Rực Rỡ Cánh Hoa Xuân

 

                                                           Hồi tưởng của Duy Năng (về Thày Vinh)

 

            Thi sĩ tài danh lăo thành đă quá cố, Quách Tấn, có viết hai câu thơ gợi lên một h́nh tượng mà tôi rất tâm đắc. Đó là hai câu:

 

                                                “Hoa là Thơ của Đất,

                                                Thơ là Hoa của Đời”

 

            Theo tôi, Hoa và Thơ đều đem lại cho con người, cho thế nhân một cuộc sống êm đềm và hạnh phúc. Và trong những ư nghĩa ấy, những ai đă có những cống hiến vĩ đại, tha nhân và vô vị lợi, nhằm đem hạnh phúc cho con người, cho cuộc sống, tôi cho đó là những cánh hoa rực rỡ sắc hương, rất xứng đáng để được chiêm ngưỡng, tôn vinh. Trong những Rực Rỡ Cánh Hoa Xuân ấy, một cánh hoa rất đặc thù Việt Nam, mà tôi được biết và xin kể lại sau đây, như một món quà Tết cho ngày xuân, trong niềm vinh dự và kiêu hănh chung về người Việt Nam.

            Có những lúc trong cuộc sống thường nhật, ta bắt gặp t́nh cờ, bất ngờ một sự việc nào đó, nhưng đă để lại trong tâm hồn ta một ấn tượng thật sâu xa, lâu dài, và tôi đă có được trường hợp đó cách đây trên bốn mươi lăm năm. Đó là năm 1955 khi tôi đang học lớp Đệ Tứ tại Trường Trung Học Vơ Tánh Nha Trang.

            Sân trước của Trường dài và hẹp, nhưng sân sau là cả một khu đất cát khá rộng. Chính nơi cái sân sau ấy, vào một buổi sáng đầy nắng ban mai ấm áp, trong khi đang nhẩn nha đi dạo phía sau trường giờ ra chơi, th́ t́nh cờ nh́n vào cửa sổ lớp Đệ Tam, tôi thấy một vị giáo sư đang đều đặn qua lại trên bục gỗ, vừa giảng vừa viết lên chiếc bảng đen dài lúc đó đă một phần dày đặc những hàng chữ và số. Qua cửa sổ kính đang đóng kín của lớp, tôi thấy cử chỉ dáng điệu của vị giáo sư đang biểu lộ một sự để hết tâm trí và sự say mê vào môn dạy, và các anh chị lớp Đệ Tam kia cũng tuồng như đang bị cuốn hút theo những lập luận, lư giải của vị thầy đang chứng minh về một định lư nào đó của h́nh học hay giải một phương tŕnh nào đó của môn Đại số mà tôi không thấy rơ được.

            Hồi đó, tôi đă "bập bẹ" viết văn, làm thơ, đă "tự cho ḿnh" mê  thơ văn hơn là các thứ số học, h́nh học hay đại số, dầu vậy tôi cũng không phải là không gạo môn toán, không phải là không đến nhà anh bạn cùng lớp Phạm văn Long nằm trên đường Trần quư Cáp bất cứ lúc nào rảnh để cả hai cùng thách đố nhau học thuộc làu làu và chứng minh khúc chiết mấy cái định lư về h́nh học không gian, cũng như chứng minh rành mạch bất cứ bài toán nào trong hai cuốn toán của Réunion de Professeurs và của giáo sư  C. Lebossé.

            Cho nên khi nh́n những hàng chữ và con số với vị giáo sư vừa giảng vừa viết thoăn thoắt lên chiếc bảng đen dài nơi lớp đệ tam đang học, tôi cảm thấy nể phục không cùng. Nhưng điều gây cho tôi một ấn tượng, đó là h́nh ảnh vị thầy đang giảng lúc ấy, h́nh ảnh không như bất cứ một vị giáo sư nào mà tôi gặp hằng ngày tại trường Vơ Tánh, với sơ mi tay dài, cổ thắt cà vạt, hoặc với đủ lệ bộ veston, hoặc ở nữ giáo sư th́ áo dài thướt tha, nghiêm chỉnh.

            Vị thầy đang giảng bài mà tôi chợt thấy đây là một quân nhân. Tôi thấy rơ thầy mặc bộ quần áo Kaki màu vàng, trên hai vai có mang hai cái épaulettes đen, lấp láy hai hoa mai vàng, và phù hiệu Không Quân nơi ngực. Tôi thấy chiếc mũ casquette màu xanh da trời của Thầy đặt trên một góc bàn, cạnh cuốn sổ kiểm danh và cho điểm các môn học hằng ngày.

           Khi giờ ra chơi chấm dứt, tôi trở về lại lớp học với h́nh ảnh của vị giáo sư rất mới, rất lạ này. Tuy chỉ nh́n thấy trong chốc lát, nhưng tôi cũng nhận ra được, Thầy có khuôn mặt hơi khắc khổ, với dáng người tầm thước. . .  Tôi tự hỏi, chắc vị sĩ quan này phải giỏi như thế nào, hay nói một cách khác, là phải đă tốt nghiệp đại học, th́ mới được mời dạy môn toán ở các lớp đệ nhị cấp của trường.

           Nếu sự việc ta bắt gặp bất ngờ gây cho ta một ấn tượng sâu xa trong đời sống, th́ đó đă là điều tôi ghi nhớ trong đời. Nhưng riêng với tôi, việc bắt gặp sự việc vừa nói chẳng những đă gây cho tôi một ấn tượng lúc ấy mà thôi, mà ấn tượng ấy càng về sau đó, và cả cho đến măi giờ đây, cứ lớn dần lên trong tâm hồn tôi qua tháng ngày, tưởng chừng như có được cái cơ duyên để khởi sự từ cái h́nh ảnh lúc đầu ấy mà biết dần ra được một người Thầy rất đáng trân trọng, một người Thầy cũ của trường Trung HoÏc Vơ Tánh Nha Trang lúc trường chỉ mới vừa nên dáng nên h́nh từ đầu thập niên năm mươi.

          Vị Thầy ấy chưa dạy tôi một giờ nào. Nói một cách khác, tôi chưa có may mắn được ngồi nghe Thầy giảng một lần nào trong lớp học, nhưng có điều chắc chắn rằng trong danh sách giáo sư nam nữ cuả Trường trong những năm đầu tiên ấy không thể không có tên thầy, những năm mà nam nữ học sinh cùng học chung với nhau trong cùng một lớp, và do đó mà về sau, khi đă rời trường, bôn ba trong cuộc sống, có cơ hội biết được tài năng của Thầy, tài năng được thi thố cho lợi ích chung của con người, tôi vẫn tự hào để nhủ rằng, Thầy đă đến dạy tại trường Vơ Tánh Nha Trang, và tôi đă là học sinh của trường trong suốt sáu năm (1)

           Thầy chưa bao giờ dạy tôi, nhưng tôi lại viết về Thầy, v́ ấn tượng về Thầy in đậm trong kư ức tôi chẳng những từ cái giây phút tôi nhẩn nha trong giờ ra chơi và bất chợt nh́n vào khung cửa sổ kính đóng kín của lớp đệ tam kia, mà c̣n bao ấn tượng khác về Thầy đă đến trong đời tôi sau đó.

          Điều ngạc nhiên của cậu học sinh đệ tứ nơi tôi về Thầy, một giáo sư dạy Toán, mặc quân phục của quân chủng Không Quân, đă một ngày kia không c̣n ǵ là ngạc nhiên nữa, khi qua báo chí mà biết được, Thầy là thí sinh duy nhất được miễn sát hạch phần vấn đáp sau khi đă đậu phần thi viết, để được nhận vào học trường Sĩ Quan Không Quân Salon de Provence của Pháp. Lư do, bài thi viết, ngoài khả năng viết Pháp văn rất trôi chảy, hàn lâm, c̣n bộc lộ một trí thức về toán học vượt trên sự b́nh thường. Đây là một ngoại lệ hiếm có mà Bộ Quốc Pḥng Pháp - ở thời điểm 1950, 1951 là thời điểm mà quân đội viễn chinh Pháp đang có toàn quyền quân sự trên đất nước Việt Nam- đă dành cho một thí sinh quân nhân Việt Nam.

