Posted: 8/1/2007 3:55:48 AM
Tự do ngôn luận Tan Van Đoản Kiếm Tôi đi t́m cái định nghĩa của Tự do ngôn luận và vô t́nh vào trang wikipedia (Bách khoa toàn thư). Trong khi phần tiếng Anh th́ khá rơ ràng nhưng trong phần tiếng Việt chỉ vỏn vẹn có mấy ḍng. Phần tiếng Hán cũng chung số phận. Âu có lẽ dân châu Á ḿnh c̣n chưa thích cái “Tự do ngôn luận” này lắm, trong khi đó th́ dân Tây phương có lẽ thích cái quyền này hơn. Và thế là tôi quyết định đem cái văn chương “le nhaque” của tôi nhằm giới thiệu cùng đồng bào tôi một cái quyền làm người mà lẽ ra họ phải được hưởng. Lịch sử – Ư tưởng về một nền dân chủ đến với con người đầu tiên ở nền văn minh Hy Lạp (Greek) cổ đại. Cũng ở đó quyền tự do ngôn luận của con người được sinh ra. Tuy nhiên trong chế độ dân chủ của Hy Lạp thời bấy giờ, tự do ngôn luận chỉ được giới hạn trong khoảng một phần ba dân số (phụ nữ và những người lao động nô lệ không có được quyền này). Từ đó đến nay quyền tự do ngôn luận và tư tưởng dân chủ đă được phát triển và ngày càng đạt đến mức độ hoàn thiện của nó. Trong nhiều giai đoạn xă hội, yếu tố về quyền con người được nâng cao nhưng cũng có nhiều giai đoạn xă hội, ở những quốc gia nhất định quyền tự do ngôn luận của con người bị từ chối hay c̣n bị nhiều hạn chế. Tự do và những giới hạn – V́ tính chất của nó, quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền con người có nhiều tranh căi nhất. Đây là một quyền không tuyệt đối và luôn bị đặt vào các giới hạn. Khi dùng cái quyền được phát biểu của ḿnh một cách tự do, người ta dễ dàng xâm phạm quyền tự do của người khác; và hơn nữa, một người có thể lợi dụng quyền tự do ngôn luận để đưa thông tin sai lệch tới số đông quần chúng. V́ vậy, quyền tự do ngôn luận thường được đặt trong một khuôn khổ giới hạn. Những giới hạn này là nhằm tránh t́nh trạng gây rối, quấy nhiễu đến người khác chẳng hạn như giữa đêm la lớn tiếng hay tránh t́nh trạng người phát biểu ư kiến dùng từ ngữ thô tục. Tại các nước văn minh hiện nay người ta thường dùng các phần mềm tự động để xoá đi những từ ngữ không hợp với văn hoá của quốc gia trong những chương tŕnh truyền h́nh. Ngoài ra việc đưa thông tin sai lệch hoặc cố t́nh bôi nhọ người hay tổ chức khác đều bị nghiêm cấm và có thể bị tộị h́nh. Vậy rốt cuộc tự do ngôn luận là cái ǵ? Nói nôm na th́ tự do ngôn luận là tự do phát biểu ư kiến (nói hoặc viết) của mỗi người. Đây là một quyền con người nằm trong công ước quốc tế. (Trong điều 19 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền.) Quyền tự do ngôn luận bao gồm quyền được phát biểu ư kiến, quyền được bày tỏ thái độ cũng như cả quyền được biết, quyền được thông tin của công dân. 600 tờ báo cùng cất lên tiếng nói của 1 đảng Khi chúng ta nói về tự do ngôn luận, thông thường chúng ta nhấn mạnh về quyền tự do được phát biểu chính kiến (ư kiến về chính trị) và mọi người đựợc quyền thực hành cái quyền thiêng liêng này của ḿnh mà không phải bị bắt bớ tù đày, đe doạ, làm hại hay bị xâm phạm đến các quyền lợi khác của ḿnh. Quyền tự do ngôn luận, nói cụ thể hơn là quyền đựợc bày tỏ ư muốn của ḿnh trong việc xây dựng và điều hành xă hội, điều hành đất nước; là quyền tự do được bảo vệ ư kiến của ḿnh trước dư luận; là quyền tự do được bày tỏ ḷng yêu ghét một người khác hay một tổ chức, bất kể người đó là ai. Nói thẳng ra, nếu tôi không yêu đảng Cộng sản hay không thích Hồ Chí Minh th́ đó là ư kiến cá nhân tôi, không ai được cấm tôi nói ra điều đó. Nếu tôi cảm thấy “tiến lên Chủ Nghĩa Xă Hội” là con đường cụt sai lầm th́ tôi cũng có quyền biện luận cho ư kiến của tôi. Nếu tôi không cảm thấy an toàn khi sống trong một xă hội đầy dẫy tham nhũng, tôi có quyền được viết ư kiến của tôi lên báo, đưa lên mạng internet mà không ai được quyền cấm đoán. Chính quyền cũng chỉ là một tổ chức, là một nhóm người , và cũng chỉ được phép b́nh đẳng như những con người khác. Hiện nay, việc chính quyền Hà Nội quản lư chặt chẽ báo chí chính là họ đă vi phạm trắng trợn quyền được phát biểu của công dân. Hơn tám mươi triệu người nhưng chỉ có một nhóm nhỏ người có quyền được nói, và nói thay cho tám mươi triệu người c̣n lại Những luận điệu như “trong khuôn khổ luật pháp” của họ thực ra quá ư là mơ hồ, hay luận điệu “xâm phạm an ninh quốc gia” là một sự vu khống trắng trợn cho những người bày tỏ chính kiến một cách hoà b́nh. Luật pháp cấm công dân được nói chuyện chính trị? hay luật pháp cấm công dân được nói khác ư đảng? Hăy làm một phân tích nhỏ về sự quản lư báo chí của Hà Nội. Mọi tờ báo trong nước đều phải được Đảng Cộng sản cho phép, Tổng biên tập phải là đảng viên. Tất cả phải chịu sự kiểm duỵêt của ban Văn Hoá ... và nếu ai làm sai (ư Đảng) lập tức bị đóng cửa. Thế th́ mấy trăm tờ báo lập tức có một tiếng nói chung: Tiếng nói của Đảng Cộng sản! Và không mấy ai ngạc nhiên khi 600 tờ báo đồng loạt đăng và không đăng những tin nhạy cảm giống hệt nhau. Thế c̣n tiếng nói của dân đen ở đâu? 600 tờ báo đại diện cho đảng th́ phải có ít ra 10,000 tờ báo đại diện cho dân mới tương quan lực lượng chứ? Hoặc ít cũng phải có đựơc một tờ th́ mới dám bàn đến tự do ngôn luận. Coi những cuộc tranh luận trên truyền h́nh ở những quốc gia tiến bộ mới thấy hết cái phản động của chính quyền Hà Nội. Mọi ứng cử viên ra tranh luận đều được phân chia thời gian bằng nhau để nói. Các đảng đối lập đều được sắp xếp các lịch phát sóng bằng nhau. Thế mà ở đất nước tự do triệu lần của chúng ta, toàn bộ thời gian và các cột báo đều được dành cho Đảng. Vậy là dân ta dẫn xác ra hè phố để nói. Cộng sản lại hè nhau đem súng ống, lựu đạn cay, xe cam nhông ra xúc như xúc tép. C̣n chổ nào cho dân được quyền nói hỡi ông chính quyền? Bởi v́ mọi người sinh ra đều b́nh đẳng, nên mọi người phải được b́nh đẳng nói lên ư kiến của ḿnh. Khi con người bị lấy mất cái quyền thiêng liêng của ḿnh là quyền được nói, và cả quyền được biết, con người trở thành một “con vật”, chịu sự điều khiển bởi những “con vật” khác, th́ sự b́nh đẳng bị phá vỡ, con người bị chia thành hai tầng lớp: kẻ thống trị và người bị trị. Tư tưởng về tự do ngôn luận luôn đi kèm với một nền dân chủ chính là như vậy. Ngay cả quyền được biết của công dân cũng đă và đang bị Hà Nội xâm phạm trắng trợn. Họ chia đất chia biển với Trung quốc ra sao nhân dân không ai được biết. Kết quả thuyền dân đánh cá bị bắt, bị giết là hậu quả tai hại của việc bưng bít thông tin. Công dân không những có quyền biết về diện tích, lănh hăi, lănh thổ của đất nước ḿnh mà c̣n có quyền được biết về đời tư, tài sản của những người lănh đạo đất nước. Những cái này c̣n rất hạn chế tại Việt nam hiện nay và đó là kết quả của sự kiểm soát báo chí của đảng Cộng sản. Trong các phiên bản thực hành quyền tự do ngôn luận th́ mỗi một quốc gia có những quy định riêng để giới hạn. Ở các quốc gia tiến bộ th́ phần lớn các hạn chế là để phát huy tốt hơn cái quyền thiêng liêng của con người nhưng cũng có một số chính quyền dùng những chế tài này đặc biệt là để từ chối quyền tự do của công dân, để bịt miệng công dân của họ. “I am the law.” Tao là luật. Điều này rơ ràng đang tồn tại ở những đất nước đang bị những tập đoàn độc tài cai trị. Họ đứng trên cả luật pháp bởi v́ họ là luật và ngay cả khi con người sinh ra có cái miệng, th́ họ cũng chỉ cho phép cái miệng chỉ dùng để bỏ cái ǵ đó vào bao tử và được phép tung hô vạn tuế cái đám cầm quyền Đấu tranh – Không có tự do nào tự nó đến. Không có nền dân chủ nào được sắp đặt sẵn cả. Ngay cả ở Hoa kỳ, một trong những xứ sở nơi mà con người có nhiều quyền tự do nhất th́ tự do cũng không phải tự nó có. Muốn có tự do, người Mỹ đă phải đấu tranh cho những thứ mà họ có. Năm 1767, 1768 khi những công dân thuộc địa Massachusetts phản ứng về thuế trà th́ vua George III và quốc hội thực dân Anh đă đàn áp, hay từ 1840 đến 1845 phong trào chống đối chế độ nô lệ đă bị từ chối nhiều lần tại quốc hội Mỹ. Nói như vậy không phải để nói rằng nước Mỹ thiếu tự do mà đó là lịch sử, và lịch sử đă cho thấy rằng quyền tự do ngôn luận hay bất cứ quyền nào mà con người dành được đều phải qua một giai đoạn đấu tranh ác liệt với cái cũ, cái lỗi thời, cái phản động. Mọi người sinh ra đều b́nh đẳng. Đó chỉ là giấc mơ, và chúng ta phải đấu tranh để đưa giấc mơ đó thành hiện thực. 30 tháng 7 năm 2007 © DCVOnline
Posted: 8/1/2007 3:59:34 AM
....Đoản Kiêm.....Vậy rốt cuộc tự do ngôn luận là cái ǵ? Nói nôm na th́ tự do ngôn luận là tự do phát biểu ư kiến (nói hoặc viết) của mỗi người. Đây là một quyền con người nằm trong công ước quốc tế. (Trong điều 19 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền.) Quyền tự do ngôn luận bao gồm quyền được phát biểu ư kiến, quyền được bày tỏ thái độ cũng như cả quyền được biết, quyền được thông tin của công dân. 600 tờ báo cùng cất lên tiếng nói của 1 đảng Khi chúng ta nói về tự do ngôn luận, thông thường chúng ta nhấn mạnh về quyền tự do được phát biểu chính kiến (ư kiến về chính trị) và mọi người đựợc quyền thực hành cái quyền thiêng liêng này của ḿnh mà không phải bị bắt bớ tù đày, đe doạ, làm hại hay bị xâm phạm đến các quyền lợi khác của ḿnh. Quyền tự do ngôn luận, nói cụ thể hơn là quyền đựợc bày tỏ ư muốn của ḿnh trong việc xây dựng và điều hành xă hội, điều hành đất nước; là quyền tự do được bảo vệ ư kiến của ḿnh trước dư luận; là quyền tự do được bày tỏ ḷng yêu ghét một người khác hay một tổ chức, bất kể người đó là ai. Nói thẳng ra, nếu tôi không yêu đảng Cộng sản hay không thích Hồ Chí Minh th́ đó là ư kiến cá nhân tôi, không ai được cấm tôi nói ra điều đó. Nếu tôi cảm thấy “tiến lên Chủ Nghĩa Xă Hội” là con đường cụt sai lầm th́ tôi cũng có quyền biện luận cho ư kiến của tôi. Nếu tôi không cảm thấy an toàn khi sống trong một xă hội đầy dẫy tham nhũng, tôi có quyền được viết ư kiến của tôi lên báo, đưa lên mạng internet mà không ai được quyền cấm đoán. Chính quyền cũng chỉ là một tổ chức, là một nhóm người , và cũng chỉ được phép b́nh đẳng như những con người khác. Hiện nay, việc chính quyền Hà Nội quản lư chặt chẽ báo chí chính là họ đă vi phạm trắng trợn quyền được phát biểu của công dân. Hơn tám mươi triệu người nhưng chỉ có một nhóm nhỏ người có quyền được nói, và nói thay cho tám mươi triệu người c̣n lại Những luận điệu như “trong khuôn khổ luật pháp” của họ thực ra quá ư là mơ hồ, hay luận điệu “xâm phạm an ninh quốc gia” là một sự vu khống trắng trợn cho những người bày tỏ chính kiến một cách hoà b́nh. Luật pháp cấm công dân được nói chuyện chính trị? hay luật pháp cấm công dân được nói khác ư đảng? .......
