Học Lăm. Hồ Học Lăm già yếu, ít hoạt động. Các đảng viên cộng sản liền núp dưới danh hiệu Việt Minh để hoạt động cho đảng CS, rồi dần dần chiếm dụng danh xưng nầy. Thủ lănh Hồ Quang, cũng chiếm dụng luôn bí danh thủ lănh Hồ Chí Minh từ năm 1942.(9) Riêng danh xưng Hồ Chí Minh, Nguyễn Sinh Cung rất thích thú với tên nầy. Theo Trần Quốc Vượng, sử gia Hà Nội, trong bài “Lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh của một số nhà trí thức Nho gia (kinh nghiệm điền dă)”, th́ ông Nguyễn Sinh Sắc, phụ thân của Hồ Chí Minh, không phải là con của ông Nguyễn Sinh Nhậm, mà là con ông Hồ Sĩ Tạo. Trước khi đám cưới, bà vợ của ông Nguyễn Sinh Nhậm đă có mang với cử nhân Hồ Sĩ Tạo, cho nên ông Nguyễn Sinh Nhậm chỉ là người cha trên giấy tờ của ông Nguyễn Sinh Sắc mà thôi. Theo Trần Quốc Vượng, Hồ Sĩ Tạo thương đứa con rơi, mới gởi gắm Nguyễn Sinh Sắc vào học trương Quốc tử giám ở kinh đô Huế. Trần Quốc Vượng c̣n viết rằng: “Nguyễn Ái Quốc sau cùng đă lấy lại họ Hồ v́ cụ biết ông nội đích thực của ḿnh là cụ Hồ Sĩ Tạo, chứ không phải là cụ Nguyễn Sinh Nhậm.”(10) 3. Ngày sinh của Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh Khi đến Pháp năm 1911, Nguyễn Sinh Cung dưới tên mới là Nguyễn Tất Thành, làm đơn xin vào học trường Thuộc Địa Paris. Trong đơn, Nguyễn Tất Thành tự khai là sinh năm 1892.(Xin xem tài liệu phía dưới). Nay trong đơn vào hội Tam Điểm, Nguyễn Ái Quấc tức Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Sinh Cung, tự khai là sinh ngày 15/02/1895. Theo tài liệu của đảng CSVN, Hồ Chí Minh tức Nguyễn Sinh Cung lúc nhỏ, sinh ngày 19/05/1890. Ngày sinh nầy được đưa ra chính thức năm 1946, khi Hồ Chí Minh mới cầm quyền chưa được một năm. Nh́n vào ba ngày hay năm sinh do chính Nguyễn Sinh Cung, tức Nguyễn Tất Thành, rồi Nguyễn Ái Quấc, rồi Hồ Chí Minh, tự tay viết ra, rơ ràng hoàn toàn không giống nhau cả năm lẫn ngày tháng. Năm 1911, khi xin vào học trường Thuộc Địa, có thể lúc đó phải theo điều kiện tuổi tác ghi danh vào học, Nguyễn Tất Thành đề là sinh năm 1892, tức vừa trên 18 tuổi vào năm 1911. Năm 1922, khi xin vào hội Tam Điểm, không hiểu dựa vào đâu, Nguyễn Ái Quấc ghi rằng ông ta sinh năm 1895, tức 27 tuổi vào năm 1922. Chuyện ngày 19/05, sinh nhật Hồ Chí Minh là một thủ thuật chính trị. Nguyên sau khi Nhật Bản đầu hàng ngày 14/08/1945, theo quyết định của tối hậu thư Potsdam ngày 26/07/1945, quân đội Nhật bị giải giới bởi quân Trung Hoa ở bắc vĩ tuyến 16 và bởi quân Anh ở Nam vĩ tuyến 16. Tối hậu thư nầy không nói đến ai sẽ cai trị Đông Dương sau khi quân Nhật bị giải giới, nên Pháp liền lợi dụng kẻ hở nầy, trở lại Đông Dương. Ở nam vĩ tuyến 16 (từ Tam Kỳ trở vào), Pháp theo quân Anh, đến Sài G̣n rồi dần dần tái chiếm miền Nam. Ở bắc vĩ tuyến 16, Pháp thương lượng với Trung Hoa, và đi đến hiệp ước Trùng Khánh ngày 28-2-1946, theo đó Trung Hoa chịu rút quân từ ngày 1 đến 15/03/1946, và chậm nhất là ngày 31/03/1946. Ngược lại, Pháp trả về cho Trung Hoa các tô giới Pháp ở Thượng Hải, Hán Khẩu, Quảng Đông, Quảng Châu Loan, bán cho Trung Hoa thiết lộ Vân Nam, sửa đổi quy chế người Hoa ở Đông Dương, miễn thuế người Hoa ở Hải Pḥng, và người Hoa chuyên chở hàng hóa ngang qua Bắc Việt sẽ khỏi phải chịu thuế. Sau hiệp ước nầy, sáng sớm ngày 06/03/1946, sư đoàn 9 bộ binh Pháp đến Hải Pḥng, dưới sự chỉ huy của trung tướng Jean Valluy. Túng thế, Hồ Chí Minh liền báo tin cho Pháp biết là ông ta đồng ư kư hiệp ước với Pháp. Vào buổi chiều cùng ngày, tại số 38 đường Lư Thái Tổ, Hà Nội, Hồ Chí Minh, với tư cách chủ tịch chính phủ Liên hiệp kháng chiến, vội vàng kư thỏa ước Sơ bộ với Pháp. Cùng kư bản văn nầy, ngoài Hồ Chí Minh, c̣n có Vũ Hồng Khanh (lănh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng), phó chủ tịch Quân sự uỷ viên hội của chính phủ. Về phía chính phủ Pháp, đại diện là Jean Sainteny. Trong khi đó, từ tháng 9, 1945, quân đội Pháp theo quân Anh đến Đông Dương, chiếm Nam Lào, nhưng không tiến lên phía Bắc, v́ vùng nầy do quân đội Trung Hoa giữ. Sau hiệp ước Trùng Khánh ngày 28/02/1946, quân Trung Hoa rời khỏi Lào ngày 12/03/1946. Pháp liền chiếm Vạn Tượng (Vientiane hay Viang Chan) ngày 23/04/1946. Giải quyết xong việc Trung Hoa chịu rút quân khỏi Việt Nam, từ ngày 14/05/1946, đô đốc D'Argenlieu, cao uỷ Pháp tại Đông Dương, bắt đầu mở cuộc kinh lư khu vực phía bắc vĩ tuyến 16 lần đầu tiên. D'Argenlieu đến Vạn Tượng ngày 17/05/1946, và dự tính sẽ đến Hà Nội vài ngày sau. Đô đốc D'Argenlieu là cao uỷ Pháp tại Đông Dương, nghĩa là vừa đại diện nước Pháp, vừa được xem là nhà lănh đạo các nước Đông Dương. Việt Nam mới kư thỏa ước Sơ bộ 06/03/1946 theo đó điều 1 ghi rằng Pháp thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do (état libre), có chính phủ riêng, nghị viện riêng và tài chính riêng trong Liên Bang Đông Dương và trong Liên Hiệp Pháp. Hồ Chí Minh đón rước D'Argenlieu nghĩa là đón rước quốc trưởng đến thăm Hà Nội. Việc Hồ Chí Minh kư thỏa ước Sơ bộ với Pháp, chính thức hợp thức hóa sự hiện diện của quân đội Pháp tại Việt Nam, hoàn toàn trái ngược với lời thề diệt Pháp của Hồ Chí Minh khi tŕnh diện chính phủ vào ngày 02/09/1945, gây sự bất b́nh trong các đảng phái chính trị và trong đại đa số quần chúng. Nay lại đón rước D'Argenlieu đến Hà Nội và phải theo đúng nghi thức quốc gia, ít nhất phải có treo cờ chào mừng. Chắc chắn điều nầy càng gây thêm bất b́nh nơi quần chúng. Tuy nhiên, nhà cầm quyền VM vẫn ra lệnh treo cờ trong ba ngày 18, 19 và 20/05/1946. Việt Minh cho biết treo cờ không phải để chào đón đô đốc D'Argenlieu, mà để mừng sinh nhật Hồ Chí Minh, ngày 19/05. D'Argenlieu đến Hà Nội chiều ngày 18/05/1946. Hồ Chí Minh và D'Argenlieu gặp nhau hai lần trong hai ngày liên tiếp 19 và 20/05/1946, nhưng không đạt kết quả đáng kể.(11) Trước sự kiện nầy, có dư luận cho rằng Hồ Chí Minh lúng túng trong việc phải treo cờ đón D'Argenlieu cho đúng nghi thức, mới có sáng kiến đặt chuyện treo cờ để mừng sinh nhật, nhắm làm cho ông ta và chính phủ của ông ta khỏi mất thể diện, đồng thời làm cho dân chúng khỏi bất b́nh. Dư luận nầy có phần hữu lư ở chỗ trước đó, Hồ Chí Minh không bao giờ nói đến chuyện sinh nhật của ḿnh, nay tự nhiên bày ra chuyện mừng sinh nhật. Hơn nữa, có điểm đáng chú ư là trong đơn xin vào hội Tam Điểm, Nguyễn Ái Quấc ghi rằng ông ta sinh ngày 15-2-1895; nay Hồ Chí Minh lại công bố sinh nhật của ông ta là 19-5. Thế là nghĩa làm sao? * Tóm lại, ngày nay, không ai lấy làm lạ về việc Nguyễn Sinh Cung đă đổi nhiều tên, nhiều họ, nhiều năm sinh, tháng đẻ khác nhau, cho đến tên cuối cùng là Hồ Chí Minh với sinh nhật là ngày 19/05/1890. Điều đặc biệt là ngày chết của Hồ Chính Minh cũng không phải là một ngày. Người Việt Nam xem ngày chết rất quan trọng, thường tổ chức kỵ giỗ để tưởng nhớ người quá cố. Thế mà ngày chết của Hồ Chí Minh cũng được đảng Lao Động chính trị hóa, để phỉnh lừa dân