            Tại trường Sĩ Quan Không Quân Salon de Provence, năm 1953 Thầy đă tốt nghiệp Kỹ sư Hàng Không và năm sau đó tốt nghiệp Sĩ Quan Phi Công. Chính với học vị ấy mà khi trở về nước, được bổ nhiệm phục vụ tại căn cứ Không Quân Nha Trang, Thầy đă được mời dạy môn toán tại trung học Vơ Tánh.

            H́nh ảnh độc đáo của vị thầy này đến với tôi, in đậm trong kư ức tôi, theo tôi đi vào cuộc sống. . . ra đời.

            Cũng như Thầy, và bao nhiêu thanh niên khác, tiếng gọi của sông núi đă đưa tôi vào binh nghiệp. Nói cho chí t́nh, tôi chọn vào trường Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt chỉ v́ lúc đó, Bộ Quốc Pḥng đang cho quảng bá một chương tŕnh đào tạo sĩ quan hiện dịch đầy hấp dẫn cho tương lai. Đó là từ khóa 14 của tôi, trường sẽ đào tạo một thanh niên thành thiếu úy hiện dịch trong bốn năm, và khi tốt nghiệp sẽ đồng thời cấp một văn bằng tương đương với cử nhân khoa học.

            Tôi vào trường đầu năm 1957, qua năm sau nhân về tham dự cuộc diễn hành của toàn quân vào ngày 26 tháng 10, đứng trong hàng ngũ sinh viên sĩ quan trường Vơ Bị trên đại lộ Thống Nhất, tôi nghe từng lúc từng lời của xướng ngôn viên buổi đại lễ giới thiệu các quan khách và đơn vị trưởng các đại đơn vị đến tham dự, trong đó có tên Thầy, với cương vị lúc ấy là Tư Lệnh Không Quân Việt Nam Cộng Ḥa. Bên cạnh tôi, anh Trần quang Mẫn, một bạn đồng khóa, bỗng nói khẽ với tôi:

-         Thầy dạy toán của tớ đấy!

-         Ở đâu?

-         Th́ vẫn đang dạy ở Chu văn An chứ ở đâu nữa!

Tôi đă mỉm cười, muốn nói rằng Thầy đă dạy ở Vơ Tánh Nha Trang của tôi từ mấy năm trước đây, nhưng nghĩ sao tôi lại thôi không nói ra ư nghĩ của ḿnh. Tuy vậy, niềm hănh diện về Thầy lại được anh bạn cùng lớp chia xẻ tiếp:

-         Bọn ḿnh mười chín, hai mươi tuổi đầu, vẫn đang c̣n đeo con cá (2) trên vai. C̣n ông ấy mới 28 tuổi mà đă ba mai bạc với uy quyền của một Tư Lệnh Không Quân.

            Cuối năm 1959, chiến sự đă manh nha bộc phát nhiều nơi. Cộng Sản Bắc Việt bị thất bại trong mưu đồ dùng Tổng Tuyển Cử tháng 7 năm 1956 theo như đă ghi trong hiệp định Genève để chiếm đoạt luôn miền Nam đang mỗi ngày một ổn định phồn vinh dưới sự lănh đạo của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, đă tổ chức đánh phá nhiều nơi theo kiểu du kích. Do đó, khóa 14 chúng tôi được Bộ Quốc Pḥng quyết định cho ra trường vào cuối năm thứ ba, thay v́ học 4 năm theo như kế hoạch lúc đầu.

            Trường Vơ Bị Đà Lạt được thanh niên sinh viên nhập học mỗi ngày một đông, mà quân chủng Không Quân cũng đă lôi cuốn không ít lớp tuổi hai mươi vào đầu quân. Đó là lư do dễ hiểu và dễ thấy, v́ cuốn sách của Thầy, "Đời Phi Công", một tác phẩm vừa lăng mạn, vừa hào hùng, xuất bản năm 1960, và đoạt ngay giải văn chương toàn quốc trong năm 1961, một tác phẩm hiếm hoi trong kho tàng văn học nghệ thuật Việt Nam, được tái bản đến năm lần, đă như một thứ thông điệp gợi lên trong tâm hồn người đọc thuộc giới thanh niên, sinh viên, học sinh những viễn mơ về bầu trời khoáng đạt, mênh mông, về một giấc mộng sống trên tầm cao qua đôi cánh phi cơ để lướt gió tung mây.

            Hồi đó, tôi đă có đọc cuốn Vol de Nuit, loại Livres de poche, của Antoine de Saint-Exupéry, đă biết chia xẻ cảm giác hào hùng mà cũng đầy cô đơn của người phi công lẻ loi trong ḷng phi cơ trên những chuyến bay dài, trong những phi tŕnh khai phá, thử nghiệm trên những tuyến đường qua núi non hiểm trở c̣n rất xa lạ chưa được định vị trên bản đồ phi hành, vào giai đoạn mà phi cụ c̣n rất thô sơ. . . Nhưng đọc Đời Phi Công của Thầy, tôi thấy sao mà gần gũi với gió nội mây ngàn, với bầu trời cảnh vật Việt Nam qua khung cửa phi cơ, dù là phi cơ chiến đấu, và bởi từ ḷng những phi cơ chiến đấu ấy mà bừng bừng niềm kiêu hănh được góp phần bảo vệ bầu trời tổ quốc thân yêu.

            Người thầy dạy toán, người quân nhân đang thời chiến, cũng lại là một nhà văn mà tác phẩm đầu tay đă làm nên sự nghiệp. . . văn học.

            V́ vậy mà ấn tượng có được về Thầy càng như một dấu tích trong kư ức của tôi. Khu vườn kư ức ấy đă đậm đà màu sắc, vào một năm nào đó tôi không nhớ kỹ, nhưng tôi lại nhớ rất rơ là đă đọc trong tạp chí Thời Nay một bài của Thầy ghi lại những xúc cảm khi được mời đến giảng dạy tại đại học Berkeley, một trong những đại học danh tiếng của Hoa Kỳ, nằm về phía Bắc tiểu bang California (3).

            Được mời dạy tại đại học này là một ước mơ và vinh dự của bất cứ một giáo sư nào, là kết quả của bao công tŕnh nghiên cứu về khoa học mà vị giáo sư đó đă đóng góp với giá trị được thế giới khoa học gia công nhận và xiển dương.

            Phần tôi, về sau này khi được đến định cư tại Hoa Kỳ sau cuộc khổ nạn mười năm trong ngục tù Cộng sản từ vận nước nổi trôi vào tháng tư năm 1975, tôi mới có cơ hội biết nhiều hơn về người thầy, mà 40 năm trước đó, chỉ là h́nh ảnh giản dị khi đứng giảng toán trên bục lớp Trường Trung HoÏc Vơ Tánh Nha Trang. . . .

            Hóa ra từ khi rời chức vụ Tư Lệnh Không Quân v́ những nhu cầu chính trị của thời cuộc quốc nội lúc bấy giờ, Thầy đă được Không Quân Hoa Kỳ cấp học bổng đến học tại trường đại học Colorado.

            Qua tin tức dồi dào trên báo chí, trên truyền thanh, truyền h́nh, cũng như từ vài người bạn cũ Không Quân thân t́nh từ trước năm 75 đă qua Mỹ trước, tôi đă có được một chân dung thấu đáo về người thầy đă có lúc vào dạy ở Vơ Tánh cách đây gần nửa thế kỷ.

            Thật ra, nói cho chính xác hơn, là lúc hơn một năm sau ngày đến Mỹ, vào khoảng tháng 6 năm 1991, tôi có việc đi San Francisco, nhân đó ghé vào một hiệu sách th́ thấy được cuốn Theo Ánh Tinh Cầu với tên tác giả là Thầy, tôi thật mừng. Bao nhiêu năm đă trôi qua kể từ lúc đọc Đời Phi Công của Thầy lúc c̣n ở Việt Nam, nay gặp lại tác giả với một thứ văn phong mà ḿnh hằng mê say, vậy là tôi mua ngay.