Posted: 8/1/2007 4:05:19 AM
.....Đoản Kiêm...Đấu tranh – Không có tự do nào tự nó đến. Không có nền dân chủ nào được sắp đặt sẵn cả. Ngay cả ở Hoa kỳ, một trong những xứ sở nơi mà con người có nhiều quyền tự do nhất th́ tự do cũng không phải tự nó có. Muốn có tự do, người Mỹ đă phải đấu tranh cho những thứ mà họ có. Năm 1767, 1768 khi những công dân thuộc địa Massachusetts phản ứng về thuế trà th́ vua George III và quốc hội thực dân Anh đă đàn áp, hay từ 1840 đến 1845 phong trào chống đối chế độ nô lệ đă bị từ chối nhiều lần tại quốc hội Mỹ. Nói như vậy không phải để nói rằng nước Mỹ thiếu tự do mà đó là lịch sử, và lịch sử đă cho thấy rằng quyền tự do ngôn luận hay bất cứ quyền nào mà con người dành được đều phải qua một giai đoạn đấu tranh ác liệt với cái cũ, cái lỗi thời, cái phản động. Mọi người sinh ra đều b́nh đẳng. Đó chỉ là giấc mơ, và chúng ta phải đấu tranh để đưa giấc mơ đó thành hiện thực. 30 tháng 7 năm 2007 © DCVOnline
Posted: 8/1/2007 4:29:00 AM
việt nam khác ǵ chó chưởi mèo chanh dần miếng thịt cục sương ai thắng ai thua đă rơ ràng rồi ! nếm mùi cs đă quá xá biết đâu là lệ đổ chưa việt nam ơi ! nói cho đúng việt nam làm ǵ có tự do thật sự đâu ! việt nam v́ miếng ăn mà cán xé nhau không thương tiếc cùng một chủng tọc , thẩm chí cha con vẫn câm thù nhau do đó cũng v́ miếng ăn mà phải đâm nhau hại nhau quá đáng việt nam ơi quá sợ rồi ! vn luật pháp không ra chi mà c̣n đ̣i pháp quyền thậT quá đáng , vn c̣n tính kế hoạch gấn cái miệng vào lộ đít để khỏi hao lương thực , nướcc vn là chính quyền ma chuyêm hút máu dân và dân tọc quá đáng không thể chấp nhận cs vn làm việc đạo đức ma ,chào csvn chó ghẻ vn quên đi đồ thứ loài giạc cộng nô thật đáng khink khi chính là csvn chó ghẻ vn chó đẻ ......
Posted: 8/1/2007 7:33:54 AM
CUỘC ĐẤU TRANH ĐI VỀ ĐÂU? Sau khi cuộc biểu t́nh tại Văn Pḥng 2 Quốc Hội Việt Cộng ở Saigon của 1,700 dân oan Tiền Giang, bị công an Việt Cộng dùng bạo lực dẹp tan, th́ dân oan các tỉnh Đắc Lắc, Lao Kay, Cần Thơ, Đà Nẳng, Đồng Nai, Saigon, Hà Tây, Thái B́nh và cả Hà Nội cũng kéo về trụ sở tiếp dân của Trung Ương Đảng để khiếu kiện. Đặc biệt có 3 đứa bé đứa lớn nhất là Nguyễn Thị Hiền, 15 tuổi, đứa thứ hai là Nguyễn Thị Thúy, 13 tuổi và cháu nhỏ nhất Nguyễn Thanh Thuyên mới 6 tuổi cũng lên Hà Nội khiếu kiện. Cháu Hiền mang biểu ngữ: “Mẹ của 3 chị em cháu chết oan. Mong các ông Bác thương chúng cháu mà công tâm”. Riêng cháu Thúy mang di ảnh của người mẹ quá cố của chúng mới 33 tuổi đời. Không phải chỉ có bấy nhiêu người đi khiếu kiện, đi biểu t́nh, mà có tới 1 triệu 3 trăm ngàn người, đại diện cho gia đ́nh đi khiếu kiện. Đây là con số do Việt Cộng đưa ra từ 2 năm trước. Khiếu kiện đă trở nên một phong trào ngày càng lớn mạnh, họ không có âm mưu chính trị, không do ai xúi dục như Việt Cộng vu khống, họ chỉ v́ bị đảng viên của đảng Cộng Sản cướp bóc nhà đất, phương tiện sinh sống độc nhất của họ nên đă bất chấp mọi sự, kể cả tù tội hay tính mạng bị đe dọa mà đi khiếu kiện. Phong trào này sẽ không bao giờ tàn lụi mà ngày một “phát triển”, ngày càng có thêm nhiều “đoàn viên” gia nhập. Họ không nạp đơn gia nhập cho “tổ chức” v́ không ai tổ chức, họ nạp đơn gia nhập cho Việt Cộng. Cơ quan tổ chức và phát triển phong trào này không ai khác hơn là cán bộ đảng viên Cộng Sản. Chính những đảng viên Cộng Sản đă ăn cướp đất đai của dân mà tạo ra phong trào khiếu kiện, biểu t́nh này. Có người mới đi khiếu kiện như 3 em bé nói trên, có người khiếu kiện đă 10 hay 15 năm, có người đi khiến kiện 20 năm. Việt Cộng không có cách nào dẹp được phong trào này, v́ chính Việt Cộng là thủ phạm làm cho phong trào này lớn mạnh, chính tham nhũng đă khiến cho dân chúng mất nhà, mất cửa, chính cán bộ Cộng Sản mới có cơ hội, có quyền hành để tham nhũng th́ cũng chỉ khi nào không c̣n cán bộ Cộng Sản nữa, lúc đó phong trào dân oan khiếu kiện mới đương nhiên giải tán. Chính kết luận này làm cho cán bộ Việt Cộng từ những tên chóp bu như Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng … đến các tên ở xă ủy địa phương sợ hăi, nhưng chúng cũng bất lực. Bất lực v́ chính ḷng tham của chúng gây nên. Ḷng tham này phát sinh và phát triển do độc tài đảng trị, v́ vậy chỉ khi nào hết độc tài ḷng tham bị trấn áp từ trong trứng nước bởi pháp luật nghiêm minh, tham nhũng không có cơ hội phát triển, lúc đó mới hết dân oan đi biểu t́nh, đi khiếu nại. Lần đầu tiên tại một nước độc tài Cộng Sản, có một cuộc biểu t́nh quy tụ cả ngàn người, kéo dài gần một tháng ở nơi đông đúc dân cư và nhiều tai mắt ngoại quốc, nhiều cơ quan truyền thông quốc tế là Saigon, mà Việt Cộng vẫn để một thời gian dài mới “liều mạng” dùng bạo lực để giải tán. Tuy đă giải tán được đám đông, nhưng hậu quả của việc làm này có tầm quan trọng lớn lao đối với Việt Cộng. Cả thế giới đă lên án Việt Cộng v́ vụ đàn áp những nhà phản kháng ôn ḥa chưa dứt th́ Việt Cộng lại dùng bạo lực đàn áp những người dân khốn khổ đi kêu oan. Và các tầng lớp dân chúng ở khắp nơi trên lănh thổ Việt Nam không cần báo chí thông tin, không cần đài phát thanh, phát h́nh loan tin, người dân tại mỗi địa phương đều biết rơ, v́ chính họ là một phần tử của phong trào này, họ cũng bị cướp đất, cướp nhà. Việt Cộng đă dồn dân chúng đến bước đường cùng, chắc chắn dân chúng cũng sẽ đưa Cộng Sản đến chỗ chết! Đó là qui luật sống. Cuộc chiến một mất một c̣n này không thể tránh khỏi trừ phi Cộng Sản hồi tỉnh cơn mê, trừ phi trong hàng ngũ Cộng Sản có kẻ v́ sự sống c̣n của đảng viên mà mạnh dạn đứng lên, chấp nhận quyền lợi tối thiểu của người dân, trả lại hoặc bồi thường cho họ, không chỉ đất đai đă bị chiếm đoạt mà cả quyền sống, quyền công dân. Như trên đă nói, phong trào này không thể nào dẹp tắt được, trái lại nó sẽ ngày một phát triển và lúc đó quốc gia sẽ đi đến một bước ngoặc lịch sử mà không ai biết sẽ xảy ra như thế nào, một cuộc cách mạng xanh như ở Liên Sô cũ và Đông Âu, một cuộc cách mạng cam như ở Urkraina, hay một cuộc cách mạng đẫm máu nhất chưa từng có trong lịch sử Việt Nam? Ngoài đảng Cộng Sản ra, ai là người trách nhiệm trong phong trào dân oan khiếu kiện này? Phải kể trước tiên là các nhà lănh đạo tôn giáo, thứ đến là hàng ngũ trí thức và người Việt tị nạn khắp nơi trên thế giới. Thực vậy, các tôn giáo đều dạy phải rao giảng công b́nh, sự thật và bác ái. Hơn ai hết, các vị lănh đạo tôn giáo ở trong nước đă mắt thấy tai nghe những oan khiên, bóc lột, hà hiếp mà người dân phải gánh chịu mấy chục năm qua, hơn ai hết, các nhà lănh đạo tôn giáo có bổn phận của một kẻ trí thức, công dân, vừa có bổn phận với tôn giáo ḿnh phải nói lên sự thật, phải binh vực kẻ cô thế, kẻ hàm oan. Chính bổn phận của các vị lănh đạo tôn giáo phải mở ḷng mở trí cho những kẻ tàn bạo, độc ác như Cộng Sản, hướng dẫn chúng về đường ngay nẻo chánh của con người, bởi v́ trong những con người độc ác đó, tôn giáo nào cũng tin tưởng rằng họ vẫn c̣n ẩn chứa một h́nh ảnh của thượng đế, của Phật, dù là Phật chưa thành. Thế mà bao năm qua, hầu hết các nhà lănh đạo tôn giáo đều im lặng. Hầu hết chứ không phải tất cả, v́ h́nh ảnh Ḥa Thượng Thích Quảng Độ đứng giữa đám đông dân oan khiếu nại đă làm mọi người, nhất là dân oan biểu t́nh xúc động đến rơi nước mắt. Nếu có hàng trăm Thích Quảng Độ, hàng ngàn Thích Quảng Độ chắc chắn phong trào dân oan khiếu kiện biểu t́nh sẽ bị dẹp tan. Bị dẹp tan không phải v́ bạo lực, dẹp tan không phải v́ chấp nhận để cho đảng viên Cộng Sản cứ tha hồ cướp bóc, tham nhũng, hà hiếp dân chúng, mà bị dẹp tan bởi đảng viên Cộng Sản được giúp đỡ và nhận chân sự thật là chúng không thể tiếp tục con đường độc tài, độc ác mà phải quay về với lẽ phải, với công b́nh để cùng sống chung với dân tộc. Tiếc thay! Chỉ có một Thích Quảng Độ, vị lănh đạo tôn giáo duy nhất đứng giữa đám khiếu kiện. Sự vắng bóng các vị lănh đạo tôn giáo khác không phải v́ tôn giáo họ chủ trương phù trợ kẻ ác, hay chấp nhận kẻ ác như một phương tiện để lên nát bàn hay thiên đàng, họ vắng bóng chỉ v́ họ cũng như đảng viên Cộng: Sợ Hăi. Sự sợ hăi từ trong ḷng họ khiến họ không bước đi được, không mở miệng ra được, dù thiên chức của họ là rao giảng. Bằng chứng là linh mục Nguyễn Văn Lư đă hiên ngang rao giảng Sự Thật, Công Lư và đă bị tù tội, bị bỏ rơi, vu khống… Những ngày gần đây, Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn đă có 2 bức thư, có thể gọi là thư mục vụ mà cũng có thể nói là thư có tính cách chính trị. Bức thư thứ nhất Ngài gởi cho đám linh mục quốc doanh phục vụ Cộng Sản trong tờ báo Công Giáo và Dân Tộc. Bức thư thứ 2 Ngài gởi cho một linh mục đă bỏ đạo mà c̣n núp sau chiếc áo chùng thâm để phá đạo, linh mục Nguyễn Thái Hợp trong Câu Lạc Bộ Nguyễn Văn B́nh (tên Đức cố Tổng Giám