chúng. Nhiều người cho rằng v́ hoạt động chính trị, Nguyễn Sinh Cung phải hành động như thế. Điều nầy chẳng có ǵ sai trái. Vấn đề là những hoạt động chính trị của Nguyễn Sinh Cung đă đem lại được ǵ cho đất nước Việt Nam? Nguyễn Sinh Cung tức Hồ Chí Minh nói rằng ông tranh đấu để giải phóng dân tộc. Cái giá của việc giải phóng theo kiểu Hồ Chí Minh mà dân tộc Việt phải trả thật quá cao. Nếu chọn lựa đi một con đường khác, không phải là con đường cộng sản, th́ có thể tốt hơn. Hơn nữa, dân tộc Việt Nam ra khỏi tay thực dân Pháp th́ rơi vào tay thực dân nội địa (autocolonisation) [chữ của nhà báo Pháp Jean Lacouture], tức đảng CSVN, c̣n ác độc hơn thực dân Pháp. Giải phóng là cởi bỏ xiềng xích thực dân, chứ không phải thay đổi xiềng xích thực dân, và để tiến lên chứ không phải để đi xuống. Hồ Chí Minh nói rằng ông ta chống Pháp để giành lại độc lập? Nước Việt Nam càng ngày càng nhượng bộ và lệ thuộc Trung Quốc. Hồ Chí Minh bảo rằng ông ta tranh đấu cho tự do dân chủ? Dân chủ của Hồ Chí Minh là dân chủ theo kiểu “đảng cử dân bầu”. C̣n về tự do, sau năm 1954, khi các nhà trí thức, văn thi sĩ Bắc Việt yêu cầu trả văn học nghệ thuật lại cho văn nghệ sĩ, nghĩa là để cho văn nghệ sĩ được tự do sáng tác, th́ Hồ Chí Minh và đảng Lao Động trả lời bằng cách bắt bớ, giam cầm, đày đọa cho đến cuối đời hàng lọat trí thức, văn thi sĩ, mà rơ nét nhất là vụ Nhân Văn Giai Phẩm ở Hà Nội năm 1956. Hồ Chí Minh cải cách ruộng đất, hứa hẹn để thăng tiến đời sống nông dân? Hơn hai trăm ngàn người chết v́ cải cách ruộng đất, toàn bộ đất đai của dân chúng do cha ông để lại bị quốc hữu hóa vào tay nhà nước cộng sản. Hồ Chí Minh đánh Mỹ để cứu nước? Thật ra là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc... (12) Đó là những câu trả lời cho mục đích cuộc đời chính trị của một nhân vật lịch sử thay tên đổi họ, như tắc kè thay màu da, chỉ để làm những việc hại dân, hại nước, nhất là du nhập và ứng dụng chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam. Toronto 21/06/2007 |
| Hồ Chí Minh và hội Tam điểm truyen thong Trần Gia Phụng 1. Nguyễn Ái Quốc vào hội Tam điểm Hồ Chí Minh là một nhân vật lịch sử hiện đại hoạt động kín đáo, thường thay tên đổi họ, và thường che giấu hành tung của ḿnh. Một trong những điều được ông che giấu suốt đời là việc ông gia nhập Hội Tam Điểm (Franc-Maçonnerie) Pháp năm 1922. Hồ Chí Minh đă dùng tên khác, viết sách để tự ca tụng ḿnh, nhưng hoàn toàn không hé lộ một tư nào về việc ông gia nhập hội Tam Điểm. Đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) cũng tránh né không nói đến trong các bản tiểu sử của Hồ Chí Minh. Tài liệu bằng tiếng Việt đầu tiên và duy nhất lưu hành ở Hà Nội, nói về việc Hồ Chí Minh gia nhập Hội Tam Điểm có lẽ là sách Nguyễn Ái Quốc tại Pari 1917-1923, Nxb: Thông Tin Lư Luận ấn hành năm 1989, tác giả là bà Thu Trang. Trong sách nầy, bà Thu Trang viết rằng: “Theo một mật báo đă ghi ngày 14 tháng 6 năm 1922, Nguyễn Ái Quốc được chấp nhận vào Hội Franc-Maçonnerie (Tam điểm)...” (tr. 201.) Mẩu tin nầy không bị ban Văn hóa Tư tưởng Trung ương đảng CSVN kiểm duyệt hay gạch bỏ, có thể nhờ câu tiếp theo của bà Thu Trang: “Điều nầy chứng tỏ là Nguyễn Ái Quốc đă đến với bất cứ tổ chức chính trị nào có tính cách tiến bộ. Mặc dù theo truyền thống, Hội trên chỉ dành cho giới giáo sĩ, quư tộc hoặc những nhà trí thức bác học tên tuổi v.v... Nguyễn Ái Quốc được chấp nhận vào hội nầy là do được sự giới thiệu (ít nhất phải có hai hội viên cũ giới thiệu) như một nhà báo lỗi lạc, hay một nhà cách mạng đă có tên tuổi? Khó mà đoán được...” (tr. 201.) Cần chú ư các điểm: 1) Bà Thu Trang không phải là người Việt ở trong nước, mà bà đă định cư ở Paris từ năm 1961. Bà đươc Nhà xuất bản Thông Tin Lư Luận Hà Nội giới thiệu là “một nữ trí thức Việt kiều ở Pháp, với ḷng tôn kính Bác Hồ” (Lời nhà xuất bản, tr. 5.) 2) Năm xuất bản là năm 1989, tức 20 năm sau khi Hồ Chí Minh qua đời (1969). Năm đó, nhà cầm quyền cộng sản các nước trên thế giới tương đối cởi mở, kể cả Liên Xô, Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa, nên mẩu tin nầy không có ǵ làm mất uy tín đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN). 3) Đa số người Việt trong nước ít biết Hội Tam Điểm là hội ǵ, chủ trương như thế nào? Hội Tam điểm và những bí mật Nguồn: Thames & Hudson Hội Tam Điểm (Franc - Maçonnerie do tiếng Anh: Freemasonry) nguyên là một hội đoàn giáo dục, nhắm truyền bá cho hội viên một triết lư sống có đạo đức. Xuất hiện ban đầu ở Anh vào thế kỷ 17 như một nhóm nghề nghiệp (thợ nề, thợ chẻ đá). Về sau nhóm trở thành một hội đoàn hướng đến lư tưởng cao cả như bác ái (fraternity), b́nh đẳng (equality) và hoà b́nh (peace). Dần dần hội cho gia nhập cả những người giàu có hoặc có địa vị trong xă hội. Lư tưởng chấp nhận tự do tín ngưỡng và b́nh đẳng giữa mọi người của hội Tam Điểm đi đôi với chủ nghĩa tự do thời thế kỷ 18. Hội Tam Điểm phổ biến ở các nước nói tiếng Anh, bị Giáo hội Ky-Tô giáo La Mă chống đối, v́ Giáo hội cho rằng hội Tam Điểm tranh quyền với Giáo hội. Do đó, hội Tam Điểm không được chấp nhận ở các quốc gia theo Ky-Tô giáo La Mă. Dầu vậy, dần dần hội Tam Điểm phát triển khắp nơi. Hiện nay, trên thế giới, hội Tam Điểm đông nhất là hội Hoa Kỳ, chiếm khoảng 75% hội viên toàn cầu. Có nơi hội Tam Điểm chia ra thành nhiều phái và có khi chống đối nhau.(1) Như thế, tuy cùng đề cao lư tưởng và quyền lợi công nhân, nhưng hội Tam Điểm phóng khoáng, tự do, trong khi đảng Cộng sản là một tổ chức chính trị độc tài và hai bên rất chống đối nhau. Nguyễn Ái Quốc đă gia nhập đảng Cộng Sản Pháp từ cuối năm 1920 đầu năm 1921. Nguyễn Ái Quốc chuyển qua hội Tam Điểm là hội đối nghịch với đảng CS vào năm 1922. Bà Thu Trang giải thích rằng “Điều nầy chứng tỏ là Nguyễn Ái Quốc đă đến với bất cứ tổ chức chính trị nào có tính cách tiến bộ...” Tuy nhiên, xin đừng quên một điều là lúc đó, đời sống Nguyễn Ái Quốc tại Paris rất khó khăn. T́nh trạng nghèo khó nầy được ông mô tả lại khá rơ trong sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch dưới bút danh Trần Dân Tiên. Phải chăng Nguyễn Ái Quốc vào hội Tam Điểm để t́m kiếm một cơ hội thăng tiến mưu sinh mới? Nguyễn Ái Quốc vào Hội Tam Điểm ngày 24/06/1922, th́ trong tháng 7, 1922, Nguyễn Ái Quốc hai lần gặp gỡ Phạm Quỳnh tại Paris, cũng là một nhân vật Tam Điểm Việt Nam. Nguyên lúc đó, vua Khải Định (trị v́ 1916-1925) hướng dẫn phái đoàn Việt Nam sang dự cuộc đấu xảo (hội chợ triển lăm) ở Marseille (Pháp). Phạm Quỳnh tháp tùng theo phái đoàn nầy. Lúc đó, Phạm Quỳnh là một nhà báo, nghị viên Hội đồng thành phố Hà Nội, và đă gia nhập Hội Tam Điểm ở Hà Nội. Theo lời mời của chính quyền Pháp, Phạm Quỳnh đến Paris diễn thuyết tại Trường Thuộc Địa (École Coloniale) ngày 31-5-1922 về đề tài “Sự tiến hóa về đường tinh thần của dân Việt Nam từ ngày đặt bảo hộ đến giờ”. Sau đó, Phạm Quỳnh ở lại Paris để