            Sau khi đọc xong Theo Ánh Tinh Cầu, tôi thấy so với Đời Phi Công, suy tư của Thầy giờ đây bộc lộ rơ ràng hơn, những viễn mơ đầy gần gũi, thực tế và nhất là những viễn mơ, tâm nguyện đó, về văn hóa, về khoa học, đều hướng đến cho tiền đồ đất nước Việt Nam. Qua Theo Ánh Tinh Cầu mà tôi thấy ra được con đường khoa học mà Thầy đă và đang theo đuổi.

             Tính đến nay là đă 38 năm, Thầy xa quê hương, nhưng chính nhờ ở sự rời khỏi đất nước từ đầu thập niên 60 đó mà đất nước không thể không tự hào về Thầy. Chính nhờ ở sự xa quê hương đó, tiếp xúc thêm được với cuộc sống khắp nơi trên hoàn vũ, và với tấm ḷng trọn vẹn cho quê hương, luôn luôn nghĩ đến một tương lai rạng rỡ cho quê hương, mà Thầy đă minh định hẳn cho ḿnh con đường kinh sử phải theo.

             “Từ thuở mái đầu xanh, tôi đă sớm biết rằng, rồi đây cuộc đời sẽ nặng về văn nghiệp. . . nhưng . . .những ngày ly hương, được tiếp xúc với văn minh của xứ người, nh́n thấy sự chậm tiến của nước ḿnh giữa trào lưu khoa học của thế kỷ, tôi sẽ biết rằng đường đời rồi đây tôi sẽ đi theo sẽ không như trong giấc mộng ban đầu.... Với đà tiến triển của văn minh, khoa học của nhân loại ngày một tiến, tôi có bổn phận phải đóng góp. . . Học những điều hay lạ t́m ra bởi những người đi trước, lúc ra tiếp xúc với cuộc đời, bắt tay vào nghề nghiệp, nhân danh là một nhà khoa học tôi có bổn phận rút ruột tầm để trả nợ tơ. . .” (4).

            Những gẫm suy và tâm nguyện ấy đă được kiên tŕ thực hiện. Miệt mài trong hơn 20 năm, kể từ lúc được trúng tuyển vào Trường Sĩ Quan Không Quân Salon de Provence, Thầy đă tiến dần vào thế giới khoa học từng bước một.

            Vừa học để lấy bằng Kỹ Sư Hàng Không, bằng Sĩ Quan Phi Công, Thầy vừa thi để lấy bằng Cao học về H́nh học mà chương tŕnh học gồm có H́nh học Vi phân và Phép tính biến thiên áp dụng vào H́nh học. Đó là văn bằng quan trọng v́ đó là điều kiện bắt buộc cho những ai muốn thi lấy bằng Thạc sĩ hay Tiến Sĩ Quốc gia Toán học về sau.

            Và rồi sau 10 năm gián đoạn khoa cử v́ khoác chiến y để phụng sự Tổ Quốc, và cũng nhờ đó mà có được những tháng ngày là giáo sư dạy môn toán tại trường Trung học Vơ Tánh Nha Trang, Thầy lại có cơ hội du học Hoa Kỳ như tôi vừa ghi trên.

            Sau ba năm tại Đại Học Colorado, Thầy là người đầu tiên được cấp bằng Tiến sĩ Khoa Học Không Gian của trường này, và rồi được mời làm giáo sư dạy tại đây. Năm 1968, Thầy được mời về dạy môn Khoa Học Không gian tại trường Đại học Michigan cho đến năm 1972 th́ được thăng cấp giáo sư thực thụ là ngạch cuối cùng của giáo sư Đại học Mỹ (5). Cũng trong năm 1972, Thầy tŕnh luận án về phương tŕnh vi phân và được cấp bằng Tiến sĩ Quốc Gia Toán học, đại học Paris, Pháp.

            Cho đến nay, khi tôi có được một chân dung tổng thể về Thầy, tôi thấy ra được biết bao là đóng góp cho thế giới khoa học mà Thầy đă góp phần vào, như tâm nguyện mà Thầy đă ghi lại vào một buổi chiều hè Chicago, khi ngồi bên bờ hồ Michigan…

            Đóng góp cho khoa học đành rằng là suốt đời, là vô tận, v́ khoa học tiến triển không ngừng qua những đóng góp đó, nhưng những đóng góp của Thầy theo tôi t́m hiểu và biết được, thật quả là vô cùng lớn lao, phát sinh từ một ư chí kiên tŕ, một thôi thúc tự đáy ḷng muốn làm rạng danh cho đất nước xứ sở.

            Nếu nói như Pascal: "le génie n ùest qu ùune longue patience" th́ có thể thấy ra nơi Thầy một điển h́nh.

            "Với  gần 100 bài khảo cứu về Khoa Học Không gian và Quỹ Đạo tối ưu "( 5), với "nhiều tác phẩm về giáo dục toán học cao cấp , mà hai trong số đó nổi tiếng trong giới Khoa học Thế giới là Hypersonic and Planetary Entry Flight Mechanics (viết chung với 2 giáo sư Adolf Busemann và Robert D. Culp mà Thầy là trưởng nhóm), và Optimal Trajectories in Atmospheric Flight. Cuốn trên là công tŕnh nghiên cứu dài 10 năm, bảo trợ bởi cơ quan NASA, cơ quan USAF ở những đại học Colorado và Michigan, là một sách giáo khoa tuyệt hảo của thời đại Space Shuttle. Cuốn sau là một tập hợp lư thuyết lẫn áp dụng liên quan đến quỹ đạo tối ưu của các vật thể bay trong khí quyển" (6).

            Ngoài ra, trong bản tin tháng 11/92 của Cambridge University Press ở Anh quốc, có ghi danh mục 5 cuốn sách đă xuất bản, trong đó có một cuốn của Thầy với tựa đề:"Flight Mechanics of High-Performance Aircraft ", một cuốn sách về lư thuyết bay của các phi cơ siêu thanh đă được ông André Turcat, phi công bay thử số một của Pháp, người đă điều chỉnh loại phi cơ Concorde, viết lời giới thiệu với ḷng cảm phục.

            Đó là mấy tác phẩm về Hàng Không và Không Gian của Thầy mà tôi có dữ kiện thông tin để biết được.

            Viết đến đây tôi chợt nhớ lại hồi trước năm 1975, có lần tôi và người anh cô cậu ruột, Trung tá Không Quân Nguyễn quang Toại là một trong những sĩ quan phi hành đầu tiên của Không Quân Việt Nam, đến t́m mấy tài liệu đang cần tại cơ quan USIS ở Sài G̣n. Lúc bấy giờ, sự kiện phi hành gia Hoa Kỳ Neil Armstrong đổ bộ lên mặt trăng vẫn đang c̣n là câu chuyện thời sự  Khoa Học nóng hổi, và dĩ nhiên là hai anh em tôi không thể không bàn luận đến điều ấy. Nhân đó mà anh tôi nhắc đến Thầy với lời thán phục: "Về mấy cái đường bay của phi thuyền lên mặt trăng, kể cả lên mấy hành tinh khác, đều có sự tính toán của ông ấy góp phần vào."

            Hồi đó tôi chưa h́nh dung ra được "sự tính toán của Thầy góp phần vào" là như thế nào.

            Đến khi đọc được những thông tin về thành tích khảo cứu của Thầy, nhất là những sách Thầy đă ấn hành như ghi trên, th́ tôi mới thấu hiểu.

            Qua 30 năm giảng dạy, là giáo sư thực thụ tại đại học Michigan Hoa Kỳ, giáo sư thỉnh giảng tại Sup Aéro Pháp quốc, Thầy đă trực tiếp phần đào tạo trên 1000 kỹ sư Hàng không và Không gian, đă 30 lần làm giáo sư đỡ đầu và cũng là giám khảo cho 30 sinh viên của nhiều quốc gia khác nhau tŕnh luận án lấy bằng Tiến Sĩ (7).

            Chẳng hạn như hồi tháng 10 năm 1997, Viện Đại Học Bách Khoa Quốc Gia ở Toulouse của Pháp đă mời Thầy sung vào Ban Giám khảo gồm 7 vị, trong đó có cả Tiến sĩ S. Bensoussan Chủ Tịch Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Không gian của Pháp (Centre National d’Études Spatiales- được viết tắt là CNES) một cơ quan như NASA của Hoa Kỳ, để chấm luận án Tiến sĩ của bà Sophie Geffroy (8).