Mục Nguyễn Văn B́nh). Bức thư thứ nhất Ngài chứng minh báo chí Việt Cộng nhiều lần nói láo mà băn thân Ngài cũng đă là nạn nhân. Bức thư này Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn cũng cố ư thanh minh giùm cho Chủ tịch Nước Việt Cộng Nguyễn Minh Triết là ông ta bị tờ báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận chính thức của đảng Cộng Sản vu oan cho Nguyễn Minh Triết, như đă từng vu oan cho Ngài. Dù sao, đây cũng là một cách rao giảng sự thật! Và đồng thời Ngài cũng chứng tỏ sự đồng ư của Ngài trong việc Đức Cha Nguyễn Văn Ḥa, nhân danh Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam phản đối Chủ Tịch Việt Cộng là một hành động bắt buộc phải có. Trong bức thư thứ 2, Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn đă đưa ra những “sự cố” trong tiến tŕnh Giáo Hội hợp tác hay không hợp tác với Việt Cộng, qua từng giai đoạn lịch sử của Việt Nam, mà theo Ngài th́ những sự hợp tác với Việt Cộng trong lănh vực Giáo dục đều không mang lại kết quả tốt đẹp như mong ước, trái lại đó là những sự hợp tác nối giáo cho giặc phá hoại đất nước. Một mặt nào đó, đây là một sự rao giảng cho chân lư, nhưng mặt khác cũng là một hành vi chính trị, v́ chỉ trích nhà cầm quyền đương thời tham nhũng và bất tài, bất lực đă đào tạo các thế hệ tương lai của dân tộc trở thành những kẻ gian dối, lừa gạt, tham nhũng. Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn đă chứng minh: “… thực tế cho thấy là giai cấp vô sản biến nhân dân thành vô sản, và tự biến ḿnh thành một giai cấp mới mà tôi nghe nhiều người gọi là tư bản đỏ. Ngày nay khi mà một viên chức Nhà Nước phải chia 1.000 tỷ đồng cho người vợ ly dị, th́ không c̣n là tư sản nữa, mà phải gọi là tư bản hay đại gia đỏ” . Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn lúc c̣n là Tổng Giám Mục cũng đă phát biểu với linh mục Quốc Doanh Nguyễn Tấn Khóa, rằng chế độ Việt Cộng là chế độ XIN – CHO. Quyền hạn của dân chúng bị Việt Cộng nắm gọn trong tay, dân chúng muốn ǵ cũng phải xin và cho hay không cho tùy ư Việt Cộng. Đây cũng 2 bức thư vừa có tính cách mục vụ cũng vừa có tính cách chính trị v́ chỉ trích kẻ đương quyền áp dụng một lối cai trị độc tài và ngu dốt. Tiếc thay khi những biến cố có tính cách sinh tử của dân tộc như dân oan khiếu kiện, như phá thai “lạm phát”, như hàng chục, hàng trăm ngàn phụ nữ và cả trẻ em bị Việt Cộng xuất cảng ra hải ngoại để làm nô lệ t́nh dục, để bị bày bán như những con vật; c̣n thua con vật, v́ con vật… th́ Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn lại nhắm mắt, bưng tai. Trước cuộc biểu t́nh rầm rộ của dân oan, một số tín đồ Công Giáo ở hải ngoại đă viết thỉnh nguyện thư van nài Hội Đồng Giám Mục lên tiếng binh vực dân oan biểu t́nh theo tinh thần giáo lư, cũng bị các Đức Cha bỏ vào sọt rác. Trong khi đó, một tên linh mục bỏ đạo theo Đảng Cộng Sản đă phát biểu một cách đần độn và phi giáo lư rằng Giáo Hội Công Giáo không bắt chước ai! Tên này đă ăn phải bả Cộng Sản nên quên rằng Chúa Giê Su đă từng nói nếu kẻ nào không trở nên như những đứa trẻ này th́ không được vào nước Thiên đàng! Hơn nữa! Suốt 33 năm tại thế Đức Chúa Giê Su đă nói rằng hăy học cùng ta, v́ ta hiền lành và khiêm nhượng trong ḷng! Ăn phải bả Cộng Sản th́ chỉ bài tiết ra những câu nói dơ bẩn, phản đạo. Để tránh cho dân tộc phải trải qua một cuộc cách mạnh đỏ, đẫm máu, xin tất cả các vị trí thức, lănh đạo tinh thần, tôn giáo, giới cầm bút và tất cả mọi người Việt Nam hăy ủng hộ dân oan khiếu kiện, hăy tỏ thái độ thẳng thắn đối với Việt Cộng, phải giáo dục chúng đường ngay nẻo thật, v́ một khi cuộc cách mạng xảy ra, không ai biết được nó màu xanh, màu vàng, màu cam hay màu đỏ. LÊ VĂN ẤN
Posted: 8/1/2007 8:49:34 AM
Từng theo dơi những bài viết của ông Chu Tất Tiến , tôi cảm thấy rất mến mộ và cảm phục , hôm nay được dịp đọc bài viết của ông trả lời HVXN tôi thấy cần thiết phải lên tiếng để ủng hộ tinh thần cũng như nói lên quan điểm của một người tạm gọi là thuộc về đám quần chúng , thầm lặng , ít có th́ giờ cũng như cơ hội để nói lên tiếng nói của mịnh Vâng , thưa qúy vị những lối phát ngôn , phát biều cưỡng từ đoạt lư , cứ kết luận khơi khơi mà không hề đưa ra một số liệu , thống kê , suy tầm nguồn gốc tin tức ḿnh thu lượm , cũng như đánh giá , kiểm chứng xem có khả tín hay không để bảo vệ cho luận chứng hay quan điểm của ḿnh , phát biểu của ông HVXN về HO th́ đại loại cũng như những bản tin ở trong nước (có h́nh ảnh đàng hoàng !!) nói rằng ở Mỹ dân chúng cùng khổ đến nỗi phải bới thùng rác kiếm ăn vậy . (Ông Chu Tất Tiến gửi lời cám ơn vị nào viết bài này - HV)
Posted: 8/1/2007 2:57:25 PM
Ngọn lửa chưa tàn!!!i (LÊN MẠNG Thứ tư 1, Tháng Tám 2007) Bán nguyệt san Tự do Ngôn luận (số 32, ngày 01-08-2007) Trong đêm kinh hoàng 18-07-2007 tại Văn pḥng 2 Quốc hội CSVN, với cả ngàn công an, dân quân ch́m nổi, thậm chí xă hội đen trang bị tận răng; với đủ thứ cơ giới từ môtô, xe jeep, xe tăng, xe tù, xe chữa lửa đến xe cứu thương, xe chở súc vật; với các phương tiện chống biểu t́nh hiện đại gồm lựu đạn cay, loa phóng thanh, máy phá sóng, đèn cao áp, ṿi rồng xịt nước, b́nh chữa lửa; với cả đủ bộ sậu cao cấp nằm phục ở trung tâm Sài G̣n hay có mặt tại chỗ từ phó Thủ tướng, thứ trưởng bộ Công an đến các lănh đạo địa phương thuộc 19 tỉnh thành; với lực lượng (bóp méo) thông tin hùng hậu của công an, của Việt Nam thông tấn xă, của các báo đài nô ngôn bồi bút...; với đủ biện pháp phong tỏa từ ngăn chặn đường vào, khóa sóng điện thoại đến lợi dụng đêm khuya, cúp đèn khu vực, phát thanh kiểu lừa gạt, dọa dẫm những ai có thể loan tin ra ngoài... Cộng sản tưởng đă dập tắt được ngọn lửa Dân oan bùng cháy từ 27 ngày qua. Bên ngoài xem ra như thế, bởi lẽ trong số khoảng 600 dân oan tử thủ mà đa phần là phụ nữ và người già, ai vừa đứng lên th́ đă bị b́nh chữa lửa phun vào mặt, ai vừa cất tiếng th́ đă bị những cánh tay hộ pháp bịt mồm, ai vừa xông ra phản đối th́ đă bị roi điện dùi cui vụt xuống tới tấp, ai định tháo chạy th́ đă có ngay bốn tên "chó săn, đầu gấu" xông vào, vật ngửa, ném lên xe như một con vật. Chỉ sau vài tiếng đồng hồ, khu vực Văn pḥng 2 Quốc hội đă trở lại cảnh khang trang xinh đẹp, v́ bao nhiêu lều bạt, biểu ngữ, vật dụng, kể cả cờ đảng, cờ nước, ảnh lănh tụ, ảnh liệt sĩ đều đă nằm yên trên xe rác; ṭa nhà các "đại biểu nhân dân" đă lấy lại vẻ sạch sẽ tươi tắn, v́ hàng chục ṿi rồng đă xịt trôi hết mồ hôi, nước mắt và máu của đám dân lành; đă t́m lại bầu khí im ắng trang nghiêm, v́ những tiếng thét phẫn uất, tiếng khóc đau đớn của những kẻ biểu t́nh chỉ c̣n văng vẳng trong xe tù, xe đ̣, xe cứu thương, xe chở súc vật đóng chặt cửa. Tân Quốc hội khóa 12 sẽ khai mạc ngày mai trong tư thế đĩnh đạc, những đại biểu của dân sẽ ung dung đi vào pḥng họp với tâm hồn thư thái! Đảng lại một lần nữa tỏ ra bách chiến bách thắng, thật xứng là đảng quang vinh!?! Nhưng cũng chính lúc ấy, ngọn lửa đă lan ra và bừng cháy nơi những chứng nhân tại chỗ của đêm kinh hoàng: "Tất cả mọi người hăy nhớ lấy hôm nay mà kể từ đây tôi sẽ gọi là NGÀY DÂN HẬN. Tôi cũng tuyên bố với tất cả các Đảng viên Cộng sản, những người "thề trung thành với lư tưởng Cộng sản" rằng kể từ hôm nay, giờ phút này, tôi chính thức tuyên thệ không đội trời chung với các người! V́ chính hôm nay, mắt tôi đă thấy, tai tôi đă nghe cái mà các người gọi là "của dân, do dân, v́ dân". Chính hôm nay, tôi đă biết thế nào là CộNG SẢN!" (Trần Văn Hải). "Dưới con mắt chính quyền, dân oan chúng tôi là những người thiếu hiểu biết bị bọn xấu lợi dụng và lôi kéo nên thưa kiện lung tung làm mất an ninh trật tự. Họ vu cáo cho đồng bào thương dân yêu nước ở hải ngoại đă kích động xúi giục dân oan biểu t́nh, nhưng quả thật họ không biết mắc cỡ là ǵ với dư luận. Đồng bào hải ngoại nào đă cướp đất đai, ruộng vườn của dân? Đồng bào hải ngoại nào đă vu cáo gán tội, xử án oan sai đầy rẫy cho nhân dân trong nước, đẩy dân chúng vào cảnh lầm than không sao xiết kể? Câu trả lời là chính họ, chính nhà cầm quyền trong nước là thủ phạm gây ra những thảm kịch đó chứ chẳng có hải ngoại hay tư bản đế quốc nào vào đây cả!!! Họ đừng quen thói gắp lửa bỏ tay người! Màn đó xưa quá rồi! Thật là vừa ăn cướp vừa la làng mà không biết nhục!!!" (Lư Thị Thu Duyên). Dĩ nhiên đây cũng là tâm t́nh của mọi ai máu đỏ da vàng đang bừng bừng phẫn nộ trước thảm nạn dân oan và sự bạo tàn của lũ người không c̣n biết thế nào là nghĩa đồng bào, t́nh tự dân tộc. Ngọn lửa dân oan ấy, trước đó một ngày, hôm 17-7-2007, đă được khơi bùng lên bởi một vị cao tăng khả kính nhân chuyến viếng thăm đồng bào của ngài, Ḥa thượng Thích Quảng Độ. Những lời cháy bỏng của vị bồ tát cứu khổ cứu nạn đă như thiêu đốt mọi con tim: "Đồng bào có nhà có cửa, có cơ nghiệp, mà nay phải dầm sương dăi nắng như thế này, rồi đ̣i hỏi mà chẳng được giải quyết. Muốn cho t́nh trạng này không c̣n xẩy ra nữa, th́ chúng ta phải đ̣i cho bằng được nhân quyền, công lư và công bằng xă hội. Buộc họ phải trả lại quyền sống và quyền làm người cho ta là vấn đề quan trọng nhất. Muốn như thế, th́ phải chấm dứt cái nạn độc quyền cai trị. Bởi v́ độc quyền đưa đến bao nhiêu thối nát và bất công như thế này đây! Phải đ̣i hỏi một chế độ đa nguyên, đa đảng, đại diện đầy đủ cho 80 triệu dân. Chứ chỉ có một đảng th́ không thể giải quyết được ǵ cả. Như thế đă là bất công rồi! 80 triệu dân mà sao chỉ có một đảng...? Do đó cần phải có những đảng phái khác nữa đại diện đủ mọi khuynh hướng cho 80 triệu dân, th́ mới giải quyết được. Chuyện trước mắt là đ̣i lại công lư, là tài sản trả lại cho đồng bào, sau đó phải đ̣i lại nhân quyền và dân chủ, tự do. Quan trọng nhất là tự do ngôn luận để người dân được tự do bày tỏ ư kiến của ḿnh, quan điểm của ḿnh đối với những tổ chức cai trị ḿnh". Giờ đây đảng Cộng Sản Việt Nam có thể coi như đă chiến thắng sau khi dẹp bỏ được đám đông biểu t́nh. Những ông kẹ ở các địa phương có dân khiếu kiện đang hả hê ăn mừng. (Thật ra đám công an trấn áp đă khui bia rượu ê hề ngay lúc rạng sáng ngày 19-8 ngay bên Văn pḥng 2 Quốc hội). Sẽ phải chờ nhiều tháng, nhiều năm nữa mới có người dám đi biểu t́nh lại. Các quan chức địa phương sẽ tiếp tục tṛ hứa hăo kèm theo màn trả thù những thủ lănh dân oan, cầm đầu khiếu kiện. Họ có thể dùng nhiều thủ đoạn như mua chuộc hay dọa nạt những ai từng phản kháng to mồm và to gan nhất, "hối lộ", trả tiền trả đất đầy đủ cho những ai đ̣i hỏi bồi thường kiên tŕ ĺ lợm nhất để khóa miệng, như bỏ tù hay thủ tiêu những ai nhất định không chịu khuất phục nhất để trừ hậu hoạn, y như họ đă từng làm ở Thái B́nh. Nhưng nếu chế độ c̣n tiếp tục chuyên chế th́ sẽ không yên. Những vụ nổi loạn của quần chúng sẽ c̣n tiếp tục bùng nổ: từ Thái B́nh, qua Thọ Đà, đến Thanh Hóa, Hải Dương, Đồ Sơn, bây giờ là ở ngay Sài G̣n, Huế, Hà Nội. Sau mỗi lần đàn áp, đảng cộng sản có thể tạm yên được một thời gian, quan chức cộng sản cướp ngày có thể an b́nh được một vài bữa. Nhưng mỗi lần dẹp yên như thế chỉ giống như quét rác đẩy vô gầm giường, như dập tắt ngọn lửa nhưng than hồng vẫn c̣n âm ỷ cháy dưới lớp tro. Có thể trấn áp, trù dập những nỗi oan ức được một thời gian, nhưng CS chẳng bao giờ tháo gỡ được căn nguyên khiến ḷng dân cứ bất măn măi không dứt. Ngọn lửa căm hờn tiếp tục nung nấu, chỉ chờ dịp lại bùng lên, v́ cội rễ bất công vẫn tồn tại. Cội rễ bất công đó chính là cái chế độ toàn trị độc tài, trong đó đảng CS là ông chủ tuyệt đối ngự trị trên đất nước, ngồi xổm trên pháp luật, đè trên đầu trên cổ mọi người dân, c̣n tại địa phương th́ từ viên chức chính quyền, nhân viên công an, đến thành viên Mặt trận đều tự tung tự tác như những ông trời con, cấu kết với nhau thành một băng đảng ngang nhiên cướp ngày, với sự bao che, đồng lơa, thậm chí khuyến khích của trung ương Hà Nội. Nông dân và cựu chiến binh Thái B́nh, Thọ Đà từng liều mạng chống công an, nông dân và thị dân nhiều tỉnh thành từng kéo nhau ra Hà Nội, Sài G̣n khiếu kiện hơn mấy chục năm qua không phải chỉ v́ chuyện cơm áo. Họ đứng lên phản đối chính v́ bị cán bộ nhà nước đối xử bất công, bị đảng viên cường hào áp bức trấn lột. Như nhà b́nh luận Ngô Nhân Dụng nhận xét, ở Thái B́nh, Thọ Đà ngày xưa và ở Hà Nội, Sài G̣n ngày nay, không ai đi biểu t́nh v́ bị mất mùa đói kém. Thập niên 1980 nhiều người chết đói ở Thanh Hóa, Thái B́nh, chẳng ai đi biểu t́nh đ̣i ăn cả. Bây giờ cũng chưa thấy thanh niên xuống đường v́ thất nghiệp. Người dân đi biểu t́nh là v́ bị oan ức, chèn ép, chứ không phải v́ muốn ăn ngon mặc đẹp hơn nữa. Những cuộc cách mạng xưa nay bùng lên thường v́ người dân cảm thấy nhục hơn là v́ đói. Mà nỗi oan ức nhục nhă người dân đang chịu là do hệ thống chính trị của đảng Cộng sản gây ra. Thứ nhất là guồng máy cai trị dựa trên bè đảng của một tập đoàn tham nhũng. Thứ hai là người dân bị bịt miệng, không có tiếng nói. Dân có kêu oan th́ xă bênh thôn, huyện bênh xă, tỉnh bênh huyện, trung ương bênh tỉnh, không ai tháo gỡ được. Trung ương, tỉnh huyện, xă thôn bênh nhau v́ tất cả ở trong cùng một băng đảng, phải dựa vào nhau mà tồn tại. Pháp luật chỉ áp dụng cho dân thường, c̣n cán bộ th́ xử lư nội bộ trong đảng, người dân biết như thế. (Cứ chờ đợi vụ xử PMU 18 sắp tới mà xem). Cả hai nguồn gốc gây ra bất công và uất ức đó nằm trong hệ thống chuyên chính của đảng cộng sản: đảng thâu tóm trong tay mọi quyền chính trị và chà đạp dưới chân mọi quyền con người. Dĩ nhiên, trong các cuộc xuống đường từng xảy ra, người dân không hay chưa nêu các vấn đề chính trị như tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do lập đảng. Họ chỉ nêu lên các vấn đề cục bộ ở địa phương của họ, như chuyện đất đai bị trưng thu, nhà cửa bị lấn chiếm, chuyện đền bù c̣n bất công, định cư chưa yên ổn, do thói lộng hành tham nhũng của cán bộ nhà nước sở tại; nhưng những vấn đề này đều xảy ra khắp cả nước, thành ra chúng mang tầm mức chính trị, biểu hiện của sự bế tắc chính trị. Mọi cuộc biểu t́nh đều bắt nguồn từ bế tắc chính trị đó và đều là những vận động chính trị cả. Trong cuộc khiếu kiện mới rồi, một số thân hữu ở hải ngoại đă e sợ rằng việc hỗ trợ tiền bạc giúp đồng bào biểu t́nh dài lâu sẽ vượt ra ngoài tính cách xă hội, bác ái mà mang tính cách chính trị. Chúng tôi đă trả lời rằng tự bản chất, cuộc biểu t́nh đồng loạt của 19 tỉnh thành và 9 quận huyện Sài G̣n đă, đang và sẽ mang tầm vóc, tính cách chính trị. V́ hành động biểu t́nh cùng xảy ra khắp nơi như vậy chính là v́ nhu cầu dân chủ tự do. Nếu dân không được sống trong tự do dân chủ th́ những căn nguyên gây ra nỗi oan ức chả bao giờ chấm dứt, cán bộ đảng viên vẫn tiếp tục nắm trọn quyền lực và thâu tóm quyền lợi, gây tổn hại và bất ổn cho cuộc sống toàn thể nhân dân, Vậy làm cách nào để giải quyết được những cảnh tham nhũng, bất công trong xă hội? Chỉ có một cách là cho nhân dân quyền bỏ phiếu chọn người cai trị họ. Ở từng địa phương một, từ xă lên đến huyện, huyện lên đến tỉnh, tỉnh lên đến nước, dân phải có quyền tự do ứng cử và bầu cử, bổ nhiệm và băi nhiệm các quan chức bằng lá phiếu. Chỉ khi nào những kẻ cai trị biết dựa vào quyền lực dân trao cho, hay lo sợ có ngày dân không c̣n tín nhiệm ḿnh, th́ lúc đó nạn tham nhũng, bất công mới giải được. Hệ thống chính trị độc tài của đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay không dám và không muốn chấp nhận thách đố này. Từ trên xuống dưới đều là "đảng cử dân bầu" và từ trước tới sau đều phải là "đảng muôn năm trường trị" Như nếu cứ như thế, ngọn lửa dân oan -mà mọi cá thể và mọi tập thể tại Việt Nam hiện nay ai lại chẳng là dân oan - sẽ vẫn chưa tàn và không sớm th́ muộn sẽ bừng cháy. (Bài này có tham khảo Ngô Nhân Dụng, Dân biểu t́nh v́ dân chủ) Ban Biên tập
Posted: 8/2/2007 5:14:07 AM
Re : DCV Online. Văn Thanh Ḥa.................... Nhớ đến "chuyện dài" dân khiếu kiện, dân kêu oan, dân dầm sương trải nắng từ năm này qua tháng nọ, chỉ v́ họ muốn sinh tồn trong một xă hội có luật pháp, có kỷ cương, có luân thường đạo lư, nào ngờ những nổi uẩn khúc oan t́nh của nhân dân bị bọn cường hào ác bá cộng sản mất hết lương tri cướp đoạt tài sản của dân bằng bạo lực chuyên chính cộng sản !!! Do đó mà tiếng kêu than của dân dù thấu tận trời cao cũng không lay chuyển được tâm địa nham hiểm, độc đoán, cuồng bạo của bọn quỉ dử vô thần cộng sản đang thống trị một đất nước nghèo khổ đói rách bằng ṇng súng lưởi lê, bằng thẳng tay tàn sát nhân dân, hơn là lắng tai nghe tiếng kêu than thảm thiết nghẹn ngào của người dân "bị trị" !!! Thảm cảnh của người dân bị mất tất cả vào tay quân phiến cộng đă và đang tạo ra cảnh màn trời chiếu đất trên cùng khắp quê hương. Trong lúc luật pháp của CSVN nói chuyện với dân bằng "súng đạn" bằng đánh dập tàn nhẩn dă man. Nếu người dân vùng lên phản đối bất công xă hội, th́ Đảng và Nhà Nước liền chụp cho cái mũ : Gián điệp, Tay sai Mỹ Ngụỵ, Âm mưu lật đổ chính quyền, Cố t́nh chống phá cách mạng vân vân ...!!! Thử hỏi đến bao giờ CSVN mới thức tỉnh ? Đến bao giờ người cộng sản mới thực ḷng hoà hợp hoà giải dân tộc ? Hay chờ nhân dân làm một cuộc cách mạng "máu" như một vài nước bên Đông Âu ??? Lịch lử luôn luôn tái diễn. Mong rằng thảm hoạ đừng bao giờ xảy ra trên một đất nước đă từng chịu đựng vô cùng khổ đau v́ chiến tranh hận thù do người cộng sản gây nên. Dù nhân dân ViệtNam với bản chất ôn hoà, phúc hậu, nhưng không phải v́ thế mà lùi bước trước quân tham tàn bạo ngược CSVN. Tức nước vỡ bờ là chuyện không thể tránh. Chờ xem.