đi diễn thuyết vài nơi, kể cả Viện Hàn lâm Pháp. Trong thời gian ở Paris, Phạm Quỳnh ghi nhật kư là đă gặp gỡ những “chí sĩ vào hạng bị hiềm nghi”, và không nêu tên những người ông đă gặp trong nhật kư. Tuy nhiên, trên sổ lịch để bàn, Phạm Quỳnh ghi rơ: [Thứ Năm, 13-17]: “Ăn cơm Annam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường (6 Villa des Gobelins)”. [Tờ lịch Chủ nhật 16-7]: “Ở nhà, Trường, Ái Quốc và Chuyền đến chơi.” [Chủ nhật 16-7] [Chuyền có thể là Nguyễn Thế Truyền.] (Xin xem phần tài liệu phía dưới.) Vài tháng sau khi gia nhập Hội Tam Điểm, Nguyễn Ái Quốc ra khỏi hội nầy và suốt đời giấu kín việc vào hội Tam Điểm v́ một điều dễ hiểu, hội Tam Điểm đối nghịch với đảng CS. Vậy phải chăng v́ Phạm Quỳnh biết rơ chuyện Nguyễn Ái Quốc gia nhập hội Tam Điểm ở Paris sau hai cuộc tiếp xúc vào tháng 7-1922, mà Hồ Chí Minh tức Nguyễn Ái Quốc, ra lệnh thủ tiêu Phạm Quỳnh ngày 6-9-1945, tại một địa điểm cách Huế 20 km, để giấu kín bí mật của ḿnh? Theo lời tác giả Thu Trang, “Nguyễn Ái Quốc đă không ở lâu trong Hội nầy [Tam Điểm], v́ cuối năm 1922 trên báp L'Humanité, Nguyễn Ái Quốc đă thẳng tay chỉ trích hội ấy với những lời lẽ hết sức cứng rắn.” (sđd. tr. 201.) Thật ra, lư do chính Nguyễn Ái Quốc dứt điểm hội Tam Điểm, v́ lúc đó ông được đại diện Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản mời sang Nga hoạt động. Lời mời nầy vẽ ra trước mắt ông một cơ hội thăng tiến mưu sinh mới. Nguyên vào tháng 10-1922, D. D. Manuilsky, đại diện ĐTQTCS, từ Moscow qua Paris dự Đại hội kỳ 2 đảng CS Pháp. Nhân đó Manuilsky mời Nguyễn Ái Quốc sang Moscow tham gia Hội nghị Quốc tế Nông dân vào năm 1923.(2) Sự việc nầy có nghĩa là Manuilsky chọn Nguyễn Ái Quốc để đưa qua Liên Xô huấn luyện. Nhận được lời mời Manuilsky, Nguyễn Ái Quốc vĩnh biệt hội Tam Điểm. Ra khỏi hội Tam Điểm để gia nhập một tổ chức khác thích hợp với ḿnh hơn, là chuyện b́nh thường. Chuyện bất b́nh thường ở đây là vào tháng 6 tuyên thệ gia nhập hội Tam Điểm, th́ khoảng chưa đầy nửa năm sau, Nguyễn Ái Quốc lại “thẳng tay chỉ trích hội ấy với những lời lẽ hết sức cứng rắn.” (Bà Thu Trang, đă dẫn.) Ngay từ lúc nầy, mới bước vào con đường chính trị, Nguyễn Ái Quốc đă tự chứng tỏ là một con người “cơ hội chủ nghĩa”, vừa lật lọng, vừa phản bội. Bên cạnh sách bằng tiếng Việt, bà Thu Trang, với tên Thu Trang-Gaspard viết lại chuyện Nguyễn Ái Quốc ở Paris bằng tiếng Pháp, nhan đề sách là Hồ Chí Minh à Paris (1917-1923), do Nxb. Éditions L'Harmattan ấn hành tại Paris năm 1992, nội dung giống sách trên. Về việc Nguyễn Ái Quốc gia nhập hội Tam Điểm, ngoài những tài liệu của bà Thu Trang trên đây, c̣n có một số tài liệu chi tiết hơn của các tác giả Pháp. Một trong những người nầy là Jacques Dalloz. Ông viết sách Francs-maçons d'Indochine, Paris: Éditions Maçonniques de France, 2002. Sách nầy tŕnh bày đầy đủ những nhân vật Tam Điểm ở Việt Nam, trong đó có Phạm Quỳnh và Nguyễn Ái Quốc. Riêng về Nguyễn Ái Quốc, ngoài sách trên, trong bài báo nhan đề “Les Vietnamiens dans la franc-maçonnerie coloniale” [Người Việt trong hội Tam Điểm thuộc địa], tạp chí Revue française D'Histoire d'Outre-mer, Tam cá nguyệt 3, 1998, Paris: Société Française d'Histoire d'Outre-mer, tr. 105, Jacques Dalloz viết: “Vào đầu năm 1922, do sự giới thiệu của một nhà chạm trỗ tên là Boulanger, ông ta dự lễ gia nhập của tổ Fédération universelle (Paris GODF). Phiếu của ông ta ghi là: “Nguyễn Ái Quấc, sinh ngày 15/02/1895 (Việt Nam), thợ tô sửa h́nh, thợ vẽ.” (tạm dịch từ nguyên bản Pháp văn là: “Au début de 1922, il s'est présenté à l'initiation de la loge la Fédération universelle (Paris GODF), recommandé par le graveur Boulanger. Sa fiche indique: “Nguyen Ai Quâc, né le 15-2-1895 (Annam), retoucheur en photo, dessinateur”.) (3) Trong mệnh đề nầy có hai điều đáng chú ư: Thứ nhất là danh xưng Nguyễn Ái Quấc và thứ hai ngày sinh của Nguyễn Ái Quấc. (C̣n tiếp) |
| Trúc Lê Lời giải nào cho bài toán giữ nước ? Đảng Việt gian CSVN lúc nào cũng chỉ có một tṛ duy nhất là “tái khẳng định chủ quyền” một cách chiếu lệ và yếu ớt trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, c̣n ngoài ra chẳng làm ǵ hơn. Mặc dù đây là chuyện đúng, nhưng tại sao không làm hơn nữa ? Đảng Việt gian cứ làm bộ phản kháng và bọn quan thầy Trung Quốc cứ giả điếc và lấn chiếm, hết đảo này sang đảo khác, cứ bắn giết thả dàn hết chỗ này sang chỗ khác. Vậy th́ được cái đếch ǵ ? Ai lợi hơn ai ? VN hay TQ ? Chẳng lẽ cứ tiếp tục phản kháng (và không làm ǵ hơn) cho đến ngày mất luôn Trường Sa hay sao ? Tại sao không phát động phong trào quần chúng lên án TQ xâm lấn, giết hại ngư dân vô tội VN và đ̣i bọn chúng bồi thường cho họ ? Tại sao không đưa vấn đề TQ lấn chiếm các quần đảo của VN ra trước Liên Hiệp Quốc hoặc ra Ṭa án Quốc tế để nhờ phán xét dựa theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 ? Về các tài liệu lịch sử chứng minh chủ quyền trên hai quần đảo này th́ ta có đầy đủ hơn TQ v́ TQ chỉ la hoảng la tiều cu vơ nhưng chẳng có tài liệu đích thực nào cả. Tại sao không thông tin cho toàn dân VN biết rơ các vụ xâm phạm đất đai và lấn chiếm biên giới VN từ trước đến nay để dùng sức mạnh đoàn kết của toàn dân để giữ nước ? Chúng ta sẽ không thể nào giữ nước được khi toàn dân trong nước bị bưng bít thông tin, hoàn toàn mù tịt trước mọi chuyện xảy ra ngay trên quê hương ḿnh trong thời đại ḿnh đang sống. Một dân tộc mù ḷa thông tin và què quặt tri thức không bao giờ có đủ khả năng, sức sống và sáng suốt để giữ nước và dựng nước. Làm sao mà toàn dân VN có thể đoàn kết để giữ nước được khi những người “lănh đạo” đất nước là bọn phản quốc, a ṭng với ngoại bang để dâng đất, nhượng biển của Tổ tiên cho giặc hầu được giặc bảo kê cho họ giữ quyền cao chức lớn để bóc lột hà hiếp dân lành ? Làm sao mà toàn dân VN có thể giữ nước được khi chính quyền do đảng Việt gian CSVN “lănh đạo” đă hèn hạ tới mức ngậm miệng cắn răng nhẫn nhục quan thầy Trung Quốc khi bọn bá quyền phương Bắc cho lính hải quân của bọn chúng nổ súng bắn giết ngư dân vô tội VN ngay trên lănh hải của nước ta. Như vụ chúng bắn chết 9 ngư dân Thanh Hóa ngoài khơi gần quần đảo Hoàng Sa trước đây và vụ lính Trung Quốc bắn chết 1 ngư dân và bắn bị thương một số khác trên vùng biển thuộc quần đảo Trường Sa gần đây ? Nói tóm lại, c̣n bọn phản dân hại nước CSVN, những kẻ luôn vỗ ngực tự xưng là v́ dân v́ nước nhưng thực chất là tay sai của Tàu, th́ không có hy vọng ǵ để giữ cho nước ta khỏi mất thêm đất, biển. Đảng Việt gian Cộng sản càng sống lâu bao nhiêu, th́ cái giá phải trả của dân tộc ta càng lớn bấy nhiêu. Cái giá lớn nhất có thể là nước ta sẽ hoàn toàn bị Tàu đô hộ và đồng hóa để biến mất trên bản đồ thế giới. Đây chính là cơn ác mộng mà mọi người Việt chân chính cần phải cố sức ngăn cản để nó không thành hiện thực. Trân kính, Trúc Lê |