             Hoặc như Thầy được mời để chấm luận án Tiến sĩ của các Đại Học  Princeton ở Hoa Kỳ, McGill ở Gia Nă Đai, và Viện Khoa Học ở Aán Độ (Indian Institute of  Sciences, Bangalore) (9) .

             Hồi tưởng về Thầy, tôi thật cảm thấy bồi hồi pha lẫn niềm tự hào khi tự hỏi c̣n ǵ vinh dự hơn cho Việt Nam khi có một người Việt Nam như thầy, cùng với những chân tài đích thực khác về những phương diện khác, đă bằng tài năng trí tuệ của ḿnh mà làm cho thế giới thêm phần trân trọng về đất nước Việt Nam.

             Không trân trọng sao được khi thấy ra, nơi Viện Hàn Lâm Quốc Gia Hàng Không và Không Gian Pháp quốc gồm 90 hội viên mà 60 hội viên dành cho người Pháp, c̣n lại 30 chỗ dành cho những nhân tài ngoại quốc, th́ trong 30 hội viên này có 4 là người Mỹ, trong đó có Neil Amstrong là phi hành gia đầu tiên đă đặt bước chân xuống nguyệt cầu, được bầu vào trước nhất, người thứ nh́ là Frank Borman, người chỉ huy Apollo 9, phi thuyền trở người lần đầu tiên bay ṿng quanh mặt trăng, Thầy là người thứ ba (là người Á Châu đầu tiên, mà cũng là người Việt Nam duy nhất) và người thứ tư là giáo sư René H. Miller của Trường Đại học M.I.T.

             Cũng phải cần nói thêm là khi Thầy được bầu vào Hội Viên năm 1984 th́ Hàn Lâm Viện này chỉ mới có được 48 Viện sĩ người Pháp và 15 Viện sĩ ngoại quốc, chưa đủ con số giới hạn theo điều quy của Viện.

             Không trân trọng sao được khi thấy ra tên Thầy cũng lại có trong danh sách Hội Viên Thông tấn (1984) rồi là Hội Viên Thực Thụ (1986) của Hàn Lâm Viện Không gian Quốc tế.

            Không trân trọng sao được khi thấy ra, trong Ban chủ biên tờ Nguyệt san Acta Astronautica, tiếng nói chính thức của Viện Hàn Lâm Khoa Học Không gian, gồm những khoa học gia lẫy lừng về học vấn và thành tích đảm nhiệm, có cả tên Thầy với cương vị được đề cử là Phụ Tá Chủ Bút trong suốt khoảng 20 năm vừa qua.

            Không trân trọng sao được khi thấy ra, trong những hội nghị Hàng Không và Không Gian quốc tế, hay Hoa Kỳ, được tổ chức hằng năm, luôn luôn có thầy được mời đến tham dự để tŕnh bày tham luận. Gần đây nhất vào tháng 3 năm 1999, khi biết tôi có ư định viết một bài có tựa đề là "Một Ngày Như Mọi Ngày" để nói về những hoạt động không mệt mỏi, không ngừng nghỉ của Thầy dù mới từ Michigan di chuyển về cư trú ở California để chuẩn bị cho giai đoạn nghỉ hưu, Thầy có cho tôi hay là tháng 8 thầy sẽ đến dự Hội Nghị hàng năm của Hoa Kỳ về Khoa Học Không Gian tại thành phố Girdwood, tiểu bang Alaska. Tại đây, Thầy sẽ tŕnh bày một tham luận nói về “Sự dùng bầu khí quyển của hành tinh để bắt vệ tinh nhân tạo vào quỹ đạo”.

            Không trân trọng sao được khi thấy ra, những bài khảo cứu về hàng không và không gian của Thầy được đăng tải- sau khi đă xin phép Thầy- trên các tạp chí Khoa học đầy tính chất hàn lâm tại nhiều quốc gia ngoài Hoa Kỳ, kể cả tại Trung Quốc và Liên Xô.

            Tại Hoa Kỳ, ở những trường đại học danh tiếng, những giải thưởng đích thực và truyền thống chỉ để trao tặng cho những ai có tài năng và thực sự đem tài năng ấy làm nên lợi ích cho con người, trong lănh vực chuyên môn đặc thù của ḿnh. Trong ư nghĩ ấy, Viện Kỹ Thuật của Trường Đại học Michigan đă làm một chuyện hiếm có trong lịch sử của Trường là trao tặng Thầy giải Xuất Sắc về Giáo Dục (Excellence in Teaching Award) vào năm 1984, và năm 1990 lại trao tặng Thầy giải Xuất Sắc về Khảo Cứu (Excellence in Research Award).

Cũng vậy, Giải Thưởng "Mechanics and Control of Flight Award" của Viện Hàng Không và Không gian Hoa Kỳ (American Institute of Aeronautics and Astronautics) được lập nên để trao tặng cho những ai có công tŕnh xuất chúng vừa tạo được (10) về phương diện Cơ Khí Hướng Dẫn hay Kiểm Soát phi hành trong không gian hoặc trong bầu khí quyển (Presented for an outstanding RECENT Technical or Scientific contribution by an individual in the mechanics, guidance, or control of flight in space OR the atmosphere). Vậy mà, khi Giải Thưởng này được trao tặng cho Thầy vào đầu tháng 8 năm 1994 th́ lại ghi rơ công tŕnh của Thầy cả về trong bầu Khí quyển và cả trong Không gian (. . .For outstanding contributions to the mathematical theory of  optimal control, applied to the flight mechanics of aerospace vehicles in the atmosphere AND in space).

            Có chế độ không biết trọng dụng nhân tài v́ những đảo điên của chính trị, những áp đặt của thời cuộc, nhưng chế độ ở đâu và bao giờ cũng chỉ nhất thời, c̣n Tổ quốc th́ bất biến, bất diệt, cho nên Thầy đă luôn luôn nâng cao danh dự Tổ Quốc trên hoàn vũ. Cuộc sống có lúc bạc bẽo nhưng luôn luôn bị ch́m lấp trong gịng sông lịch sử của đất nước đă hơn bốn ngàn năm, lúc nào cũng tỏa rạng, lấp lánh những hào khí, vinh quang, trong tâm hồn Thầy.

            Tôi chẳng ngại ngùng ǵ mà nói rằng tôi thật hănh diện về một người Thầy như Thầy đă từng có thời gian dạy tại ngôi trường mà tôi đă trải qua sáu năm thời Trung học, và xúc động biết bao khi biết rằng tất cả những công tŕnh của Thầy đă được phổ biến, từ những bài khảo cứu đến những tác phẩm dày cộm mà tên tác giả là Thầy đă được ghi rơ hoàn toàn Việt Nam. Họ tên và chữ lót phải được in đúng là điều kiện bắt buộc mà Thầy đ̣i hỏi khi các tạp chí xin phép để đăng lại những bài khảo cứu của Thầy, kể cả khi dịch sang tiếng Nga (11)

            Chẳng hạn như bài khảo cứu của Thầy nói về cách dùng bầu khí quyển trợ lực để thay đổi quỹ đạo có thể áp dụng cho những phi thuyền bay quanh địa cầu, hay Hỏa Tinh và Kim Tinh hợp soạn với hai cựu sinh viên Jennie R. Johannesen và Kenneth D. Mease, nay đều đă là Tiến sĩ, đăng trong "Journal of Guidance, Control and Dynamics“ của American Institute of Aeronautics and Astronautics, đă được Cơ quan Không gian Liên Sô dịch sang Nga ngữ và đăng trong báo Kỹ Thuật Không gian của họ, đă hoàn toàn giữ đúng họ tên của Thầy .

            Chẳng hạn như đầu đề của một tài liệu khảo cứu của một giáo sư Toán học ở Đài Loan, đă dùng tên thầy để đặt cho một phương tŕnh, được gọi là phương tŕnh Nguyễn.