Posted: 8/2/2007 5:18:23 AM
THẢM TRẠNG NGƯỜI CÀY KHÔNG RUỘNG Dr. Tristan Nguyễn Tân-Tư-Bản Đại-Địa-Chủ-Đỏ, Big New Red Capitalist Landlords, ở Việt Nam đă đang và sẽ thu gom tích tụ ruộng đất canh tác của người Nông Dân Việt Nam Nghèo. Sự thật quá phũ phàng là sau hai lần được hưởng quyền "Người Cày Có Ruộng", hiện nay người Nông Dân Việt Nam Nghèo lại "Không Có Ruộng Để Cày" !!!! Không nhà không ruộng Dân cày c̣n biết đi đâu? Người ở làng chết khổ bên nhau Người lên phố, dăi dầu kiếp thợ!! Bốn câu thơ nêu trên làm xúc động ḷng người, được trích trong bài thơ Đồng Bằng, trong tập thơ Quê Hương Chiến Đấu xuất bản năm 1955. Nhà thơ Hoàng Trung Thông đă tả chân được hoàn cảnh khốn cùng tủi cực của người Nông Dân Việt Nam Nghèo trong thời kỳ Pháp thuộc. Thực dân và đại địa chủ đă chiếm hữu hết ruộng đất canh tác khiến cho người nông dân không có ruộng để làm ăn sinh sống. Nếu không muốn là tá điền làm ruộng thuê nộp tô cho địa chủ, hay đem thân làm mướn kiếm miếng cơm thừa của địa chủ, th́ người nông dân nghèo phải bỏ xóm làng đi lên tỉnh thành kiếm việc làm cực khổ ở những nhà máy xí nghiệp hoặc nơi công trường xây dựng. Nhưng có rất nhiều người nông dân ĺa quê không thể có được những việc làm để sống qua ngày, họ phải lâm cảnh tha phương, vô gia cư, và thất nghiệp đói khổ!! Cho tới bây giờ, thảm trạng khốn cùng tủi cực như vậy vẫn c̣n đang xảy ra, mặc dù dưới một h́nh thức khác, và cũng c̣n là một nỗi lo âu uất ức của hàng triệu người Nông Dân Việt Nam Nghèo hiện nay. Hoàng Trung Thông là một đảng viên CSVN thời kỳ Mùa Thu 1945, Ủy Viên Ban Chấp Hành Hội Nhà Văn Việt Nam (khóa III); Viện Trưởng Viện Văn Học , tổng biên tập Tạp Chí Văn Học, đă qua đời vào năm 1993 lúc 68 tuổi. Cho tới ngày chết, Hoàng Trung Thông có lẽ không thể tưởng tượng được hoàn cảnh người Nông Dân Việt Nam Nghèo lại thêm một lần nữa không có ruộng đất canh tác để sinh sống. Giải quyết nghiêm túc vấn đề ruộng đất canh tác chính là bảo đảm quyền được sống của người Nông Dân Việt Nam Nghèo. Nhưng Hoàng Trung Thông đă không ngờ được những Tân-Tư-Bản Đại-Địa-Chủ Đỏ ở Việt Nam đă đang và sẽ thu gom tích tụ ruộng đất canh tác của người Nông Dân Việt Nam Nghèo. Qua hai lần được hưởng quyền "Người Cày Có Ruộng", người Nông Dân Việt Nam Nghèo hiện nay lại "Không Có Ruộng Để Cày". Chúng ta hăy xem xét quá tŕnh diễn biến của t́nh h́nh nông nghiệp Việt Nam và cuộc sống của người Nông Dân Việt Nam Nghèo trong lúc "Người Cày Có Ruộng" cho tới lúc "Người Cày Không Ruộng" để thấy được nền nông nghiệp Việt Nam và thân phận hẩm hiu của người Nông Dân Việt Nam Nghèo khi nằm trong tay của người CSVN đă bị biến động truân chuyên tới một mức độ nào. Những năm 1945-1954, người CSVN đă tịch thu ruộng đất của thực dân tư bản Pháp và địa chủ Việt Nam, rồi chia lại ruộng đất canh tác cho nông dân theo kháng chiến ở những khu giải phóng, đă tạo ra những thay đổi về sở hữu ruộng đất và quan hệ giai cấp ở nông thôn Việt Nam nhằm tǎng cường thế lực của người CSVN. Tuy nhiên, thành phần đại địa chủ phú nông và trung nông giàu ở những vùng Quốc Gia kiểm soát vẫn c̣n tồn tại. Những năm 1954-1960 ở Miền Bắc Việt Nam người CSVN đă đẩy mạnh cải cách ruộng đất, thực hiện hợp tác hoá nông nghiệp, xoá bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất của thành phần đại địa chủ và trung nông giàu. Xác lập chế độ sở hữu ruộng đất theo nông hộ Người Cày Có Ruộng ở nông thôn, người CSVN áp dụng đường lối giai cấp Bần Cố Nông, chủ yếu là đảng viên CSVN để chỉ huy, kiểm soát và chi phối đời sống kinh tế, chính trị, xă hội nông thôn. Hai đợt cải cách ruộng đất vào năm 1955-1956 ở Miền Bắc Việt Nam đă giết chết khoảng 200,000 người trong đó có cả đảng viên thành phần tư sản. V́ vậy, vào thời gian đó người CSVN đă gây công phẫn trong nhân dân Việt Nam. Nhưng cuộc cải cách ruộng đất vẫn tiếp tục trong những năm 1957-1959 để thực hiện xă hội chủ nghĩa. Người CSVN đă vô sản hoá nhân dân bằng cách thu hồi lại đất đai của nông dân để thành lập những hợp tác xă sản xuất và các nông trường tập thể ở Miền Bắc. Những năm 1960-1975, sau thời kỳ khôi phục kinh tế, người CSVN chủ trương triệt để cải tạo xă hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp ở Miền Bắc Việt Nam bằng h́nh thức hợp tác xă. Xác lập chế độ sở hữu tập thể về ruộng đất canh tác gắn liền với tổ chức lao động tập thể trong các hợp tác xă nông nghiệp. Kể từ đây, ruộng đất canh tác của nông hộ Người Cày Có Ruộng đă trở thành ruộng đất canh tác của Hợp Tác Xă, của Tập Đoàn Sản Xuất Nông Nghiệp, và kinh tế hộ nông dân bị coi là kinh tế phụ. Trong cùng thời gian đó (1954-1975), ở Miền Nam Việt Nam có một nền nông nghiệp rất khác với Miền Bắc Việt Nam là hơn 80 phần trăm các hộ nông dân đă được tư sản trung nông hoá hoàn toàn. Thời kỳ Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà có những khu Dinh Điền, khu Trù Mật, thời kỳ Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hoà có chương tŕnh Người Cày Có Ruộng đă tạo ra được một nền nông nghiệp tư sản ở Miền Nam Việt Nam khá phát triển. Tŕnh bày một cách cụ thể, Miền Nam Việt Nam đă thực hiện chính sách tư hữu hóa ruộng đất cho các tá điền qua công cuộc Cải Cách Điền Địa do TT Diệm thực hiện trong những năm 1955- 1963. Những ruộng đất bỏ hoang không có chủ điền hiện diện khi kiểm kê trở thành quốc gia công thổ và được chia phát "miễn phí" cho tá điền. Chủ điền chỉ được giữ tối đa là 100 mẫu. Trong đó 30 mẫu được trực canh và 70 mẫu c̣n lại phải cho tá điền thuê theo quy chế tá canh. Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà lúc đó đă bồi thường số đất bị truất hữu cho chủ điền bằng tiền mặt và công trái phiếu 12 năm. Tá điền được mua trả góp vốn và lăi trong ṿng 12 năm, số ruộng đất tối đa là 5 mẫu với giá tiền chính phủ bồi thường chủ điền. Vào năm 1970 TT Thiệu đă ban hành Luật "Người Cầy Có Ruộng" qui định ruộng đất không trực canh đương nhiên bị truất hữu và phải được bồi thường thoả đáng theo thời giá. Ruộng đất truất hữu được ưu tiên cấp phát cho tá điền (3 mẫu ở Nam phần và 1 mẫu ở Cao Nguyên và Trung phần). Điền chủ trực canh chỉ được giữ tối đa 15 mẫu. Tuy nhiên, Luật "Người Cầy Có Ruộng" không được phép áp dụng đối với ruộng đất của các tổ chức tôn giáo và ruộng đất hương hỏa gia đ́nh của người dân. Ở Miền Nam Việt Nam, phương thức sản xuất nông nghiệp kiểu phong kiến đă bị xoá sạch. Những phương pháp canh tác mới có tiến bộ kỷ thuật đă được áp dụng để gia tăng năng suất. Sau khi hoàn tất chương tŕnh Người Cày Có Ruộng trong những năm 1970-1973 nước Việt Nam Cộng Hoà đă có 80 phần trăm tư sản trung nông hoá và thành phần nông dân này là lực lượng chính của sản xuất nông nghiệp ở Miền Nam Việt Nam. C̣n lại khoảng 20 phần trăm là phú nông và tư sản trung nông giàu sở hữu chừng 10 phần trăm ruộng đất canh tác. Số người nông dân giàu có này ngoài việc canh tác số ruộng đất sau khi đă truất hữu c̣n lại, họ cũng kinh doanh các dịch vụ cơ khí nông nghiệp, lưu thông hàng hoá nông sản phẩm, chế biến thực phẩm nông sản trong một thị trường thương nghiệp nông thôn và lao động nông nghiệp rất tự do. Sau khi nước Việt Nam Cộng Hoà hoàn tất chương tŕnh Người Cày Có Ruộng th́ không c̣n thành phần đại-địa-chủ ở Miền Nam Việt Nam. Trong ba năm 1970-1973, kết quả của chương tŕnh "Người Cầy Có Ruộng" là đă chấm dứt chế độ tá canh ở Miền Nam Việt Nam khi tá điền trở thành điền chủ. Vấn đề ruộng đất, nông nghiệp và nông thôn Miền Nam Việt Nam rất đa dạng và khác nhau giữa các vùng. Miền Trung có dăi ruộng đất canh tác hẹp, b́nh quân ruộng đất thấp. Cao Nguyên là vùng núi đồi cao gồm có hai bộ phận kinh tế chủ yếu là kinh tế tự nhiên và nửa tự nhiên của cộng đồng các dân tộc thiểu số. Đơn vị sản xuất nông nghiệp chủ yếu là các đại gia đ́nh của người dân tộc thiểu số. Ở Cao Nguyên c̣n có hoạt động kinh tế đồn điền với các khu vực trồng cây công nghiệp của Tư Bản Ngoại Quốc và Tư Bản Việt Nam kinh doanh theo phương thức thị trường tự do. Vào tháng 4 năm 1975, sau khi cưỡng chiếm Miền Nam Việt Nam người CSVN chủ trương "xác lập quan hệ sản xuất xă hội chủ nghĩa đồng nhất trong cả nước dưới hai h́nh thức sở hữu toàn dân (tài sản công-quốc gia công hữu) và sở hữu tập thể để phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất trên qui mô lớn". Đồng thời với quá tŕnh diến tiến cải tạo