| Bệnh nhức đầu ở Hà Nội Chính trị - xă hội 15/8/2007 Trung Cang lược dịch Đi lấy thuốc aspirin thôi, v́ chế độ cộng sản tại Hà nội có cơn đau đầu mới về nhân quyền. Cuộc đấu tranh đất đai lâu cả tháng ở thành phố Hồ Chí Minh, đă bị giải tán hồi tháng Bảy sẽ không làm sập chính quyền toàn trị. Nhưng nó làm lộ ra những áp lực phát triển kinh tế áp đặt lên Đảng Cộng sản Việt Nam và sự nẩy nở của kỹ thuật hiện đại đă làm tăng thêm các mối căng thẳng ra sao. Đất đai là điểm bùng lên của cuộc phản kháng 27 ngày kéo dài từ tháng Sáu đến tháng Bẩy. Người dân khiếu kiện kéo về trước văn pḥng Quốc hội ở Thành phố Hồ Chí Minh để bộc lộ một loạt các khiếu nại. Một số người đ̣i đền bù v́ đất đai bị tịch thu nhiều chục năm trước đây. Những khiếu kiện khác th́ liên quan đến các quan chức tham nhũng đă lấy đất nông nghiệp để chuyển sang làm đất dùng cho công nghiệp trong nền kinh tế bộc phát tại Việt nam. Trong nhiều năm, nông dân đă từng hướng về chính quyền Trung Ương để xin giúp chống lại với tham ô địa phương và cuộc đấu tranh mới đây cũng chẳng là ngoại lệ. Nhưng các người Việt nam khổ sở, từng ngỡ rằng cái Quốc hội được xem là dân chủ của họ sẽ giúp đỡ, đă bị lầm lẫn đau đớn. Mặc cho có các cuộc "bầu cử" mới đây, dường như chẳng có một đại biểu nào có thể cảm phiền gặp gỡ "cử tri" của họ trong cả tháng những người tranh đấu có mặt trước toà nhà Quốc hội. Những người tranh đấu, chịu đựng dưới khí hậu mưa dầm khắc nghiệt gần như suốt thời gian ấy, buộc phải khởi sự viết một đơn thỉnh nguyện chỉ để xin phép được dùng nhà xí trong toà nhà. Chế độ Hà nội cuối cùng cũng quay về hợp lại, chấm dứt cuộc đấu tranh với sự trợ lực của lực lượng an ninh, hơi cay, dùi cui và một số vụ bắt bớ, và hầu hết người đấu tranh bị chở về nhà trên xe bus. Một số đă bị bắt tại nhà trong các tuần sau đấy, chẳng hạn như ông Ngô Lượt(?), một người lănh đạo đấu tranh 71 tuổi hiện đang bị giam giữ mà không có cáo trạng. "H́nh tội" của ông ta bao gồm viết biểu ngữ đấu tranh và cầm một chiếc loa phóng thanh. Không có một dấu hiệu nào cho thấy các việc khiếu kiện đă được giải quyết. Mặc cho có các thất bại như thế, cuộc đấu tranh nh́n lại có hệ quả đánh dấu một tiến triển quan trọng đối với các nhà hoạt động nhân quyền của Việt nam. Đáng ghi nhận hơn cả, là vụ việc khởi đầu bằng một cuộc đấu tranh đất đai lại kết thúc bằng một tiết mục là bài diễn văn của một người lănh đạo phong trào dân chủ và quyền tự do tôn giáo sơ khai, ḥa thượng Thích Quảng Độ, cầm đầu Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đang bị bách hại. Điều này đánh dấu sự hội tụ lần đầu tiên của các cuộc đấu tranh đất đai cơ bản, và phong trào nhân quyền. Có thể đây là biểu hiệu rằng một số nông dân đau khổ bắt đầu nh́n ra là các khiếu kiện cũng có quan hệ với những nguyên tắc trừu tượng về tự do và dân chủ. Vai tṛ của kỹ thuật hiện đại cũng lộ rơ là sẵn sàng hơn trong các cuộc đấu tranh khác. Chí ít cũng có một người đấu tranh phát biểu với một đài phát thanh ủng hộ dân chủ rằng lần đầu tiên chị nghe biết đến cuộc đấu tranh (là) qua internet. Đấy là lư do v́ sao cuộc đấu tranh tăng được số đông trong ṿng vài tuần đầu -- từ vài trăm cá nhân thoạt đầu lên đến hơn 1,000 vào thời điểm cao nhất. Những người lănh đạo đấu tranh, đến từ 19 tỉnh của 59 tỉnh trong cả nước, đă có thể trao đổi số điện thoại di động để giữ liên lạc. Những người đấu tranh có khả năng dùng điện thoại di động đế phát tán tin tức hay (thông tin về các) sự kiện tại hiện trường một cách đương biến. Một phụ nữ phát biểu trên một đài phát thanh đối kháng về tâm trạng của những người đấu tranh và lư do khiến chị tham gia. Các nhà hoạt động dân quyền tại hải ngoại nhận được thông tin cập nhật thường xuyên hầu như hằng giờ. Các nhà quan sát phong trào dân quyền của Việt nam nói rằng đây là một trong những cuộc đấu tranh được đưa tin nhanh nhất trong lịch sử cận đại của nước này. Cuộc đấu tranh chứng tỏ rằng người Việt nam đang tăng mạnh quyết tâm bày tỏ các khiếu kiện với chế độ một cách công khai, và họ đang học cách tổ chức chống lại nó (chế độ) một cách ôn hoà. Chính quyền cộng sản sẽ không sụp đổ vào ngày mai, nhưng Hà nội hẳn là có những điều phải lo ngại. Nguồn: Wall Street Journal Review & Outlook |
| đồng bào tin cs th́ phải chết đói như chơi ,đồng bào nên nhớ rằng cs là đạo đức giả 100% cs chỉ nhờ vào dân chúng mà sống chứ cs vn không làm ra tṛ má ǵ hết , csvn chỉ biết ăn bám , ăn hối lổ là tài mà thôi ! cs chúng nó ' đă iết thân phận nó là gian dối vô đạo đức từ khi thành lập csvn,chúng nó cũng muốn làm cách nào tổ quốc không c̣n cs nhưng kẹt trung cộng khống chế quá nặng không thể thây đổi được thể chế cs cứ kéo dài năm này qua năm nọ , tất cả cũng v́ dân mà thôi ! nếu dân không đồng t́nh với cs th́ cs không bao giờ đứng lâu vậy được nói cho đúng là thế ! vn nếu c̣n tiếp tục kéo dài thêm th́ coi như nước vn sẽ điêu tàn dân khổ thêm , chán cái cảnh cs lắm rồi ! ther^' kỷ này mà c̣n học thất thức này nọ chết dân th́ sao ! có phải csvn cố t́nh giết hại đồng bào vn không ! đề nhgị csvn coi lại sự việc tổ quốc ra sao nên có cs hay không !!!!!!!!!!! hày chấm dứt đi dừng theo lối sống chế đổ cs nữa ! tự nhận thức đi csvn ! chúng mày cả đời chỉ biết ăn bám ăn nhủng không ai chịu đứng lên keo gọi thống nhất đa đảng huỷ bỏ che6' đổ cs cho đồng bào nhờ và các nước lấn cẩn không khinh khi chúng ta ,cs chỉ hút máu dân mà thôi to mỏ nói lớn chẳng ra tṛ má ǵ hết dẹp đi cs và chế điêu tàn không c̣n ǵ để thử thất thêm quá lắm rồi , coi chừng tức vỡ bờ nhé csvn à chúng mày ngu quá vậy csvn ???????? |
| Quốc gia hưng vong Tan Van Trần B́nh Nam Gần đây thế giới ghi nhận nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh chóng. Sự tăng trưởng đă làm cho Thái Lan lo ngại. Mới đây trên xa lộ chạy lên phi trường quốc tế Bangkok hành khách thấy bên đường một tấm quảng cáo lớn viết: “Ngày hôm qua Việt Nam c̣n ḅ, bây giờ họ đă chạy, và sẽ vượt qua Thái Lan trong một thời gian ngắn.” (theo RFA trong buổi phát thanh sáng ngày 13/8/07). Các nước có vốn đầu tư tại Việt Nam như Hoa Kỳ, Liên hiệp Âu châu (EU), Nhật Bản, Đại Hàn, Đài Loan … đều công nhận sự phát triển đó . Đó là một điều đáng mừng. Nhưng sức sống và sự tồn tại của một nước không chỉ ở kinh tế mà c̣n ở những lĩnh vực khác, mà quan trọng nhất là sự trong sáng của nền hành chính quốc gia, nề nếp sinh hoạt, trật tự xă hội, và sự hứa hẹn một tương lai an toàn và hạnh phúc cho người dân. Một xă hội thiếu những yếu tố trên th́ càng phát triển kinh tế, xă hội càng hỗn độn và càng đẻ ra nhiều bất công. Ngoài sự phát triển kinh tế, Việt Nam đang có mọi dấu hiệu của một xă hội thiếu lành mạnh. Giáo dục phá sản. Học sinh cấp tiểu học và trung học phải có tiền học riêng mới được cô thầy dạy bảo đủ tiêu chuẩn. Cấp đại học th́ lạm phát bằng cấp và phát măi tước vị. Trên báo đài thấy toàn tiến sĩ, thạc sĩ mà sức học so với cấp thang quốc tế rất đáng