            Nào ai buộc Thầy làm như vậy, nhưng tôi nghĩ rằng không thể là ǵ khác hơn là do từ cội nguồn của tấm ḷng yêu thương Tổ quốc và Dân tộc, do từ những trằn trọc và băn khoăn thấy hoàn cảnh đă đưa đẩy ḿnh không có cơ hội để phụng sự hữu hiệu cho đất nước, ngược lại phải sống xa đất nước bao là năm dài, mà Thầy đă hành xử như vậy. Trong những gịng bút kư, Thầy đă tỏ bày chút tâm sự: " Trong địa bàn khoa học, tôi được ưu ái và chú trọng. . . Tuy thấy các giáo sư gốc A’ Đông khác đă đệm thêm những chữ Steve, chữ John hay những chữ ngoại quốc vào tên họ cho dễ đọc, dễ gọi, nhưng tôi vẫn kư tên Nguyễn rất khó đọc của ḿnh, dưới những bài khảo cứu đăng trên các báo quốc gia hoặc quốc tế. Tôi đề rơ ràng họ Nguyễn để ai đọc cũng biết tác giả là người Việt Nam" (12).

            Tôi nghĩ không có ǵ có ư nghĩa tinh thần sâu xa hơn đối với Tổ quốc của ḿnh qua việc làm ấy.

            Thầy đă như một nhân vật khoa học của quốc tế, thường xuyên và trực tiếp  sinh hoạt giữa môi trường cuộc sống Mỹ Âu, nhưng vẫn luôn luôn t́m về, bơi lội cuộc sống riêng tư của ḿnh trong gịng sông cội nguồn Việt Nam.

            Xa quê hương một quăng thời gian dài, khi đến đợt sóng luân lạc của đồng bào cuồn cuộn dâng tràn từ sau tháng Tư bảy lăm, Thầy đă có được đồng bào sinh sống khắp nơi, và Thầy đă sống trọn vẹn với đồng bào ở bất cứ nơi nào có cơ hội. Thầy đến với đồng bào của ḿnh với tâm nguyện đem sở học đă có để phổ biến, truyền đạt, hướng dẫn, cho dù đó là một tổ chức hội đoàn, một nhóm thân hữu, hay có khi chỉ là một cá nhân.

            Về việc Thầy đă đem sở học để giúp ích cộng đồng, phục vụ nhân loại, tôi có đọc được một bài viết của Thiện Nhân Nguyễn Khánh Do ghi lại một số Tiến sĩ Toán học ở thế hệ trước, cùng thời, và sau Thầy, và nhận xét rằng: "Bỏ qua một số nhỏ theo Việt Cộng hoặc c̣n ở lại trong nước, tập thể những toán học gia Việt Nam ở quốc ngoại trong 15 năm qua (13), chẳng thấy ai được cộng đồng tỵ nạn biết đến, ngoại trừ  Thầy" (14).

           Tôi có một người bạn là anh Lư văn Thành, học trên tôi một lớp tại Trung học Vơ Tánh Nha Trang, năm 1983 định cư tại Seattle, tiểu bang Washington. Mùa hè năm đó, anh viết xong cuốn "The Inviting Call of Wandering Souls" (Tiếng Gọi của Oan Hồn), vừa lúc Thầy cũng đang có mặt công tác tại đây liên quan đến một dự án khoa học. Anh đă t́m đến gặp Thầy, đưa cho Thầy tập bản thảo này để nhờ Thầy cho ư kiến, và Thầy đă vui vẻ nhận lời ngay. Một tháng sau, Thầy đă gửi lại cho anh tập bản thảo, ghi rơ ràng không những Thầy đă đọc kỹ mà c̣n chuyển cho các giáo sư Tiến sĩ đồng nghiệp cùng đọc, và tất cả đều đồng ư rằng, tác phẩm của anh đầy tính cách chân thực về thảm trạng của đất nước (15). Sách của anh Thành nay đă được nhà xuất bản McFarland & Company, Inc in ra, và ở những trang đầu của sách cũng có mấy lời giới thiệu của Thầy.

            Thầy nhận được bản thảo một tập chép tay một tập thơ của người bạn cũ Thái văn Châu, con trai nữ sĩ Tương Phố, gửi tặng, khi ông này vừa đến định cư tại Mỹ, và Thầy đă không quản ngại bận rộn trong công vụ hằng ngày, vẫn dành tâm trí t́m một cơ sở văn hóa giúp người bạn cao niên in tập thơ mà Thầy đánh giá là rất hay.

            Thầy đă đến dự họp với một số thân hữu văn nghệ ở thành phố Seattle.

            Thầy đến với Hội Phụ Huynh Học Sinh vùng Hoa Thịnh Đốn để có dịp nói về: "Giới trẻ Việt Nam bước vào Thế Kỷ 21".

            Thầy đến Dallas để nói chuyện trong dịp tổ chức gây quỹ cho Hội Không quân địa phương.

            Thầy đến tham dự và nói chuyện với cựu học sinh Chu văn An tại Nam California nhân ngày hội hàng năm của cựu học sinh Trường này.

            Thầy đến St Louis, Missouri để nói chuyện với thanh thiếu niên ở đây nhân buổi tổ chức thành lập học bổng cho các học sinh hiếu học.

            Thầy đến Dallas để nói về " Sĩ khí của tiền nhân qua thi văn" với Hội Cao Niên.

            Thầy đến với một hội đoàn ở San Jose, Bắc California, trong " Bữa Cơm Thân Aùi" tổ chức vào dịp lễ Giáng Sinh, không ngại ngùng ǵ mà không khoác cả khăn choàng ngực và đội mũ đầu bếp để cùng nhau tự tay dọn những mâm thức ăn đến "mỗi thực khách vô gia cư".

            Thầy đến tham dự và tŕnh bày một tham luận với Hiệp Hội Chuyên Gia Việt Nam tại Ontario .

            Tiến sĩ Lucy Nguyen, Giám Đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Liên Hiệp Á Châu, và sinh viên Tiến sĩ Nguyễn Quốc Văn, Chủ Tich Hiệp Hội Sinh viên Việt Nam, đă cùng kư chung một lá thư gửi đến Thầy với những lời cám ơn trang trọng khi Thầy đến nói chuyện tại buổi lễ Tốt nghiệp tại Đại học Massachusetts:". . . Your participation in this very special event was greatly appreciated ... Your address to the Vietnamese community and your speech at the United Asia learning Resource Center were inspiring and left an encouraging impression on our young graduates. The students no doubt understood your important message on the exploration of their inner space." (16)

            Cũng như lúc Thầy đến nói chuyện ở Ngày Kỷ Niệm Tiến sĩ Martin Luther  King Jr. với đề tài " Space is Open to All People" nhân tuần lễ đa văn hóa tại đại học Michigan-Flint, để sau đó Tiến sĩ Benjamin  G. Dennis Phụ tá Viện trưởng về chương tŕnh nghiên cứu dành cho người thiểu số, đă gủi đến Thầy những lời trọng vọng nồng nhiệt " .... Those who attend the program did appreciate it and were extremely impressed. We received many pleasant comments referring to your presentation. . . We will also keep you in mind for future activities and events concerning equality and democracy . . . thanks again for your time and  efforts for diversity. . ." (17)

            Đấy, cứ vậy không những Thầy đến với đồng bào của ḿnh mà c̣n đến với những sắc tộc khác nữa, không mệt mỏi, có khi th́ tự thu xếp cá nhân cho việc chuyển dịch, và thường th́ nhân vào cơ hội đi công vụ để dành dịp nghỉ cuối tuần sinh hoạt với người đồng hương, nhất là với giới trẻ.