công thương nghiệp Miền Nam Việt Nam, người CSVN triệt để xoá bỏ dấu vết ruộng đất của địa chủ bằng cách tịch thu tất cả ruộng đất của địa chủ. Rất rơ ràng là người CSVN đă quyết liệt vô sản hoá toàn thể nhân dân Việt Nam Ở Cao Nguyên, ruộng đất chủ yếu là quốc gia công thổ và đồn điền. Người CSVN tịch thu tất cả đất đai và quốc hữu hoá đồn điền. Chuyển các đồn điền cây công nghiệp thành nông trường quốc doanh, c̣n lại một số ruộng đất được thành lập các hợp tác xă và tập đoàn sản xuất. Ở đồng bằng Miền Nam người CSVN cũng đă tịch thu tất cả ruộng đất của địa chủ. Sự thật là ruộng đất tịch thu được của các địa chủ c̣n lại không nhiều, v́ Luật Người Cày Có Ruộng của TT Thiệu cho phép điền chủ trực canh được giữ lại tối đa là 15 mẫu. Trong khi đó người CSVN đă cải tạo gần hai triệu người vốn đang hoạt động trong các lĩnh vực công thương nghiệp ở các thành phố phải trở về nông thôn để lao động nông nghiệp. Số người này là đối tượng cải tạo công thương nghiệp cần có ruộng đất canh tác. Để có ruộng đất canh tác cấp cho số người bị cải tạo công thương nghiệp này, người CSVN đă phải tịch thu thêm một số ruộng đất của những gia đ́nh trung nông giàu để chia b́nh quân cho người bị cải tạo công thương nghiệp. Người CSVN đă lặp lại công cuộc tập thể hoá nông nghiệp là nhằm ngǎn chặn khuynh hướng tự phát tư bản chủ nghĩa ở nông thôn Miền Nam Việt Nam và để tạo ra sự thống nhất nền kinh tế xă hội chủ nghĩa ở cả nước. Ruộng đất tập thể hoá được đặt dưới sự quản lư và sử dụng của ban QuảnTrị Hợp Tác Xă, chủ yếu là đảng viên CSVN. Người CSVN đă xoá bỏ quyền làm chủ sử dụng ruộng đất canh tác của người Nông Dân Việt Nam, thực ra là những người trong mấy năm trước đây, từ thân phận tá điền trở thành chủ điền có được 3 mẫu đất do công cuộc Cải Cách Điền Địa của TT Diệm, hay bởi Luật Người Cày Có Ruộng của TT Thiệu. Mô h́nh sở hữu ruộng đất tập thể đă biến nông dân từ người làm chủ ruộng đất trở thành người làm công cho ban Quản Trị Hợp Tác Xă, gồm có những người đảng viên CSVN không có tŕnh độ văn hoá trung b́nh, không có khả nǎng và kinh nghiệm quản lư, nhưng họ lại có quyền lực rất lớn, quyết định toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị, xă hội ở nông thôn Việt Nam. Ruộng đất canh tác thuộc quyền sở hữu và sử dụng tập thể đă dẫn đến t́nh trạng vô chủ trong quản lư và sử dụng đất đai vô trách nhiệm, tệ trạng này đă gây ra quá nhiều lăng phí và làm mất một số rất lớn ruộng đất canh tác. Tệ trạng người CSVN quản lư và sử dụng ruộng đất vô trách nhiệm và lạm dụng quyền thế của người cai trị đă biến rất nhiều đất thổ canh thành đất thổ cư thực sự có xảy ra ở mọi địa phương. Và đây là một trong những nguồn gốc của sự lộng quyền tham nhũng, chiếm hữu đất đai nhà cửa của người nông dân thấp cổ bé miệng ở các nơi trong nước Việt Nam. Lịch sử nông nghiệp của nước Việt Nam cho thấy rơ mô h́nh ruộng đất canh tác thuộc sở hữu tập thể và sử dụng tập thể dưới sự quản lư bất lực bất tài của những người CSVN đă thất bại và dẫn đến tan ră hàng loạt hợp tác xă nông nghiệp, bởi v́ hàng trăm ngàn người nông dân đă quyết định xin ra khỏi hợp tác xă. Mức sản xuất nông nghiệp trong thời gian này đă phát triển rất chậm, nhưng có nhiều biến động. Tiềm nǎng lao động nông nghiệp và ruộng đất canh tác khai thác không hiệu quả trong những nǎm 1976-1985 đă đưa đến khủng hoảng kinh tế nông nghiệp của Việt Nam. Trong thời kỳ Đổi Mới của những năm 1985-1990 , người CSVN muốn khôi phục kinh tế hộ nông dân bằng cách khoán sản phẩm cho người lao động nông nghiệp. Phương thức và mục đích của Khoán Hộ là nhằm khôi phục lại chức nǎng và hiệu quả kinh tế của hộ nông dân. Lúc này người CSVN quay lại khẳng định hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ sản xuất nông sản. Khoán Hộ đă có tác dụng phân chia lại chức nǎng kinh tế giữa tập thể và hộ nông dân cả về quan hệ sở hữu ruộng đất, quan hệ quản lư và phân phối vật tư sản xuất và nông sản phẩm. Khoán Hộ đă mang lại lợi ích thiết thực cho người nông dân và đă thúc đẩy người nông dân tăng gia sản xuất. Trong thời gian đầu, Khoán Hộ đă làm hồi sinh và sống động lại nền kinh tế nông thôn Việt Nam. Khoán Hộ đă tạo ra được một khối lượng nông sản nhiều hơn so với những năm trước. Nhưng sau đó, Khoán Hộ đă mất dần tác dụng hiệu quả kinh tế, bởi v́ trên thực tế là những người đảng viên CSVN ở tại cơ sở địa phương vẫn c̣n quá nhiều quyền hành trực tiếp. Thói quen tập trung quan liêu; mệnh lệnh hành chánh vẫn c̣n được người CSVN duy tŕ trong các hợp tác xă và toàn bộ hệ thống tái sản xuất trong nông nghiệp. Hậu quả của tệ trạng này là những hộ nông dân không đủ khả nǎng bảo đảm tái sản xuất và nhu cầu đời sống, bắt buộc phải trả lại ruộng đất cho hợp tác xă. Một lần nữa, mô h́nh hợp tác xă nông nghiệp với phương thức sản xuất khoán sản phẩm cho hộ nông dân, gọi là Khoán Hộ, đă không thành công v́ sự bất lực bất tài trong quản lư kinh tế nông nghiệp của những người CSVN. Trong thập niên 1990-2000, những người lănh đạo đảng CSVN đă quyết định Đổi Mới toàn bộ cơ chế quản lư kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam, và họ khẳng định: "Kinh tế tập thể, với h́nh thức phổ biến là hợp tác xă cải tiến, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động, phát triển rộng răi và đa dạng với quy mô và mức độ tập thể hoá khác nhau, trên cơ sở tự nguyện góp vốn, góp sức của những người lao động nông nghiệp". Trên thực tế là người CSVN đă bắt đầu thực hiện tiến tŕnh tích tụ và tập trung ruộng đất canh tác, vốn vật tư vật liệu sản xuất theo hướng sản xuất nông nghiệp đại trà, trên quy mô diện tích canh tác rộng lớn. Khi người CSVN có ư muốn gia nhập Tổ Chức Mậu Dịch Quốc Tế - WTO, họ đă có những nhận định nguyên văn như sau " Vấn đề ruộng đất phải tuân theo quy luật tích tụ và tập trung ruộng đất vào tay những người làm ruộng giỏi mới giải quyết được mâu thuẫn giữa việc phân phối và sử dụng ruộng đất manh mún, b́nh quân, với yêu cầu phát triển sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp. Kinh tế hộ gia đ́nh phải trở thành kinh tế hàng hoá, khác về chất so với kinh tế cá thể tự cung tự cấp trước đây. Tổ chức và hoạt động của các hợp tác xă cải tiến không phụ thuộc vào địa giới hành chính. Một hộ nông dân với khả năng góp vốn lớn có thể tham gia các hợp tác xă cải tiến khác nhau ở những nơi khác nhau". Như vậy, mưu đồ xây dựng một nền nông nghiệp đại trà của người CSVN đă quá rơ ràng: - Ruộng đất được tích tụ và tập trung vào tay những Người Làm Ruộng Giỏi, và dĩ nhiên là những Người-Có-Quyền-Thế-Có-Tiền-Của, chính hiệu phải gọi là những Tân-Tư-Bản Đại- Địa-Chủ- Đỏ hiện nay ở Việt Nam. Những Tân-Tư-Bản-Đỏ đă đang tiến hành lập ra những Hợp Tác Xă Sản Xuất Nông Nghiệp Cải Tiến hay gọi tên ngắn gọn là Công Ty Làm Ruộng. Họ bán ra Cổ Phần để Góp Vốn và Thu Gom Tích Tụ ruộng đất canh tác, bởi v́ không phụ thuộc địa giới hành chính, Hợp Tác Xă Sản Xuất Nông Nghiệp Cải Tiến loại mới này, hay là Công Ty Làm Ruộng sẽ chiếm hữu một số lớn ruộng đất canh tác trên một diện tích rất rộng lớn có thể liên-xă-liên-huyện-liên-tỉnh, nếu có thể được, để trở thành những Đại-Địa-Chủ-Đỏ trong thời kỳ nước Việt Nam là thành viên của Tổ Chức Mậu Dịch Quốc Tế và nông nghiệp phải nổ lực hoạt động hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế thị trường. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của đảng CSVN chỉ rơ: "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Các hộ nông dân được Nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài và cấp giấy chứng nhận. Luật pháp quy định cụ thể việc thừa kế và chuyển quyền sử dụng ruộng đất". Điều 17 và Điều 18 của Hiến Pháp nước CHXHCNVN qui định đất đai thuộc sở hữu của Nhà Nước, người dân chỉ được cho phép sử dụng. Nhưng khi triển khai hai điều luật này th́ các cấp Đảng Uỷ, những người đảng viên CSVN thực sự cầm quyền ở địa phương tự cho phép ḿnh được lấy ruộng đất của người nông dân nghèo bằng những giá bồi thường quá thấp, rồi lại cấp cho những đảng viên có quyền thế và có tiền. Ruộng đất các loại gồm có thổ canh, thổ cư đă trở thành những phương tiện để rữa tiền tham nhũng và đầu cơ tích tụ bất động sản một cách có hệ thống của các Tân-Tư-Bản- Đại-Địa-Chủ- Đỏ trong xă hội Việt Nam hiện nay. Ở nước Việt Nam hiện nay đang có những danh hiệu " Người nhiều ruộng nhất Miền Bắc", hoặc là "Người giàu nhất về địa ốc bất động sản ở Việt Nam". Lịch sử Việt Nam rồi sẽ cho biết họ là ai, nhưng bây giờ chỉ biết một điều thật rơ ràng là người Nông Dân Việt Nam Nghèo lại thêm một lần nữa KHÔNG CÓ RUỘNG CÀY!! Sau khi đă được gia nhập vào Tổ Chức Mậu Dịch Quốc Tế là tới lúc người CSVN xét lại nội dung của chương tŕnh "Người Cày Có Ruộng". Người CSVN đă có được một nhận xét chính xác từ trong thực tiển sản xuất là "Diện tích canh tác càng được mở rộng th́ hiệu quả kinh tế càng tăng cao", và họ đang muốn có những khối lượng lớn hàng hóa nông sản phẩm để xuất khẩu. V́ vậy, họ đă quyết định phải quy hoạch các vùng sản xuất chuyên canh, phải phát triển các hộ nông dân chuyên môn hóa, và có mức sản xuất đại trà một loại nông sản phẩm riêng biệt nào đó để cung cấp theo hợp đồng cho một đại công ty ngoại quốc chuyên chế biến thực phẩm nông sản. Người CSVN có lẽ đă có định hướng của một cơ cấu kinh tế của một nước Việt Nam cơ giới hoá hiện đại hoá là: lực lượng Công Nghiệp các loại chiếm 60% dân số, lực lượng Dịch Vụ các loại chiếm 37% dân số, lực lượng Nông Nghiệp chiếm chỉ 3% dân số. Một mô h́nh cơ cấu kinh tế hiện đại hoá gần giống như của Mỹ Quốc. Người nông dân Mỹ chỉ chiếm 3% dân số Mỹ nhưng với kỷ thuật sản xuất nông nghiệp cơ giới hoá đă có thể sản xuất được những số lượng nông sản phẩm rất lớn để cung cấp đủ lương thực cho rất nhiều nước trên thế giới. Theo định hướng phát triển một nền nông nghiệp cơ giới hoá hiện đại như vừa nói trên, những người lănh đạo đảng CSVN đă kêu gọi các doanh nhân đầu tư vào nông nghiệp Việt Nam, có thể gồm cả các doanh nhân ngoại quốc của các đại công ty chế biến thực phẩm nông sản liên quốc gia, cụ thể như công ty DOLE của Mỹ, v.v... Họ sẽ trợ giúp tài chánh cũng như kỷ thuật cho Những Người Làm Ruộng Giỏi để trở thành những người Chủ Nông Trại Gia Đ́nh và kinh doanh sản phẩm nông nghiệp. Một cách có hệ thống, người CSVN đă đang thúc đẩy việc tập trung ruộng đất từ các hộ nông dân nghèo làm ruộng không đạt yêu cầu vào tay các gia đ́nh có tiền có quyền chuyên sản xuất nông nghiệp. Người CSVN muốn có các Nông Trại Gia Đ́nh với h́nh thức kinh doanh sản phẩm nông nghiệp và cơ giới hoá hiện đại chuyên canh sản xuất nông sản phẩm trên qui mô đại trà để đạt yêu cầu xuất cảng cho các đại công ty chế biến thực phẩm nông sản liên quốc gia. Như vậy là có thêm một thành phần Tân-Tư-Bản Đại- Địa-Chủ-Đỏ dưới h́nh thức Chủ Nông Trại Gia Đ́nh đă đang h́nh thành trong nước Việt Nam. Một cách rất rơ ràng là thảm trạng ''Người Cày Không Ruộng'' đă đang và sẽ rất bi đát . Người Nông Dân Việt Nam Nghèo cần phải có ruộng đất canh tác để sống. Không c̣n ruộng đất, đời sống người nông dân nghèo sẽ ngày càng khó khăn hơn và chắc sẽ có ảnh hưởng mạnh đến nhiều vấn đề khác của nước Việt Nam. Khi có tin nước Việt Nam đă xuất cảng lúa gạo đứng vào hàng thứ hai trên thế giới chỉ sau nước Mỹ, khiến cho chúng ta rất ngạc nhiên thích thú và thán phục. Bởi v́ mấy chục triệu người tiểu nông không có kỷ thuật cơ giới hiện đại, đă cần cù lao động cá thể trên mấy chục triệu mảnh ruộng đất nhỏ có diện tích không hơn 3 mẫu, mà đă sản xuất đủ lúa gạo các loại để xuất cảng. Nhưng thời kỳ dễ ăn dễ thở của người tiểu nông Việt Nam đang phải sớm chấm dứt , khi những người CSVN có quyền thế và có nhiều tiền ở Việt Nam thực hiện chủ trương thu gom tích tụ ruộng đất canh tác cho những người Chủ Nông Trại Gia Đ́nh tương lai. Những người CSVN hiện đang có quyền thế có nhiều tiền, và có nhiều thủ đoạn chiếm hữu ruộng đất của người Nông Dân Việt Nam Nghèo một cách có hệ thống. Người nông dân nghèo chủ đất năm xưa đă mất ruộng đất, có thể sẽ lại phải đi làm thuê ngay trên chính mảnh ruộng của ḿnh, khi mảnh ruộng này lọt vào tay của một người Chủ Nông Trại Gia Đ́nh nào đó cần nhân công lao động nông nghiệp!!!! Như vậy ở Việt Nam đă đang và sẽ có nhiều người nông dân nghèo bị rơi vào hoàn cảnh không có ruộng đất canh tác để sống. Ngoài việc thu gom tích tụ ruộng đất canh tác cho những người Chủ Nông Trại tương lai, nhà cầm quyền CSVN đă đang tiến hành thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng những khu công nghiệp, những đô thị mới ở khắp nước Việt Nam. Sau đây là một trích đoạn nguyên văn báo cáo của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam, "trong thời gian những năm 2001 đến 2005 có đến hai triệu ruởi người dân bị tác động bởi quá tŕnh thu hồi đất nông nghiệp để xây dựng những khu công nghiệp và phát triển đô thị mới. Báo cáo cho thấy có đến hơn 65% nông dân bị thu hồi đất trở về lại với nghề nông. Nhưng khi ấy họ không có ruộng đất canh tác. Trong quá tŕnh thu hồi ruộng đất, t́nh trạng tham nhũng đă xảy ra qua việc lợi dụng chức quyền để thủ lợi. Do lợi nhuận riêng mà các địa phương đua nhau quy họach để xây dựng các khu công nghiệp. . . Sau khi giải toả ruộng đất nhà cửa của người dân, xây tường rào xung quanh khu vực, th́ khu công nghiệp vẫn không thu hút được nhà đầu tư nào mà dân th́ không có đất để canh tác. . .Qui họach làm khu công nghiệp nhiều, nhưng đầu tư th́ không đáng kể và bà con không có công ăn việc làm." Hơn nữa, chính kết quả điều tra của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam đă nêu rơ tiền bồi thường đất nông nghiệp bị thu hồi không đủ để người nông dân nhận chuyển nhượng diện tích đất nông nghiệp tương tự, hoặc không đủ để chuyển sang làm ngành nghề khác. Người CSVN đă từng điều chỉnh quyền sở hữu ruộng đất nhiều lần nên làm cho quá tŕnh sản xuất nông sản phẩm và phân công lao động nông nghiệp bị biến động rất lớn. Cụ thể như trong tương lai gần, với định hướng cơ cấu của nền kinh tế hiện đại hoá với 3% dân số hoạt động nông nghiệp, người CSVN bắt buộc phải có một chính sách kinh tế khả thi và thích hợp để chuyển đổi 80% dân số đang sống bằng nghề nông sang làm các nghề khác trong các lănh vực dịch vụ hay công nghiệp. Khi người CSVN chỉ v́ tư lợi, tham lam muốn làm giàu một cách nhanh chóng với cái giá ruộng đất tăng phi mă, phấn khởi hấp tấp thu hồi đất đai, thu gom tích tụ ruộng đất canh tác của người Nông Dân Việt Nam Nghèo như đă đang và sẽ c̣n tiếp tục xảy ra ở khắp nước Việt Nam, th́ chắc chắn hàng chục triệu lao động nông nghiệp đă đang và sẽ c̣n tiếp tục thất nghiệp trầm trọng, trong khi chính bản thân của người nông dân nghèo chưa được chuẩn bị để thích nghi với sự thay đổi và cả nước Việt Nam chưa có những khu vực công nghiệp thích hợp cho những người nông dân nghèo này chuyển nghề. Tóm lại, dưới sự quản lư bất lực bất tài của người CSVN, thân phận của người Nông Dân Việt Nam Nghèo đă đang và sẽ c̣n tiếp tục chịu đựng nhiều nỗi truân chuyên đau khổ. Không kể đến các vụ tranh chấp, khiếu kiện của người dân mất nhà mất ruộng đă quá nhiều năm chưa được giải quyết ổn thoả dứt khoát, với số lượng hàng chục triệu người vô gia cư phải ĺa quê lên tỉnh thành sống lang thang vất vưởng v́ không có được một nghề nào khác để bán sức lao động đổi lấy miếng ăn cho qua ngày, hoặc c̣n ở lại dưới quê th́ không c̣n ruộng đất để làm ra nồi cơm cho gia đ́nh đang đói ăn. THẢM TRẠNG NGƯỜI CÀY KHÔNG RUỘNG, đă đang và sẽ c̣n tiếp tục xảy ra ở cả nước Việt Nam, thảm trạng này chắc chắn phải có một ảnh hưởng khủng khiếp trên toàn bộ xă hội Việt Nam. Một bài viết ngắn và đơn giản không thể kể ra hết các chi tiết bi thương của thảm trạng Người Cày Không Ruộng qua suốt chiều dài lịch sử nông nghiệp của nước Việt Nam. Một Sử Gia Việt Nam chân chính nên ghi lại trung thực những biến động quá lớn đă đang và sẽ c̣n xảy ra trong đời sống của người Nông Dân Việt Nam, gồm cả Phú Nông, Trung Nông và Tiểu Nông, phải chịu truân chuyên đau khổ nhiều đến mức độ nào, dưới sự quản lư bất lực bất tài của người CSVN. Dr. Tristan Nguy ễn Rất nhiều thương yêu dành cho những Người Nông Dân Việt Nam Nghèo Không Ruộng Đất Canh Tác Không Việc Làm Để Sống hiện ở tại Việt Nam. San Francisco , USA. Ngày 01/08/2007
Posted: 8/2/2007 5:33:16 AM
Kinh-Goi : Quy Thinh-Gia Dai P.T.VNHN ( W.D.C ) Trong chuong-trinh phat thanh hang tuan,Do Ong Vuong-Ky-Son,phat di tu Loussianạ,Tu 10.00pm-1100pm toi Thu Tu ngay 08/01/07. Ngay tu mo dau,Ong Son da Kinh-Goi: Quy Vi thuoc Chanh-Gioi va Hat Dong Dan-Chu ( Hai-Ngoai ) KINH DE-NGHI QUY-VI,KINH MONG QUY-VI TIEP TAY DAY MANH CAC TNS,DB. TRONG LUONG DANG QUC-HOI HOA-KY,SOM THONG QUA N/Q 3096 ( N/Q CHO TU-DO, DAN-CHU CHO VIET-NAM 2007 )CUA DAI AN-NHAN,D.B SMITH. NEU DUOC THONG QUA,DAY SE LA MOT DON,GIANG XUONG DAU TAP-DOAN CSVN. VA HUU HIEU VO GIA.CSVN SE PHAI RUN SO,NO CON GE GOM VA NGUY HAI HON VO KHI NGUYEN TU NUA... TRAN - TUAN