nghi ngờ. Về mặt y tế là chế độ phong b́: phong b́ cho nhân viên văn pḥng (để được ưu tiên ghi tên), phong b́ cho y tá (để được săn sóc), phong b́ cho bác sĩ (để được khám kỹ lưỡng) là một điều phổ biến tại các bệnh viện công đến độ không làm người đưa phong b́ cũng như người nhận phong b́ thấy có ǵ bất b́nh thường cả. Về mặt giao thông, Việt Nam là nước nhiều tai nạn giao thông nhất trong thành phố so với các nước ở Á châu. Bằng lái xe, nhất là bằng lái xe hai bánh có động cơ, có thể mua không cần học luật lái xe. Đường lộ quá tải xe máy hai bánh v́ nhập cảng không chính sách, và nếu vi phạm hay sinh ra tai nạn lưu thông có thể giải quyết bằng tiền nhét khéo vào túi nhân viên công lực. Nạn tham nhũng cấp độ quốc gia, nhất là nạn lợi dụng các chương tŕnh phát triển kinh tế để chiếm đất của dân trở thành quốc nạn. Dân oan khiếu kiện từ các tỉnh kéo về Hà Nội và Sài g̣n đ̣i công lư từ nhiều năm qua là một vết nhơ của chế độ mà chính phủ không phương giải quyết v́ các cán bộ địa phương đều dính vào. Trong khi đó nền an ninh của quốc gia đang bị đe dọa do sự lệ thuộc quá đáng vào Trung Quốc. Sau một thời gian bang giao nguội lạnh, nhất là sau trận đánh nhau tại biên giới phía bắc tháng 2/1979, năm 1991 sau khi khối Liên bang Xô viết và Đông âu sụp đổ, Việt Nam phải làm lành với Trung Quốc để tồn tại, và từ đó trở thành lệ thuộc càng ngày càng khó gỡ. Lợi dụng nhược điểm của Việt Nam, Trung Quốc đă ép Việt Nam đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác. Năm 1999 và 2000 Việt Nam đă phải kư những hiệp ước nhượng đất tại biên giới phía bắc và nhượng biển trong vịnh Bắc việt cho Trung Quốc. Và Trung Quốc đang giành giựt của cải thiên nhiên của Việt Nam chung quanh quần đảo Trường Sa bằng phương pháp mạnh tay có tính đe dọa, điển h́nh là vụ bắn chết chín ngư dân Việt Nam trong vịnh Bắc việt đầu năm 2005 và hai ngư dân khác tháng 7/2007 mới đây trong vùng Trường Sa, và Việt Nam đành khoanh tay không một lời phản kháng chính thức. Trên b́nh diện địa lư chính trị, trước sự bành trướng quân lực và với chương tŕnh phóng sức mạnh quân sự về phương nam của Trung Quốc, nền an ninh của Việt Nam đang bị đe dọa. Và nếu “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” th́ ai là người có trách nhiệm cho sự mất c̣n của đất nước? Trách nhiệm nằm trong tay người cầm quyền trước, và trách nhiệm cũng ở trong tay của người dân. Dân đây là 86 triệu dân trong nước và hơn 2 triệu người Việt sống tại hải ngoại. Về người lănh đạo (tức đảng Cộng sản Việt Nam) kể từ cuối năm 2006, sau khi gia nhập Tổ chức Mậu dịch Thế giới (WTO) đảng Cộng sản Việt Nam h́nh như đang lo thế sinh tồn của Việt Nam và t́m cách chuyển hướng chính sách đối ngoại đối với Hoa Kỳ và Trung Quốc. Đợt đàn áp những nhà dân chủ đầu năm 2007 và mới đây dùng sức mạnh cưỡng bách dân oan tụ tập tại Sài g̣n về địa phương hứa giải quyết có thể là những hành động để ổn định t́nh h́nh trước khi có những chuyển hướng chiến lược. Hoa Kỳ đang đóng góp tích cực vào sự chuyển hướng sách lược này. Lúc đầu Hoa Kỳ im lặng trước các cuộc đàn áp của Hà Nội, và sau đó đưa ra một chương tŕnh tiếp xúc các thành phần đấu tranh trong cũng như ngoài nước. Đích thân tổng thống Bush gặp 4 nhà đại diện hải ngoại ngày 29/5/2007 tại Bạch Ốc, sau đó là các tiếp xúc của các phụ tá bên Hội đồng An ninh Quốc gia, và bên bộ ngoại giao với các nhân vật đấu tranh khác. Cựu đại sứ tại Việt Nam, ông Michael Marine trước khi rời nhiệm sở đă gặp nhiều nhân vật đấu tranh trong nước như bác sĩ Nguyễn Đan Quế tại Sài G̣n và bác sĩ Phạm Hồng Sơn tại Hà Nội. Riêng tân đại sứ Michael Michalak trước khi lên đường sang Hà Nội nhậm chức cũng tổ chức một buổi tiếp xúc với các thành phần đấu tranh trong cộng đồng để thu thập ư kiến của người Việt hải ngoại. Trong cuộc tiếp xúc tháng 5/07, tổng thống Bush nói Hoa Kỳ muốn biết ư kiến của các đoàn thể đấu tranh để vận động Hà Nội thay đổi chính sách (và các phụ tá của ông trong các cuộc tiếp xúc trong và ngoài nước cũng nói như vậy) nhưng chúng ta đều biết mục đích của các cuộc tiếp xúc là để ảnh hưởng đến hướng đấu tranh của các tổ chức đấu tranh tại hải ngoại và của các nhà đấu tranh dân chủ trong nước cho phù hợp với hướng thay đổi chiến lược của Hà Nội (và một mục đích phụ khác cũng không kém phần quan trọng là vận động phiếu của người Mỹ gốc Việt cho cuộc bầu cử tháng 11 năm 2008). Hoa Kỳ có thể thành công dễ dàng trong công tác trung gian này v́ tâm lư người Việt thích được “vỗ về”, và v́ các tổ chức đấu tranh tại hải ngoại và những nhà đấu tranh dân chủ trong nước chưa có một cương lĩnh đấu tranh dài hạn có chủ điểm đánh vào trọng tâm của vấn đề dân chủ (thí dụ đặt một câu hỏi căn bản: nguyên nhân nào sinh ra sự bế tắc và xuống cấp của xă hội, hậu quả là nền an ninh rất mong manh hiện nay của Việt Nam? Có phải nguyên nhân là điều 4 của bản Hiến pháp giao trọn quyền hành lănh đạo quốc gia vào tay đảng Cộng sản Việt Nam không?) mà chỉ là những đ̣i hỏi chung chung như dân chủ, nhân quyền và tự do tín ngưỡng, bầu cử tự do và tự do ngôn luận. Gần đây đảng Việt Tân, một đảng chính trị có tầm vóc nhất tại hải ngoại - qua phỏng vấn ông Lư Thái Hùng, tổng bí thư đảng Việt Tân bởi đài BBC đầu tháng 8/2007- xác định rơ hơn lập trường rất hợp ư Hà Nội và Hoa Kỳ là đấu tranh bất bạo động và không có ư định lật đổ chế độ cộng sản bằng bạo lực. Với sự giúp đỡ của Hoa Kỳ, Việt Nam có thể yên tâm chuyển hướng chiến lược. Nhưng chắc hẳn Việt Nam không bỏ thế đu dây giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, v́ dù muốn dù không đó là sách lược sống c̣n từ ngàn xưa của Việt Nam bên cạnh con rồng Trung Quốc. Việc ông chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết qua thăm Trung Quốc trước khi công du Hoa Kỳ tháng 6/2007 vừa qua là một bằng chứng. Nhưng nếu đảng Cộng sản Việt Nam học kỹ bài học của quá khứ th́ đảng cũng sẽ thấy rằng những vận chuyển chính trị như hiện nay giữa Hà Nội – Hoa Thịnh Đốn và Hà Nội – Bắc kinh không đủ bảo đảm an toàn cho Việt Nam. Lịch sử chỉ rơ rằng chừng nào chính quyền huy động được sự đồng tâm nhất trí của dân chừng đó nước mới đủ sức mạnh chống xâm lăng. Tấm gương Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông hỏi ư bô lăo toàn quốc tại điện Diên Hồng năm 1284 (khi quân Mông Cổ xâm lăng Việt Nam lần thứ hai) trước khi hạ lệnh xuất quân chống địch – và đại thắng - vẫn c̣n đó. Đảng Cộng sản Việt Nam không thể bên ngoài th́ dựa vào một thế lực quốc tế, bên trong th́ dùng những cái bánh vẽ để đoàn kết dân tộc. Dựa vào một thế lực quốc tế có cùng quyền lợi là cần thiết nhưng nếu thiếu một dân tộc đoàn kết sau lưng th́ chính quyền nào cũng tan ră trước một cuộc xâm lăng ba mặt giáp công phối hợp chính trị, kinh tế và quân sự của phương bắc. Đảng Cộng sản Việt Nam phải làm ǵ để đoàn kết dân tộc? Câu trả lời hiển nhiên là: Hăy để cho dân cùng