            Tôi không theo dơi nhưng cứ gặp tin tức về Thầy qua báo chí, và qua bạn hữu gần xa, mà cũng có khi do chính Thầy tường thuật lại như một sự cảm ơn gởi đến cho tất cả mọi người đă cổ vũ cho việc làm đầy tính cách văn hóa giáo dục của Thầy. Như trong một lá thư ghi ngày 10 tháng 6, 1992, Thầy đă viết: " Tôi viết thư này để đáp tạ sự lưu tâm của quư thân hữu đến tương lai của giới trẻ Việt Nam mà thường xuyên khuyến khích tôi tiếp xúc với các thanh niên, sinh viên, và chuyên gia trẻ của gịng giống Lạc Hồng để chuyển tới các em ḷng kỳ vọng của các vị phụ mẫu và huynh trưởng. . . . Từ mười năm qua tôi có dịp nói chuyện ở hầu hết các đô thị có đông người Việt. . . . Đôi khi có những dịp tuy là việc công của đại học nhưng nguồn gốc xuất phát lại do ở Khối người thiểu số hay Á Châu th́ bao giờ tôi cũng hoàn lại danh bổng (honorarium) nếu nhận được. Ngày 8 và 9 tháng 5, 1992 tôi được đại học Massachusetts mời nói chuyện về đề tài tinh thần " Exploration of Inner Space" cho sinh viên Á châu măn khóa. Sau khi trừ ít chi phí và tiền thuế nộp cho chính phủ Liên Bang và Tiểu Bang, tôi đă dùng danh bổng đại học Mass gửi tặng để tặng lại 200 đô cho Hội đoàn các bạn cựu quân nhân vừa tới định cư ở Springfield Mass, 200 đô cho quỹ xây chùa của Hội Phật giáo vùng Detroit và Phụ cận, 100 đô cho American Citizens for Justice. . .” ( 18 )

            Chỗ tôi làm hiện nay là một cơ sở Liên Bang, bao gồm nhiều chi nhánh văn pḥng của các cơ quan công quyền lẫn tư nhân. Ở đây, hằng năm đều có tổ chức kỷ niệm những tháng sinh hoạt đặc biệt, chẳng hạn tháng 5 là tháng để vinh danh sự đóng góp của các dân tộc Á Châu- Thái B́nh Dương, trong đó có Việt Nam.

            Có mấy ai trong chúng ta biết được rằng, Thầy là người đă hoạt động tích cực với khối dân Á Châu khác để trực tiếp góp phần vận động thành công để Tổng Thống kư ban hành quyết định cho tổ chức tháng 5 ghi trên. Ngày mồng 7 tháng 5 năm 1990, Thầy đă được mời đến Ṭa Bạch Ốc để dự lễ khánh thành này.

           Thầy cũng đă vận động để Trường Đại Học Michigan là nơi mà Thầy đang giảng dạy với tư cách giáo sư thực thụ về Khoa học Không gian mở thêm môn Việt Ngữ, như là một ngôn ngữ được cấp chứng chỉ đại học như các ngoại ngữ khác. Sự vận động kiên tŕ của Thầy được sự hỗ trợ của Hội Sinh viên Việt Nam, Phân khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Á Châu, Trung tâm nghiên cứu Nam và Đông Nam Á Châu và trường Thương Măi, đă mang kết quả hằng mong ước: Từ khóa mùa Thu năm 1992 Trường đă cho thực hiện điều này và đă thu hút được ngay 20 sinh viên cả Việt lẫn Mỹ theo học. Đến nay đă là năm thứ 7 áp dụng chương tŕnh này mà số sinh viên theo học để lấy tín chỉ Việt ngữ càng ngày càng đông, gồm cả sinh viên Mỹ và sinh viên các quốc gia khác đang học tại đại học Michigan.

            Tôi không thể nào quên được sự việc này v́ qua đó mà tôi có được một kỷ niệm thật sâu xa. Đó là lúc tôi nhận được lá thư của Thầy gửi chung đến các vị tôn trưởng và thân hữu văn hóa có nội dung báo tin mừng về thành quả ghi trên sau những góp sức vận động, tôi thật bồi hồi và cảm thấy hănh diện khi h́nh dung đến ngôn ngữ của đất nước ḿnh đă được giảng dạy và cấp tín chỉ Việt ngữ cho sinh viên theo học như một ngoại ngữ khác trên thế giới. Càng hănh diện hơn khi biết được rằng, "các nước Á châu khác, như Nhật Bản, đă tặng đại học Michigan những ngân khoản hằng triệu mỹ kim để tiếng nước họ được giảng dạy ở đây." (19)

            Niềm cảm kích và hănh diện ấy đă cho tôi một cảm hứng nhiệt nồng để viết một bài gửi đăng trên các báo ở California với tựa đề "Như Nắng Ấm Mùa Xuân" trong thiện chí tiếp tay với Thầy về một chương tŕnh dạy và cấp tín chỉ Việt ngữ cho sinh viên trong các trường đại học tại Hoa Kỳ, nói chung.

            Nói cho chí t́nh, tôi mong ước chương tŕnh này cũng được thực hiện tại tiểu bang California, nơi có sinh viên Việt Nam học tại các đại học rất đông.

            Hiển nhiên là Thầy đă đọc bài báo của tôi, nhưng tôi không hề nghĩ rằng Thầy đă giữ bài báo ấy như một tài liệu lưu trữ mà tôi mới biết được vào 8 năm sau.

            Đó là hồi tháng Giêng năm ngoái, 1999, trong buổi ra mắt tập thơ "Dặm Ngh́n"  của tôi tại Trung Tâm Sinh Hoạt Văn Hóa ở thành phố San Jose, Thầy đă nhiệt t́nh đến dự để phát biểu mấy ư kiến , theo lời mời của tôi và ban tổ chức.

            Theo lời phát biểu, trước hơn hai trăm khách tham dự- mà tôi hiểu rằng một phần từ cảm t́nh dành cho tôi, nhưng phần khác là đă đến để được biết thêm về Thầy, một nhà văn, một Khoa học gia nổi tiếng - Thầy đă nhắc lại bài báo này, bảo rằng Thầy đă lưu giữ và cầm theo đây, và xiễn dương chút hoạt động của tôi là hoạt động của một nhà văn hóa. Thầy c̣n nói rằng trong 4 trang Thầy đă ghi xuống giấy để phát biểu ư kiến hôm nay th́ chỉ có 1 trang mở đề là do Thầy viết, c̣n 3 trang c̣n lại là ghi chép lại những lời tâm tư của tôi đă viết trong những bài của tôi đăng trên báo mà Thầy đă đọc, và nghĩ cũng là tâm tư của Thầy.

            Lời của Thầy thật sự làm cho tôi cảm thấy xấu hổ, v́ nghĩ đến việc làm của ḿnh, kể cả thơ văn đă sáng tác, dù đă liên tục từ trong ngoài 40 năm qua, cũng đâu có ǵ là đáng kể. Bao giờ tôi cũng thấy ra việc ḿnh làm là rất ít ỏi, nhỏ nhoi, so với những công tŕnh dù lớn dù nhỏ, của bao người khác, về mọi lănh vực.

            Tôi kể lại chút kỷ niệm ấy để muốn nói đến đức tính giản dị và khiêm tốn, tinh thần tự trọng và tôn trọng người khác, cùng ḷng tự tin và tin cậy lẫn nhau, nhất là sự trung thực, là điều thường gặp nơi những nhà Khoa học chân chính nói chung, và ở Thầy, nói riêng.

            Tôi nghĩ, ḷng khiêm tốn không cho phép ḿnh tự tôn, tự coi ḿnh cao hơn người khác, ngược lại, luôn luôn biết quư trọng công tŕnh của người khác, dù công tŕnh đó chỉ là…. một câu thơ hay. Ḷng khiêm tốn giúp ḿnh thấy ra được mỗi người đều có ưu điểm riêng và ḿnh không thể không có thiếu sót, và từ đó mà cầu học không ngừng. Riêng về tinh thần tự tin là để không bao giờ bị lệ thuộc, và để không vướng bận mặc cảm tự ti. Trân trọng thành quả của người khác sẽ chẳng những không làm giảm giá trị tài năng của ḿnh mà c̣n là ngược lại.

            Trong khi đến tham dự buổi tổ chức ra mắt thi phẩm của tôi, cũng như những lần đến tham dự các sinh hoạt văn học nghệ thuật khác mà tôi cũng được mời, tôi thường bắt gặp Thầy, và có lúc cả hiền nội, chỉ ngồi ở đâu đó nơi hàng ghế bên cánh trái, phải, chứ ít khi ngồi vào hàng ghế đầu ở giữa, dù có được Ban Tổ Chức mời. Sự giản dị không làm cho Thầy thấy cần thiết phải tạo cho ḿnh sự nổi bật.