Posted: 8/2/2007 5:39:00 AM
Kinh-Thua :Quy Vi,i ly do ky thuat tu may comp cua toi,nen bai dong gop da bi lon xọnvay,xin cao loi cung Quy Vi. Tran - Tuan
Posted: 8/2/2007 8:10:09 AM
Lư do khiến Việt Nam ngăn cản sứ mạng nhân đạo của tàu USS Peleliu? 2007.08.02 Mặc Lâm, phóng viên đài RFA Trước đây ba tuần, tàu bệnh viện USS Peleliu nhận lời mời của Việt Nam đă đến Đà Nẵng và những nhân viên y tế, bác sĩ được phép lên bờ để thực hiện những công tác y tế từ thiện nhằm giúp những gia đ́nh nghèo không khả năng chữa trị. * Nghe bài tường tŕnh này * Tải xuống để nghe Chiến hạm USS Peleliu hôm 4-11-2001. AFP PHOTO Tuy nhiên, vào giờ phút chót, nhà nước Việt Nam không cho phép tàu USS Peleliu sử dụng trực thăng quân sự của ḿnh chuyển những bệnh nhân cần phẫu thuật ra tàu chữa trị. Sự việc đầy mâu thuẫn này được báo giới nước ngoài quan tâm, nhưng một lần nữa những phương tiện truyền thông báo chí Việt Nam không hề đưa tin ǵ về việc này, Mặc Lâm có bài tường tŕnh về sự việc này như sau. Trợ giúp dịch vụ y tế cho dân chúng Chiến hạm USS Peleliu trước đây có tên là Khe Sanh, rồi đổi thành Đà Nẵng, và cuối cùng mang tên Peleliu. Căn bản là một tàu chiến cho đến ngày 23 tháng 5 năm năm 2007 tàu Peleliu trang bị một hệ thống y tế đặc biệt bao gồm những robot chuyên trách phẩu thuật cũng như tăng cường một đội ngũ kỹ sư và chuyên viên y tế nhằm đáp ứng mục tiêu mới là tàu bệnh viện có khả năng thực hiện những ca phẩu thuật khó khăn nhất đến với người dân tại các nước vùng Đông Nam Á. Sau khi công tác tại Philippines, tàu Peleliu đến Đà Nẵng vào ngày 16 tháng 7 năm nay và sau hai tuần lễ có mặt tại đây, hơn 120 bác sĩ dân sự và sinh viên y khoa t́nh nguyện mang nhiều quốc tịch đă khám chữa bệnh miễn phí cho người dân tại nhiều huyện chung quanh thành phố cũng như những trợ giúp có tính chuyên môn cho các bệnh viện trong khu vực. Tuy nhiên vào giờ chót, theo tin từ The Strait Times loan đi th́ nhà nước Việt Nam đă không cho phép các trực thăng từ tàu USS Peleliu được phép chuyển bệnh nhân từ bờ ra tàu để làm phẫu thuật mà không có bất cứ lời b́nh luận nào. Tất cả nhân viên y tế t́nh nguyện của con tàu này đều ngạc nhiên và không được câu trả lời thỏa đáng cho đến khi con tàu rời khỏi Đà Nẵng vào ngày 25 tháng 7 vừa qua. Yếu tố Trung Quốc trong quan hệ với Mỹ? Giáo sư Carl Thayer, một chuyên gia về Việt Nam, hiện cố vấn cho Bộ Quốc Pḥng Úc, đă cho chúng tôi biết những ư kiến của ông khi nhận được tin này như sau: “Sự việc xảy ra cùng lúc với khoảng thời gian được xem là nhạy cảm khi Việt Nam đang có những thay đổi nội các quan trọng, cũng là lúc Việt Nam và Trung Quốc đang có cuộc bàn thảo khẩn cấp về việc những ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc bắn tại biển đông. Trở lại từ đầu, bất cứ một sự cộng tác nào với Hoa Kỳ có liên quan ít nhiều đến lĩnh vực quân sự đều được xem là nhạy cảm đối với Việt Nam và Việt Nam luôn luôn cảnh giác đối với Mỹ. Việt Nam luôn xem xét thật kỹ lưỡng bất cứ một hành động nào có liên quan đến Hoa Kỳ và rơ ràng là Việt Nam luôn cảnh giác trước bất cứ một thao tác nào từ Mỹ. Tuy nhiên Việt Nam đă đẩy vấn đề đi quá xa v́ lần này tàu USS Peleliu tuy là tàu chiến nhưng được cải tiến lại để phục vụ nhân đạo và trên tàu có nhiều bác sĩ của nhiều quốc tịch khác nhau. Việc ngăn cản này cĩng đă gửi đi thông điệp mạnh mẽ rằng Việt Nam không thể nào phát triển mối liên hệ quân sự với Hoa Kỳ trong khi cố gắng giải quyết những tồn đọng giữa Việt Nam và Trung Quốc đặc biệt trên những hồ sơ nghiêm trọng về biên giới và chủ quyền hai nước đang tranh chấp trong vùng Biển Đông, đặc biệt là quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa nơi có những trữ lượng dầu hỏa được xem là quan trọng.” Khi nghe chúng tôi có những thắc mắc có liên quan đến vấn đề Trung Quốc hồi gần đây đă nổ súng vào tàu đánh cá Việt Nam gây cho 1 ngư dân chết và hai người khác bị thương, liệu việc này có liên quan ǵ đến vụ chiếc tàu USS Peleliu hay không, giáo sư Thayer trả lời: “Việc đầu tiên tôi muốn nói là theo những nguồn tin chính thức liên quan đến sự việc này tôi có một dấu hỏi rất lớn là tại sao chính quyền Việt Nam không chính thức phổ biến tin này trên truyền thông, báo chí v́ những công dân Việt Nam bị xâm hại bằng những vũ khí tối tân trong khi họ không có phương tiện tự bảo vệ trong vụ này. Việt Nam cần một giải thích từ phía Trung Quốc và những ngư dân Việt Nam phải được phép cho báo chí biết sự thật về việc họ bị tàu Trung Quốc tấn công. Có lẽ cuộc họp khẩn cấp giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc hồi gần đây là để bàn về việc này. Tuy nhiên trong những hiểu biết của tôi th́ những chuyện như vậy là không thể chấp nhận được. Trung Quốc đă có nhiều tháng kể từ ngày vụ việc xảy ra và thời gian đă quá đủ để họ điều tra làm sáng tỏ ai là người có trách nhệim trực tiếp trong vụ này, nhất là xử dụng hải quân ngoài khơi Biển Đông để tấn công ngư dân Việt Nam.” Khi chúng tôi hỏi làm cách nào để hai phía Việt Nam và Trung Quốc có thể tránh được những xung khắc khó giải quyết này giáo sư Thayer cho biết ư kiến của ông như sau: “Trong vấn đề vịnh Bắc Bộ, Việt Nam và Trung Quốc nên bạch hóa những tranh chấp và đặt lên bàn thương thuyết những hành động và thái độ hiểu biết, và đây cũng là thời điểm để làm dịu bớt những căng thẳng và hai nước thay v́ dùng những vũ lực để đối chọi. Đây cũng là lúc Trung Quốc cần phải giải thích tại sao hải quân của họ lại sử dụng những vũ khí chết người để đối phó với ngư dân Việt Nam không có khả năng tự vệ.” Trong thời đại thông tin như vũ băo hiện nay, khó thể tưởng tượng được rằng những vấn đề hệ trọng quốc gia lại có thể ém nhẹm để giải quyết trong bóng tối. Vụ chiếc tàu Peleliu và ngư dân Việt bị Trung Quốc giết hại đang chờ đợi một sự bạch hóa như lời Giáo Sư Thayer vừa nói. Việc công khai tin tức luôn là giải pháp có lợi cho bang giao quốc tế nhất là trong vị thế nước nhỏ như Việt Nam hiện nay. * Tiếng Việt
Posted: 8/2/2007 8:21:06 AM
Ảnh hưởng của giá cả hàng hoá leo thang đến đời sống người dân 2007.08.02 Đỗ Hiếu, phóng viên đài RFA Báo chí trong nước đưa tin nói là giá cả hàng tiêu dùng leo thang vùn vụt, trong khi thu nhập của giới lao động không nhích lên bao nhiêu, nên dân chúng ở Việt Nam choáng váng, chóng mặt. Ngoài ra giá sữa cũng tiếp tục tăng mạnh khiến giới tiêu dùng càng nghiến răng và đau đầu hơn, với gánh nặng đè nặng trên vai. * Bấm vào đây để nghe bài này * Tải xuống để nghe AFP PHOTO Trước t́nh h́nh lương thực, thực phẩm, hàng hóa, dịch vụ đắt đỏ hơn nhiều nơi quê nhà, kể từ đầu năm đến nay, Ban Việt Ngữ chúng tôi hỏi chuyện giáo sư Nguyễn Phúc Liên, tiến sĩ kinh tế tài chánh và được ông cho biết ư kiến về sự việc này. Đỗ Hiếu: Thưa Tiến Sĩ, theo báo chí từ Việt Nam th́ giá cả leo thang khiến người dân chóng mặt, và cũng cho biết thêm là giá tiêu dùng tăng hơn 6% từ đầu năm đến giờ, riêng tháng 7 tăng cao nhất 0,94% so với tháng 6. Theo ư Tiến Sĩ th́ nhà nước Việt Nam có cách nào chặn đứng sự gia tăng liên tục này không ? Tiến Sĩ Nguyễn Phúc Liên: Cái sự tăng giá này mà đau khổ nhất là đa số quần chúng, v́ đây thuộc loại hàng như yếu phẩm, đồ ăn, mà tiếp tục tăng giá, khó có cách nào mà chặn đứng được, nhà nước làm thế nào để chặn đứng những con buôn tự ư tăng giá, và biết đâu đây là chuyện tăng theo mùa, mà giá sữa là căn bản, là đồ ăn nhất là cho giới trẻ, cho người già yếu, mà lên giá nữa th́ thật là khó ḷng lắm. Nếu nhà nước can thiệp vào để định giá, gọi là giá trần nhà (plafond), th́ cũng không được. Đỗ Hiếu: Giáo sư có thể giải thích rơ hơn là v́ sao nhà nước không can thiệp được vào chuyện tăng giá hàng hóa ? Tiến Sĩ Nguyễn Phúc Liên: Bởi v́ ở một nền kinh tế mà có can thiệp của nhà nước vào là phải có sự kiểm soát thị trường, v́ dể xảy ra nạn đầu cơ, khi mà Yeltsin (tổng thống Boris Yeltsin của Nga) hồi c̣n theo chính sách cũ, tăng giá, nên người ta xếp hàng đi mua mà không có đủ hàng hóa, th́ Yeltsin đă cho lệnh hoàn toàn tháo khoán giá cả, nhà nước không can thiệp nửa, lúc bấy giờ g