tham gia việc nước. Xét về mặt thực tế đảng cộng sản Việt Nam có tất cả cơ hội tốt trong tay để cho dân tham gia việc nước. Kịch bản khá đơn giản là qua quốc hội đảng Cộng sản Việt Nam hủy bỏ điều 4 Hiến pháp, thêm vào điều khoản cho phép một hay hai đảng chính trị đối lập xuất hiện, cho phép tự do báo chí trong giới hạn quy định chặt chẽ bởi luật pháp, và tổ chức bầu cử tự do dưới sự quan sát quốc tế. Một kịch bản như vậy trong nhất thời có thể không làm mất quyền lănh đạo đất nước của đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng cái lợi vô cùng to lớn. V́ có đối lập, có báo chí tự do (trong giới hạn phù hợp với tŕnh độ của dân), có tư pháp độc lập, nền hành chính Việt Nam sẽ có vũ khí để giải quyết những vấn nạn quốc gia mà quan trọng nhất là nạn tham nhũng và cải thiện đời sống xă hội, và trên hết mang lại sự đoàn kết toàn dân, mở đường tiệm tiến dân chủ hóa đất nước trong ḥa b́nh. Tiến tŕnh này là bước mở đầu giải tỏa bế tắc của Việt Nam, và là cơ hội giải phóng tiềm năng lớn lao của dân tộc để Việt Nam vươn lên trong cộng đồng dân chủ thế giới xứng đáng với khả năng vốn có của đất nước và con người Việt Nam. Với thế đó Việt Nam sẽ không lo sợ một cuộc xâm thực nào. August 17, 2007 |
| NÊN CHÚ Ư ! CSVN THU NHẬP CÀNG CAO DÂN CÀNG KHỔ CHỈ SƯỚNG CHO NHỮNG TÊN THAM NHỦNG CÁN BỘ ĐẢNG MÀ THÔI,SUY CHO CÙNG LEO CHO CAO QUÁ TẾ CHẾT CHA AI VẬY CŨNG LÀ DÂN CHỊU ĐỰNG LÀ CHÍNH,TỔ QUỐC GIẦU CÓ LÀ THUỘC THÀNH PHẦN CỦA CSVN THÔI VÀ CÁ NHÂN NÀO ĐÓ THÔI DÂN CŨNG CHỈ ĐƯỢC NH̀N THẤY THÔI TTHẬT CHẤT CHẲNG QUA ĐÓ LÀ LÀM Ô NHIỆM THÊM CHO TỔ QUỐC VN NÓI CHUNG ! TÔI TIN RẰNG TỔ QUỐC VN SẼ ĐIÊU TÀN THEO MÂY GIÓ ĐÓ LÀ DO LÈO LÁI CỦA CSVN ĐI VÀO CON ĐƯỜNG ĐỊA NGỤC CÓ KHÁC G̀ CÓ XÉ ĐẸP MÀ KHÔNG BIẾT BẢO QUẢNG CÓ HẠNH PHÚC MÀ KHÔNG BIẾT GIỮ CON CÁI HƯ V̀ THÀNH CHA NGU SI BÂY BƯỚM B̀A NGOÀI LÀM MẤT PHẨM CHẤT LÀM CHA LĂNH CHẤT NHIỆM TƯƠNG LAI CON CHÁU SẼ RA SAO CHƯA BIẾT THÀNH TÀI HAY THÀNH QUỶ MA ÁM ,CÁI ĐẠO ĐỨC GIẢ CỦA CSVN ĐANG ĐI SÂU VÀO CON ĐƯỜNG ĐỊA NGỤC CHẮC CHẮN KHÓ MÀ TRỢ LẠI ĐƯỢC B̀NH THƯỜNG CON NGƯỜI B̀NH ĐẲNG CSVN SẼ CHẾT TRONG CUNG ĐỊA ĐỊA NGỤC LÀ CHẮC ! CHỈ KHỔ CHO NHỮNG NGƯỜI NHẺ DẢ LƯƠNG TÂM NGHE THEO CSVN CÁI ĐẠO THẤT THỨC GIAN TÀ TRẮNG CHỞN KHÓ MÀ LƯỜNG CHO TỔ QUỐC VN ,TỔ QUỐC SẼ YẾU DẦN MẤT M̉M SÈ TAN THEO MÂY GIÓ KHÍ THẾ CỦA CSVN NẾU KHÔNG KIP.. TRỞ TÂY TH̀ COI NHƯ MẤT TRẮNG TÂY CUỐI CÙNG RA SAO NHƯ CSVN ĐĂ HIỆU RẤT RƠ ! MÀ TẠI SAO CSVN CỐ BÁM CHẾ ĐỔ CS ! HAY LÀ CSVN CHỈ V̀ TC KHỐNG CHẾ Ư ? QUÁ LẠC HẬU ! THỜI THẾ NÀY KHÔNG NÊN KÍNH NẺ AI HẾT ! HĂY DỮA THEO LUẬT QUỐC TẾ MÀ CƯ XỰ KHÔNG NÊN MUA CHUỘC CS THÊM ! NÓ SẼ THIẾN CHÚNG MÀY NHƯ CHƠI , CHỜ COI CS THẾ NÀO VỀ TƯƠNG LAI ! |
| Thư gửi các bạn được đi du học Giáo dục - đào tạo Ledanguyen Tôi được biết rằng, ngoài nước Việt thân yêu của chúng ta có nhiều quốc gia rất oách và đáng khâm phục về mọi lĩnh vực, trong đó có giáo dục như là nền tảng quan trọng hàng đầu quyết định sự phát triển. Các bạn nay lại đang có dịp dùi mài kinh sử ở những nơi ấy. Thật không c̣n ǵ bằng. Vậy từ Sài G̣n – TPHCM, xin chia sẻ niềm vui và ủng hộ các bạn. Trước các bạn từ lâu, lịch sử cũng dạy rằng trong dân ḿnh, có nhiều người lỗi lạc và nhiệt huyết t́m cách đến những nước văn minh đó để học hỏi và kêu gọi hỗ trợ v́ mục đích độc lập cho dân tộc. Họ đă rất giỏi giang, dũng cảm và thành công. Ngày nay t́nh thế đất nước hoàn toàn thay đổi. Các bạn được du học thoải mái và ít nguy hiểm hơn, dù bằng học bổng hoặc tự túc. Nhưng không v́ thế mà sự đóng góp kém phần quan trọng v́ bây giờ đi đâu người ta cũng nói tới chất xám - một yếu tố cạnh tranh hàng đầu, không chỉ giới hạn trong các doanh nghiệp, tập đoàn với nhau mà ở qui mô quốc gia. Tôi viết thư ngỏ lời với các bạn, không phải v́ đặt nhẹ trí thông minh và nỗ lực của các bạn sinh viên trong nước, hoặc những người không có cơ may được đến giảng đường. Đơn giản, tôi chỉ nghĩ rằng các bạn là những người được trực tiếp sờ mó vào những xă hội tiến bộ, liên tục bị sự phát triển và những mặt trái của nó chất vấn, đ̣i buộc phải trả lời và hành động v́ ḷng tự hào dân tộc, song song với việc thỏa măn những nhu cầu đáng trân quí của bản thân và gia đ́nh. Tôi nghĩ rằng ở những nơi đó người ta khuyến khích và tạo điều kiện cho sự phản biện để mở thêm những con đường, và hạn chế đến mức tối đa việc “độc quyền chân lư, áp đặt tư duy”. Đất nước chúng ta đang trở ḿnh, ở vào giai đoạn gia công lắp ráp cho nước ngoài, cả về sản phẩm và dịch vụ. Đất nước chúng ta đang loay hoay trong nhiều mâu thuẫn, va chạm trong ư thức mà vẫn chưa có lối ra. Chắc các bạn hiểu rơ điều đó và chọn những ngành học mũi nhọn về khoa học tự nhiên và xă hội để sau này vùng vẫy. Mọi người đang cố gắng để Quê hương thay đổi theo chiều hướng tốt. Từ mũi Cà Mau đến địa đầu Móng cái. Từ ruộng đồng đến nhà xưởng, từ học đường đến pḥng thí nghiệm, từ nhiều nhà văn hoá, trí thức, nô bộc chân chính. Nhưng tiếc thay những nỗ lực đó không mang lại kết quả đáng lư phải có, v́ chưa thoát ra khỏi sợ hăi, giới hạn địa lư, để giao thoa hiểu biết về thế giới quan và đặc biệt là sự ḱm kẹp hoang sơ cố hữu của cấu trúc thượng tầng. Nói thẳng ra là sự “độc trị man rợ”. Tôi nghĩ đến các bạn v́ hy vọng vào các bạn, những người được nh́n thấy sự đa dạng của tư tưởng, thiết chế của thế giới, và sẽ đủ khả năng trí thức và tâm huyết, để đi tiên phong trên con đường thay đổi của Đất nước, ít ra trong thế hệ của chúng ta. Tất cả các h́nh thái tổ chức đều cần đến những "cánh chim đầu đàn". Tháng 9 này, tôi có một người bạn, đúng hơn là em út, v́ tôi vào đại học ở tuổi bạn ấy đă ra trường, sẽ sang học MBA ở Paris hoa lệ. Tôi nghĩ đến các bạn. V́ tôi luôn tin vào sự học hành, sự dấn thân của những người hiểu biết. Chúc các bạn luôn say mê với bàn phím và màn h́nh (thay cho bút vở), nhiều sức khoẻ, hạnh phúc và yêu Đất nước Quê hương. |
| Ba mũi giáp công.. NT Nh́n vào kế hoạch thực hien nghị quyết 36, chúng ta có thể nhân ra 3 mũi giáp công được thực hiện một cách nhịp nhàng, liên kết rất chuyên nghiệp. Mũi thứ nhất: Nếu theo dơi tin thời sự qua một diễn tiến trên khắp thế giới, ta phải để ư đến thông tin về những người Viet xuất cảnh theo nhiều ngả khác nhau. Thành phần di tản là thành phần đến Mỹ sớm nhất. Trong lúc ồ ạt chạy xuống tàu di tản, đă có một số cộng san chạy theo làm ṇng cốt chiến lược. Điều này Việt cộng đă thực hiện trong cuộc di cư năm 1954. Và bổn cũ tái diễn nam 75. Kế tiếp là thành phần vượt biên. Trong số này, không thiếu bo.n công an ch́m nổi cũng vượt biên theo, cùng gia đ́nh, hoặc ghép vào những gia đ́nh khác,và không ít đă đến được Mỹ và các nước khác. Thành phần Việt cộng thứ ba đi theo chương tŕnh HO. Bọn này có thể mua hồ sơ chính thức, giả tạo hồ sơ, hoặc ghép người, thế người, tráo người. Bản thân tôi biết ít nhất ba trường hợp thế ngươi, tráo người, mà một trong số này là cựu tù Cổng Trời và Thanh