           Thầy thường trích dẫn các tư tưởng hay đẹp đă được viết thành lời, hoặc câu thơ câu văn đắc ư, để dùng trong các bài viết của ḿnh, và luôn luôn Thầy ghi chú tên tác giả rơ ràng, dù tác giả là Lư Thương Aån, là Alphonse Daudet hay Tương Phố, là Bằng Phong, Cung Trầm Tưởng, Nhất Tuấn hay Nguyễn Lập Đông v... v ...

            Có lần, phu quân của chị Ngọc Đàn một cựu nữ sinh Trung học Vơ Tánh Nha Trang, là nha sĩ nhà văn Trần sĩ Lâm, chủ biên tạp chí văn học Hương Văn  mà tôi có cộng tác, gửi thư nhờ tôi mời thêm cho vài cây bút thân hữu của tôi viết bài cho Hương Văn. Lựa chọn trong số những người quen biết, tôi gửi thư mời đến 5 vị đang cư trú ở Bắc Cali, đă là những cây bút có tiếng trên thi văn đàn ở miền Nam trước năm 75 và hiện nay vẫn đang hoạt động văn học nghệ thuật, trong đó có Thầy.

            Sau đó tôi đọc trên Hương Văn  đều thấy có bài của các vị này đóng góp. Tuy nhiên, riêng chỉ có Thầy là sau khi nhận được thư mời của tôi, đă có thư hồi âm lại, ghi rơ chẳng những nhận lời mời của tôi mà c̣n phác họa là sẽ đóng góp ngay cho tạp chí Hương Văn bài viết ǵ.

            Tôi tưởng không có ǵ tế nhị, quư trọng người khác hơn là thái độ hành xử đầy khiêm tốn đó.

            Là một nhà khoa học thời danh, đến nay đă hơn nửa đời người trổ lộc nẩy cành đơm hoa kết trái từ giữa ḷng cuộc sống văn minh Aâu Mỹ, nhưng cây đời của Thầy vẫn vươn dáng vẻ Việt Nam, nói riêng, Đông Phương nói chung.

           Tôi chắc rằng, ở một lần nào đó, trước gần 500 người trong giảng đường trường Đại học George Mason ở vùng Hoa Thịnh Đốn, hay ở những nơi khác, từ San Diego đến Montréal, từ Miami đến Seattle, khi Thầy nói với giới trẻ rằng: " ...  thành công không nằm ở việc đỗ đạt có bằng cấp cao, có địa vị lớn trong xă hội, mà c̣n ở chỗ có một tấm ḷng, một tâm hồn đẹp biết làm tṛn đầy cho hướng đi hay mục tiêu của ḿnh" và nhắc nhở cổ vơ mọi người "đừng bao giờ quên bản sắc của ḿnh là người Việt " th́ không ai nghi ngờ rằng Thầy chỉ nói lư thuyết suông, v́ đó là thực tiễn kinh nghiệm nơi chính Thầy.

            Có ǵ đáng tin cậy hơn là nói và làm đă luôn luôn đi đôi với nhau qua h́nh ảnh những người con trong gia đ́nh Thầy- dù được sinh ra, lớn lên và hấp thụ từ bước đầu cho đến lúc thành danh trọn vẹn một nền học vấn  của Mỹ- vẫn đă rất Việt Nam mà "Thưa bố, vâng", "thưa mẹ, vâng" mỗi khi được bố mẹ sai bảo, dặn ḍ, nhắc nhở điều ǵ, chứ không phải chỉ là chữ "yes" đơn thuần hay "yes, mom", dù rằng đó không có ǵ là khô khan, thiếu lễ độ trong cách sống, trong tập tục văn hóa Hoa Kỳ. Khuôn phép gia đ́nh ấy không chỉ được dạy bảo cho những người con c̣n đang sống chung trong gia đ́nh, mà c̣n được truyền đạt cho người con lớn đă có gia thất đang làm việc tại Thư viện Trường đại học Yale. Cũng theo gướng Thầy do được Thầy hướng dẫn, người con lớn này vừa làm công tác Khoa học (nhân văn) vừa không quên hoạt động văn hóa với sự đóng góp vào nền văn học Hoa Kỳ một tác phẩm đầu tay, cuốn " Cleanth Brooks and Allen Tate, Collected Letters, 1933- 1976 " do University of Missouri Press ấn hành, đă được chọn là một trong 12 cuốn sách khảo cứu văn học đặc sắc trong năm 1988.

            C̣n ǵ có ư nghĩa hơn trong tinh thần của người Việt Nam sống có đạo lư, biết tôn sư trọng đạo. Tôi đă gặp đâu đó bàng bạc cái tinh thần văn hóa tốt đẹp trong những bài viết của Thầy mà tôi có cơ hội đă đọc được.

            Đó là khi Thầy nhắc lại lời của văn hào Voltaire được trích dẫn để in thay lời đề tựa trên một cuốn sách nói về quỹ đạo không gian của một người bạn, trong khi Thầy đang nghiền ngẫm để viết những lời đề tựa cho một tác phẩm của Thầy nói về "quỹ đạo thu hồi một cách an toàn những phi thuyền không gian", hay khi Thầy dẫn chứng một lời phát biểu của Bác sĩ Trần Quang Đệ, giáo sư thạc sĩ y khoa, lời phát biểu nói lên niềm băn khoăn của một người trí thức tự thấy ḿnh măi măi vẫn c̣n chưa phụng sự đầy đủ cho đất nước, quê hương. Hoặc khi nhắc đến tiến sĩ Busemann người Đức, Hội Viên Hàn Lâm Viện Không Gian Quốc Tế, Hội Viên Hàn Lâm Viện Kỹ Thuật Hoa Kỳ, "người được mệnh danh là cha đẻ của loại phi cơ siêu thanh cánh xuôi", lúc nhà khoa học này qua đời ở tuổi 85, v...v... , nhất nhất Thầy đều bày tỏ một thái độ trân trọng ngưỡng kính qua những lời ghi lại thấm đậm chân t́nh của một kẻ hậu sinh, bàng bạc một tinh thần đề cao đạo lư Việt Nam mà tác dụng là làm cho ḿnh bỗng phải nh́n lại cách sống của ḿnh.

            Có lần trong khi nói chuyện nhân một dịp đến thăm Thầy, Thầy kể lại câu chuyện giáo sư Nguyễn Dức Hiếu 86 tuổi với râu tóc bạc phơ đă chào hỏi giáo sư Nguyễn Khắc Kham 94 tuổi vốn là thầy học cũ bằng lời gọi thầy và xưng con với sự sung sướng và hănh diện lộ rơ trên nét mặt, khiến cho Thầy, và các cựu học sinh Chu văn An đang đứng quanh đó, trong Ngày Hội Họp Mặt hằng năm, đều cảm phục và xúc động. Thầy cho rằng đó là thái độ tôn sư trọng đạo rất văn hóa dân tộc, rất nền nếp Việt Nam.

            Tôi nghĩ có phương pháp cách thức ǵ đầy phương pháp sư phạm hơn nơi một nhà giáo dục như Thầy khi cổ vơ cho việc bảo tồn truyền thống đạo đức Đông Phương, việc ǵn giữ bản sắc Việt Nam, bằng cách kể lại trong bài viết của Thầy, trong những lần nói chuyện ở nơi này nơi kia của Thầy, không khí đầy trang nghiêm lễ giáo trong những giảng đường Đại học Pháp, nơi mà Thầy được mời đến để giảng dạy nhiều lần về môn Hàng Không và Khoa Học Không gian. Tại những nơi đó, với một nước Pháp văn minh tân tiến nhưng luôn luôn ǵn giữ những giá trị văn hóa cổ truyền, một sinh viên dù ở lứa tuổi nào, đang là địa vị ǵ trong xă hội, th́ khi được nêu câu hỏi hay phát biểu ư kiến ǵ đều luôn luôn mở đầu bằng lời lễ độ trang trọng " Monsieur le Professeur."