Cẩm. Thành phần Việt cộng sau cùng, thườug theo ngả hôn nhân thực hoặc giả, đặc biệt là thành phần Bắc Việt, qua ngả Trung quốc, Nga (Lien xô cũ), Đông Âu qua lần sang Pháp, Anh, Bắc Âu. Nhựng thành phần sau cùng này thường rất nhiều tiền. Bon chúng mua những biệt thự dắt tiền, ở những khu sang trọng. Chung chuyên tổ chức trồng cần sa va lưu chuyển ma túy để lũng đoạn giới trẻ với mục tiêu tạo nên một đạo quân tay sai ngày càng nhiều những thanh thiếu niên bị cột chặt vào cơn ghiền ma túy, và sẵn sàng bị sai khiến phải làm theo lệnh những tên trùm. Việt cộng. Những đường dây luân chuyển và sản xuất can sa ma túy, từ Bắc Âu, Anh quốc, qua Canada,London, Connecticut, đến Boston, Houston, San Francisco, Nam Cali lâu nay nhà chức trach đă nhận ra một số diểm chung: hầu hết bọn tội phạm đều gốc Bắc Việt. Chúng dều có những căn biệt thự đắt tiền. Chúng có rất nhiều tiền mặt. Thử hỏi, những người Việt tỵ nạn, phai lam lũ kiếm sống cho bản thân va gia đ́nh, làm sao có được phương tiện và tiền mặt quá nhiều như thế, nếu không phải xuất phát từ một hệ thống có kế hoach, có tài chánh. Và đây chính là một trong ba mũi giáp công của nghị quyết 36 rất thâm dộc của Việt cộng- chẳng khác trước 75, chúng cũng lũng đọcn miền Nam, kể cả quân đội Mỹ, bằng cần sa ma túy( mà Nguyễn cao Kỳ theo dư luận thời đó, cũng có tiếp tay?). Mũi thứ hai, la mặt trận văn hóa tư tưởng. Chúng xuat khẩu các loại sách báo qua các nước có người Việt tỵ nạn. Lúc đầu vài ba cuốn sách in lai, vô tội vạ, dần dần là những sach báo nghiên cứu, lich sử, chính trị trung lập, và sau cùng là chúng xử dụng ngay những tay sai nằm vung để thi nhau viết bài ca tung cộng sản và đánh phá gây nên bao cuộc dấu đá chia rẽ trong các cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản.Bọn tay sai, núp dưới nhiều h́nh thức, chiêu bài, từ tôn giáo đến chống cộng, chuyen đánh phá, bôi bẩn, thọc gậy bánh xe, khi th́ lư luận ṿng vo, khi th́ lổ măng thô tục hạ cấp. Càng ngày càng hiện nguyên h́nh là một bọn Việt gian tay sai cộng sản, đâm sau lưng những người Việt c̣n tinh thần quốc gia, c̣n thao thức với tiền đồ dân tộc.Bên cạnh đó, Việt cộng cho các đoàn văn công xâm nhập dươcí nhiều h́nh thức, từ cá nhân đến đoàn thể, bỏ nhiều ngân khoản bóc lột được của chính người Việt hải ngoại, thuê những rạp hát đắt tiền, không cần lời, chỉ cần ca hát ru ngủ đồng bào hải ngoại. Đáng tiếc là vẫn có những cá nhân hoặc tổ chức người Việt hải ngoại tiếp tay cho cộng sản v́ mối lợi riêng tư. Nguồn tin không chính thức c̣n cho biết, ư đồ của bọn t́nh báo hải ngoại của Việt cộng c̣n có kế hoạch tung tiền ra để mua đứt tờ báo này, đài phát thanh nọ, là cho người Việt tỵ nạn phải lên ruột. Mũi tấn công thứ ba, chính là mặt trận kinh tài hợp pháp cho Việt cộng tai hải ngoại dưới nhiều vỏ bọc. Và nguồn vốn th́ quá dồi dào chỉ nh́n từ góc tiền tệ người tỵ nạn gửi về Việt nam qua các trung tâm chuyển tiền th́ cũng đă có thể nh́n thấy cái mặt nổi của tảng băng. C̣n phần ch́m là những hoạt động kinh doanh hợp pháp như các ngành địa ốc, nhà hàng, siêu thị, ngân hàng, và bất hợp pháp (như cần sa ma túy đă nêu trên). Tóm lại, với một cuộc tổng nổi dậy ba mũi giáp công,Việt cộng đang muốn cho bộ máy chiến tranh chạy hết công suất.Chúng muốn xuất khẩu cuộc chiến ra bên ngoài lănh thổ trong lúc nội bộ gặp nhiều khó khăn, ngay ca trước làn sóng nổi dậy của người dân và những nhà tranh đấu cho dân chủ nhân quyền tại quốc nội. Đối với người Việt tỵ nạn, những người Việt quốc gia chân chính, c̣n có một tấm ḷng son sắt với tiền đồ tổ quốc dân tộc, th́ trận chiến đấu này là trận chiến cuối cùng. Thành bại là do chúng ta có quyết tâm và có đoàn kết được không. CVá nhân tập thể nào đoàn kết được dồng bào, làm dấy lên được tinh thần yêu nước chân chính sẽ nắm giũ được thắng lợi sau cùng. Tha thiết mong đồng bào giữ vững ư chí, vượt lên khỏi mọi tỵ hiềm chia rẽ, đặt quyền lợi của đất nước của dân tộc lên trên tất cả. Tran trong. NT |
| Ḥa Hợp Ḥa Giải Nguyễn Tường Bá Ḥa Hợp khác hẳn với Ḥa Giải, và cần phân tích riêng biệt (1). Ḥa Hợp Thế giới ngày nay đă rơ cộng sản vừa sai (2) vừa tai hại (3), người trí thức tự trọng không ai “hợp” với cái vừa sai vừa tai hại; chế độ cộng sản bất cứ ở đâu cũng phải sớm chấm dứt cho dân đỡ khổ. Ḥa Giải Hăy so với các Ḥa Giải trên thế giới xưa (Ḥa Giải nội chiến Hoa Kỳ 1860 – 1865) và nay (Ḥa Giải thống nhất Đức Quốc 1989): Binh sĩ bại trận miền Nam Hoa Kỳ thoải mái về quê với lương thực đi đường và được cấp cả ngựa để có thể sinh sống ngay, sĩ quan thua trận vẫn được giữ gươm. Nước Đức thống nhất không súng nổ, không giết ai và ngay Tổng Bí Thư cực đoan Erik Honecker cũng được tha; Tây Đức phải bỏ ra nhiều ngàn tỉ nuôi Đông Đức nghèo và kém phát triển. Chúng ta thấy trách nhiệm và gánh nặng Ḥa Giải do kẻ thắng trận đảm nhận, kẻ bại trận mất cả nước, tay trắng không có trách nhiệm. Ḥa Giải Việt Nam (Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa) không giống các cuộc ḥa giải trên thế giới v́: 1/ Hứa hẹn rất nhiều như “không người thắng kẻ thua,” “xóa bỏ hận thù,” “Ḥa Hợp Ḥa Giải,” v.v... nhưng thực tế lại ngược hẳn như “tù cải tạo tập trung,” “con cháu ngụy quân ngụy quyền,” “đánh tư sản mại bản,” “đổi tiền,” “đi kinh tế mới,” v.v... 2/ Đă hơn ba chục năm mà nhà cầm quyền chưa thực hiện Ḥa Giải, mới đây cho chỉnh trang Nghĩa Trang Quân Đội ở Biên Ḥa, nhưng lại trốn tránh trách nhiệm, trao cho tỉnh B́nh Dương và vẫn chưa chính thức nhân danh một quốc gia ḥa giải. Tinh thần và tấm ḷng như Tổng Thống Lincoln sau trận Gettysburg 1863 “những người lính miền Nam hay miền Bắc chết tại nơi, đây đều chết cho đất nước Hoa Kỳ” hay hy sinh tiền của để hàn gắn như Tây Đức lo cho Đông Đức xa lạ đối với đă bao thế hệ lănh đạo CSVN. Ḥa Giải là bước đầu phải có để một nước phục hồi sau nội chiến. Thật vậy Việt Nam đă lụi đụi (4). Nguy cơ cho dân tộc Việt ch́m đắm trong nô dịch rồi mại vong c̣n rơ rệt hơn bị lấn đất lấn biển (5). Ḥa Giải thật sự và tận gốc là điều thiết yếu để đoàn kết dân tộc cùng phấn chấn xây dựng thịnh vượng đất nước. H́nh ảnh tan hoang của Nghĩa Trang Quân Đội ở Biên Ḥa là phản ảnh t́nh trạng Ḥa Giải do CSVN đă nói lên sự thật về Ḥa Giải ở Việt Nam. Nên ghi nghĩa trang lính Đức Quốc Xă ở Pháp được chính phủ Pháp trang trọng tu sửa, các nghĩa trang chiến binh miền Nam Hoa Kỳ ly khai được Hoa Kỳ trông nom trang trọng và vẫn phất phới lá cờ miền Nam Hoa Kỳ ly khai. Đề Đốc Hoàng Cơ Minh sau khi tái chiếm Cà Mâu đă trang trọng chỉnh trang đài tử sĩ và mộ phần các chiến binh cộng sản. Nhà cầm quyền cho đến nay vẫn chưa trả lại các tài sản nhà cửa của những người lưu vong, nên nhớ Trung Cộng rất tôn trọng tài sản của dân lưu vong. Hận thù nên xóa, nhưng bất b́nh căm phẫn trước cái sai trái, tội ác mà xóa th́ chỉ có nơi những người không tim. Dân Do Thái, nhắc măi tội ác của Đức Quốc Xă, dân Trung Hoa với vụ tàn sát hăm hiếp của quân đội Nhật ở Nam Kinh 1937 và dân Nhật, hai quả bom nguyên tử, v.v... Ḥa Giải tận gốc và hoàn toàn đ̣i hỏi sự hiểu biết cuộc chiến với cái nh́n của quảng đại nhân dân Việt, đứng trên các phe lâm chiến (6), phê b́nh nghiêm khắc các kẻ gây chiến tranh, vinh danh các người chống chiến tranh, vinh danh các người chống chiến tranh cũng như đề nghị các biện pháp tránh nội chiến trong tương lai. Dân Việt ở Nam hay ở Bắc, không ai và không bao giờ lại muốn cốt nhục tương tàn: Ở miền Nam, bầu cử năm 1967, các liên danh Bồ Câu, Ḥa B́nh của nhiều nhân vật tượng trưng các thành phần xă hội (7), liên danh “Bồ Câu” Trương Đ́nh Dzu, một người không nổi tiếng, nhưng có thể đắc cử nếu cuộc bầu cử không gian lận (8). Trước đó năm 1965, chính phủ dân sự Phan Khắc Sửu với nội các với Phan Huy Quát – Trần Văn Tuyên mưu t́m giải pháp ngoại giao cho Nam Việt đă bị phe quân nhân Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ với giải pháp quân sự cho Việt Nam lật đổ. Ở miền Bắc, dân chúng không được bày tỏ nguyện vọng như ở miền Nam để chống lại con đường chiến tranh của Hồ Chí Minh. Tại hội nghị các nước phi liên kết Banduung 1956, lănh tụ trung lập quốc tế Thủ Tướng Nehru đă hết sức thuyết phục Hồ tránh chiến tranh nhưng không hiệu quả. Nhà văn Vơ Phiến đă viết: “Năm 1954, sau chín năm ê chề ṃn mỏi v́ chiến tranh, thấy ḥa b́nh ai nấy nhẹ nhơm, nếu có kẻ nào lúc đó mà xếp đặt một cuộc tàn sát nữa, kẻ ấy tất gan đồng dạ sắt – th́ Hồ Chí Minh đă xếp đặt cuộc tàn sát ngay vào thời kỳ ấy” (9). Tuy nhiên vài năm cuối đời, Hồ động ḷng trắc ẩn, muốn ngưng cuộc tàn sát chém giết, nhưng đă muộn v́ quyền lực đă rơi vào tay đám đàn em hiếu chiến của Hồ như Lê Đức Thọ, Lê Duẩn, Trường Chinh... Lê Đức Thọ hiếu chiến đến mức vứt giải Ḥa B́nh Nobel để được xâm chiếm miền Nam, cốt nhục tương tàn. Cuộc chiến mà Dương Thu Hương cho là ngu xuẩn nhất lịch sử dân tộc, cuộc chiến mà Hoa Kỳ, Nga Sô, Trung Cộng, Nam Việt và Bắc Việt đều thiệt hại (10); chỉ có đảng CSVN đắc lợi. Ước vọng ḥa b́nh được biểu lộ trong Nhân Văn Giai Phẩm (“chỉ thấy mưa xa trên màu cờ đỏ” Trần Dần... ) trong Tự Trào Xét Sai, chống đảng 1956 (“Chung Sống Ḥa B́nh” với Hoàng Minh Chính v.v...) Trung Quốc nhiều lần xâm lăng cũng như đô hộ Việt Nam nhiều năm. Đức Trần Hưng Đạo trước khi qua đời đă nói: “Khi giặc xâm lăng ồ ạt không đáng sợ và đáng sợ khi bị xâm chiếm ḥa hảo”; Việt Nam đang bị xâm chiếm ḥa hảo khi Trung Quốc thống nhất 1949 và vừa viện trợ cho Miền Bắc Việt Nam vừa lấn biên giới. Ngă theo Trung Quốc hoặc theo Hoa Kỳ, hoặc đứng giữa đều không đúng, thượng sách là Đoàn Kết Dân Tộc, giải pháp mà Hội Nghị Diên Hồng đă chứng minh, giải pháp này đ̣i hỏi CSVN phải từ bỏ 3 cái độc: độc tôn, độc đảng, và độc tài (11). Hơn ba triệu người gốc Việt trên thế giới dù chưa thành một tổ chức nhưng thành một thực thể có tiềm lực mạnh hơn quốc nội về kinh tế, trí tuệ và nhất là ngoại vận. Họ là công dân của các cường quốc và nước văn minh; sức ngoại vận của họ gấp bội, nếu không nói là gấp trăm lần sức ngoại vận của các đại sứ quán CSVN. Cầu mong, người gốc Việt ở hải ngoại và người Việt tiến bộ trong nước dấn thân đoàn kết dân tộc trong tự do dân chủ cho nước Việt có tương lai. Nguyễn Tường Bá, 2007 Cố vấn Phong Trào Dân Chủ Việt Nam Chú thích 1/ Tuyên truyền CSVN hay dùng chữ mập mờ đánh lận. Thí dụ “yêu nước là yêu Đảng” v.v... minh bạch rơ ràng thiết yếu trong ngăn chận tuyên truyền CSVN. Ngay cả trong các văn kiện hành chánh như Nghị Quyết 36 về Việt Kiều, CSVN cũng mập mờ dùng chữ Việt Kiều mà về pháp lư chỉ gồm những người Việt, nghĩa là có quốc tịch Việt nhưng ở ngoại quốc như các du sinh, các nhân viên đại sứ quán Việt, các người Việt du lịch ngoại quốc, nhưng không gồm chúng ta, những người mang quốc tịch ngoại quốc gốc Việt. 2/ Sự Suy Tàn Của Chủ Nghĩa Mác – do Lucio Colletti, Giáo Sư Triết, Đại Học La Mă, nguyên bản tiếng Ư nhan đề “Tramonto dell’ Ideologia” Laterza, Roma – Bari 1980 – 1981 mà Luật Sư Vương Văn Bắc đă điểm sách khúc triết trong cuốn Suy Tư, Paris 2003 trang 130. 3/ Nghị Quyết 1481 (25/1/2006) của Cộng Đồng Châu Âu lên án các chế độ cộng sản. Lời b́nh luận của Sử Gia Trần Gia Phụng về tương quan của Nghị Quyết 1481 với Việt Nam được phổ biến trên vnn-news.com vào Tết Bính Tuất. 4/ Học Giả Đỗ Thông Minh trích dẫn Economic Bulletin / Singapore ngày 14/4/2007 trang 738. Thống kê sự thay đổi lợi tức đầu người một năm trong 50 năm qua như sau: 1956 2006 Nhật 215 đô 30,000 đô Đài Loan 121 12,000 Mă Lai 246 4,520 Thái Lan 64 2,450 Nam Dương 87 1,150 Nam Việt Nam 144 550 (toàn Việt Nam) Chúng ta thấy sự phát triển của Việt Nam quá chậm so với các nước khác. Năm 1956, Việt Nam Cộng Ḥa hơn nhiều nước. Năm 2006, CHXHCN Việt Nam đứng hạng chót và thua xa các nước. 5/ Việt Nam nghèo phải trông cậy vào xuất cảng phụ nữ và sức lao động thanh niên cùng tiền gửi về của dân gốc Việt. Làng giàu nhất nước là làng Cương Gián (Hà Tỉnh), toàn nhà gạch, nhiều xe hơi, c̣n có tên là làng Hàn Quốc v́ toàn dân sống bằng lao động ở Hàn Quốc (mọi nghề chân tay kể cả bán thêm, v.v... ). Được CSVN phong tặng là anh hùng lao động năm 2005. Tin và tường thuật do Đoàn Dự, báo Việt Nam Cuối Tuần số 5287 ngày 21-4-2007, San Jose, Hoa Kỳ. Khoảng cách thua kém với các nước – nhất là so với Trung Quốc lại bị lấn đất chiếm biển – Nguy cơ mất nước đă bắt đầu có nhiều dấu hiệu suy thoái giống như việc mất nước của dân Chàm. 6/ Đối với Hoa Kỳ: “Hoa Kỳ đến Việt Nam v́ những quyền lợi chiến lược nhất thời, rời bỏ Việt Nam khi bài toán chiến lược đă đổi thay (với thế liên minh khách quan với Bắc Kinh, với tiến bộ kỹ thuật vơ khí... ), và chưa bao giờ Hoa Kỳ là người bạn thật sự của quảng đại nhân dân Việt Nam yêu chuộng tự do” – Vương Văn Bắc – Suy Tư, Paris 2003. Đối với các lănh tụ CSVN là chiến tranh ư thức hệ. Đối với Công Pháp Quốc Tế là cuộc xâm chiếm của Bắc Việt với Nam VIệt bất chấp các hiệp ước đă kư. Đối với quân cán chính miền Nam đó là chiến đấu tự vệ và trách nhiệm. Đối với toàn dân Việt, cũng như Sử Xanh, đó là cuộc chiến cốt nhục tương tàn. Bài Gia Tài Của Mẹ của Trịnh Công Sơn có nói lên ư nghĩa cuộc chiến và bị CSVN cấm. 7/ Phật Giáo Tổng Quan, Trần Quang Thuận – Trung Tâm Học Liệu Phật Giáo 2005, trang 237. 8/ Nguyễn Tường Bá và các liên danh bầu cử 1967 tố giác bầu cử gian lận. The Bunker Papers – Volume I, trang 144. 9/ Vơ Phiến, Bắt Trẻ Đồng Xanh, một đặc sắc được tái bản do Người Việt xuất bản 2006 trong Vơ Phiến Toàn Tập. 10/ Hoa Kỳ phải rút quân, Nga được thuê Cam Ranh nhưng cũng phải bỏ, Trung Cộng phải đánh CSVN năm 1979. Vô số kể bom đạn vũ khí các cường quốc đổ vào Việt Nam để dân ở đây khủng khiếp giết nhau. 11/ Đoạn Thay Lời Kết với nhau đề Chờ Mong Ǵ Nơi Đất Nước Ngày Mai, trong cuốn Nghĩ Về Ngày Mai Đất Nước – Vương Văn Bắc, Phạm Xuân Tích – Paris 2006, Euro 2006. |