            Để kết thúc bài này, một bài hồi tưởng chỉ có tính cách chấm phá về một người Thầy đă dạy một thời gian ở trường Trung Học Vơ Tánh Nha Trang, tôi ghi lại thêm ở đây chút suy diễn của riêng tôi liên quan đến Thầy cách đây vài năm. Đó là lần tôi nhận được lá thư đầu tiên của Thầy gửi cho tôi sau khi may mắn có được mối giao t́nh với nhau từ sinh hoạt văn học nghệ thuật. Nh́n địa chỉ cư trú của Thầy ghi trên thư ở thành phố Ann Arbor, Michigan, có con đường Anderson hay Andersen mà tôi không xác định được, v́ không nhận biết được chữ o hay chữ e, nhưng tôi cứ nghĩ là chữ e, do ở chỗ chữ Andersen đă nằm từ lâu trong kư ức của tôi, bởi đó là tên một nhà Đan Mạch nổi tiếng về những tác phẩm nói về thế giới của trẻ thơ. Tôi nghĩ thế hệ của tôi, thời c̣n ở Trung học, không ai là không mê say Contes d'Andersen, mà câu truyện là La petite Fille aux Allumettes đối với riêng tôi, cho đến nay, vẫn chẳng thể nào quên được.

            Tôi nghĩ, thật là thú vị với Thầy khi cư trú nơi một con đường bàng bạc không khí văn chương như vậy.

           Tuy nhiên, ở những lá thư về sau Thầy gửi cho tôi th́ tôi nhận rơ được ở trên địa chỉ, tên con đường là Anderson. Tôi ṭ ṃ tra cứu trong sách Bách Khoa Tự Điển để thử xem đây là tên của một danh nhân nào, th́ tôi thấy ra được có hai ông Anderson đáng lưu ư. Một là Carl David Anderson, một nhà Vật lư thời danh Hoa Kỳ, đă tốt nghiệp ở Viện Kỹ thuật California (California Institute of Technology), và năm 1939 trở thành Giáo sư thực thụ ở viện này. Năm 1932, tức là lúc mới 27 tuổi, ông đă t́m ra được điện tử dương (Positron, c̣n gọi là Positive Electron), một trong những thành phần căn bản của nguyên tử. Nhờ công tŕnh khảo cứu này mà ông đoạt được giải Nobel vật lư năm 1936, chung với Vật lư gia người Aùo, Victor Franz Hess. Hai là Maxwell Anderson, một kịch tác gia Hoa Kỳ, từng chiếm giải Pulitzer về bi kịch năm 1933, và được bầu vào Hội Viên Hàn Lâm Viện Mỹ Thuật và Văn Chương Hoa Kỳ năm 1955. ( 20 )

            Hai danh nhân này, một người thành danh về Khoa Học, một người thành danh về văn học, vậy nên tôi vẫn cảm thấy thích thú khi nghĩ rằng, cho dù là tên của vị nào được đặt tên con đường có căn nhà của Thầy đang cư trú lúc bấy giờ cũng đều có liên quan đến cuộc sống của Thầy. Thầy đă sống và hoạt động trong cả hai lănh vực Khoa Học và Văn hóa.

            Tôi nghĩ tên đường Anderson là tên của nhà viết kịch lừng danh kia, th́ tôi cũng h́nh dung ra được thế giới của ông là thế giới của thực tiễn đời sống đi đôi với viễn mộng ước mơ, thế giới của chắp cánh bay cao vào những trời mơ ước, vừa đích thực là nguyện vọng và cũng vừa đầy tưởng tượng lăng mạn. . .

            Thế giới của Thầy, người Thầy của những gịng hồi tưởng này, là thế giới của Khoa học mà cũng là thế giới của văn thơ. Vừa là một nhà khoa học thời danh mà cũng vừa là một nhà văn nổi tiếng, khi thực hiện các công tác khoa học th́ hẳn nhiên đầy tính chất hàn lâm, nhưng khi đem khoa học vào văn chương th́ tưởng chừng cả hai thế giới đă quyện vào với nhau, trở thành một thế giới vừa thực mà cũng vừa mộng, kỳ ảo và lăng mạn không kém ... Thật vậy, tôi chẳng dám vẽ vời chỉ v́ bị lôi cuốn vào một thế giới như vậy của Thầy mỗi khi được Thầy ghi xuống giấy bằng một thứ văn phong nói trên về bất cứ một trở trăn, suy ngẫm nào. Chẳng hạn như, một buổi chiều ngồi nh́n ra biển xa, mà Thầy lại viết :" Chương tŕnh học của tôi lúc ấy là chương tŕnh h́nh học vi phân và phép tính biến thiên, áp dụng vào h́nh học. Tới tŕnh độ này h́nh học không c̣n là một h́nh học thông thường, vẽ những đường thẳng, những ṿng tṛn, nh́n không gian theo ba chiều, mà là môn học những h́nh chỉ có trong trí tưởng tượng luôn luôn biến đổi theo không gian và thời gian. . .

            Những buổi chiều, ra ngồi nh́n đại dương, tuy xa khơi thấy mặt biển cong cong tiếp với chân trời, tôi biết được rằng nơi đây không phải là hữu hạn. Chân trời không có biên cương, cũng như tài người không có giới hạn. Trên bầu trời không phải là hư không mà triền miên xa thẳm c̣n có những bầu trời khác. Buổi chiều ấy đă đưa hồn tôi theo những sóng triều, bay lên những đám mây lạ, vượt ra ngoài không gian ..., cho tôi vượt qua được những định lư toán học căn bản, bó chặt trong những lề lối cổ điển để bước vào một con đường rộng răi hơn. Để mười lăm năm sau, trở thành một nhà khoa học, tôi biết đem những định lư toán học tân kỳ khai phương những bài toán không gian c̣n ẩn náu sau màn bí mật, để được vui mừng và hănh diện thấy tên một chàng Nguyễn của quê hương Việt Nam kư dưới những định đề siêu việt của những bài khảo cứu được tàng trữ ở khắp các thư viện kinh thành. . . " (21)

            Thế giới của Thầy và thế giới của Anderson đều có hấp lực lôi cuốn tôi, mà bởi đó, khi thấy tên con đường nơi địa chỉ cư ngụ của Thầy ghi trên những lá thư gửi cho tôi, tôi đă không ngại ngần mà suy diễn để đưa đến một kết luận rằng, kỳ thú thay là một sự kiện, không biết ngẫu nhiên hay có lựa chọn, mà tên của một nhà khoa học (hay tên của một kịch tác gia) tiền bối, lừng danh quốc tế, đă được làm sống lại hằng ngày trên những phong thư đi đến của một người hậu sinh đang là một trong những ngôi sao sáng trên ṿm trời Khoa học, một khoa học gia đă từ 30 năm qua được thế giới trọng vọng v́ những công tŕnh góp phần thăng tiến cho lợi ích của nhân loại, đó là Nhà Văn, Giáo Sư Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, một nhân tài Việt Nam đă được dành cho những danh vị cao quư như Học Giả, Nhà Giáo Dục, Nhà Khảo Cứu, Giáo Sư Vĩnh Viễn (Scholar, Educator, Researcher, Professor Emeritus) (22) ghi trong Bảng Công Trạng mà Trường Đại Học Michigan đă tuyên dương vào tháng Chạp năm 1998 khi Thầy rời Trường này vào lúc đến tuổi nghỉ hưu theo quy chế của Trường. (23)

                                                           Thư viện Đại học Hayward,

                                                                  28 tháng 2, 2000

                                                                   Duy Năng

* Ghi chú:

(1)   Đến năm 1956, trường Trung hoÏc Vơ Tánh Nha Trang vẫn chưa có lớp Đệ Nhất. Học sinh thi xong Tú Tài 1, muốn học tiếp th́ hoặc phải ra Huế, hoặc phải vào Sài G̣n.

(2)   Cấp hiệu Alpha của sinh viên sĩ quan Vơ Bị.

(3)   Theo nguyệt san McCall's muốn trở thành triệu phú th́ hăy theo học các đại học Harvard, Yale, Princeton, muốn trở thành Tổng thống th́ theo học các đại học Harvard, Southwest Texas State, Yale, Wespoint, muốn trở thành các khoa học gia lỗi lạc th́ theo học các đại học MIT, Cal Tech, và Berkeley. (Phỏng theo ư trong bài " Hè Berkeley" in trong Theo Ánh Tinh Cầu trang 22 của Toàn Phong Nguyễn xuân Vinh).

(4)   Trong " Thế rồi một buổi chiều", trang 11, sách đă dẫn.

(5)   Theo tài liệu của Vơ Ư.

(6)